PHẬT GIÁO VỚI VĂN MINH ÂU TÂY
André Migot - Tâm Trí dịch
LỜI GIỚI THIỆU
Bác sĩ MIGOT là một Phật tử người Âu rất uyên thâm về giáo lý Phật Đà. Theo học Phật giáo hơn mười năm ở Pháp, Tốt nghiệp trường Đại học Sorbonne về khoa Phật Pháp, Tốt nghiệp trường Louvre về khoa Phật giáo khảo cổ, Bác sĩ Migot trong năm 1938 -1939 đã đi xe đạp từ Paris (kinh đô Pháp) qua đến Calcutta (kinh đô Ấn độ) để thăm viếng đất Phật. Ông có ở Ceylan (đảo Tích Lan) và Miến Điện. Ông có qua thành Ba nại Xà (Bénarès) khảo cứu và tìm tòi thêm trong các kinh sách tiếng Phạn để bổ túc những kiến thức uyên thâm mà ông đã thọ lĩnh ở các Tàng cổ viện Âu châu.
Năm 1945 ông qua Đông Dương, được trường Bác Cổ Viễn Đông ủy nhiệm một công cán khảo cứu ở Cao Mên và Trung Hoa, ông ở Bắc Kinh một năm rưỡi, ở Tây Tạng một năm. Ở đây, ông đã được tiếp xúc với các vị Đại đức Trụ trì và đã được vị Giáo chủ làm phép nhập Đạo.
Trở về Đông Dương năm 1947, Bác sĩ Migot có diễn thuyết tại Saigon về các thuyết Đại Thừa và Tiểu Thừa. Cuộc diễn thuyết nầy do Hội Khảo cổ Đông Dương tổ chức, rất có giá trị.
Ông có viết giúp cho tạp chí Constellation, cho Văn tập của trường Viễn Đông Bác Cổ và các tạp chí Phật học ở Âu châu và Mỹ châu.
Bổ về làm chủ sự bệnh viện Djiring (tỉnh Đồng nai Thượng), Bác sĩ Migot ngoài công việc về chức nghiệp mà ai cũng biết ông là một Bác sĩ tận tụy, ông còn theo đuổi công việc vĩ đại hơn, mục đích giải thoát tinh thần nhân loại, tức là công việc Hoằng dương Phật pháp.
Đáp lời yêu cầu của một số Phật tử ở Đà Lạt, Bác sĩ đã tổ chức một buổi nói chuyện về đạo Phật tại rạp chiếu bóng Lang Biên trước nhiều nhà trí thức tai mắt địa phương. Cuộc nói chuyện của Bác sĩ gieo được nhiều ảnh hưởng sâu rộng trong các giới Phật tử mà sau đây các bạn sẽ được xem qua do bản dịch của đạo hữu Tâm Trí.
(Li gi thệệu ca Mựựn cho n ti bảnả t 3)ứứứứứ
PHẬT GIÁO VỚI VĂN MINH ÂU TÂY
(Hòa Hay Nghịch?)
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Trước hết tôi có đôi lời xin lỗi vì tôi là một người Âu mà dám nói về Phật giáo trước những Phật tử ở đất Á đông là nơi trung tâm của Phật giáo. Tuy vậy, trong các thính giả người Âu châu, có nhiều ông chỉ có quan niệm mập mờ hay lầm lạc về Phật giáo. Hơn nũa, lắm đệ tử của Phật không hiểu được sâu xa đạo Phật và chưa hề bao giờ nghĩ đến việc đem Phật Giáo so với văn hóa và đạo giáo phương Tây.
Phật giáo là một đạo giáo vĩ đại trong Thế giới Sử. Ảnh hưởng Phật giáo ở Viễn đông thật đáng kể, vì là một tôn giáo đã bao trùm trọn cả mấy khối dân tộc, từ Ấn đến Nhật, tỷ số một phần ba nhân loại. Phật giáo đã tạo ra Văn hóa, Nghệ thuật, Văn chương của Đông phương và ta có thể bảo rằng ở đây vai tuồng gieo hạt văn minh tiến hóa của Phật giáo cũng không khác nào Thiên Chúa giáo ở Tây phương. Vậy cần phải biết rõ hai khuynh hướng tinh thần ấy và một nền học thuật mà không gồm đủ cả hai khuynh hướng ấy là nền Học thuật còn khuyết điểm rất nhiều.
Ở đây ý định của tôi không phải là đem so sánh và cũng chẳng phải giải bày lý thuyết hay lịch sử của Phật giáo, việc ấy cần lắm thì giờ và sở vọng của tôi nhỏ nhoi hơn.
Tôi đã được hân hạnh sống nhiều năm nơi các xứ Phật, hoặc về phái Tiểu thừa như Tích Lan, Diêùn Điện, (Birmanie), Cao Mên; hoặc về phái Đại thừa như: Việt Nam, Trung Hoa, Tây Tạng, Mông Cổ với mục đích duy nhất là để hiểu biết học thuyết và cách hành đạo của Phật giáo ở các nơi ấy và tôi đã được giao thiệp thân ái với những vị Tăng già, sống chung với họ cảnh đời tu hành ở các Thiền Môn. Nay tôi muốn thử giải bày một vài quan điểm đại cương về Phật giáo hiện thời, với những nguyên tắc và ảnh huởng đối với loài người, tôi muốn chỉ những quan niệm về vũ trụ của Phật giáo khác nhau như thế nào với những quan niệm hiện thời bên phương Tây; tôi muốn so sánh hai phương pháp mà Phật giáo và Gia tô giáo đã giải quyết các vấn đề lớn lao của nhân sinh; sau cùng tôi muốn thử vạch rõ luật BÁC ÁI ẩn sau những màu mè nghi lễ, cái luật ấy mới thật là tinh thần linh hoạt sốt sắng của hai đạo giáo và đó mới là nghĩa cả của chân giá trị các giống người và các vị Thiên Thần.
* * *
Trước nhất tôi định nêu một điểm này mà hình như phần đông cho là thừa, nhưng có lẽ không đến nỗi vô ích:
Phật không phải là một nhân vật về thần thoại do trí óc tưởng tượng của người Đông phương đặt ra; Ngài là một Nhân vật hoàn toàn lịch sử đã sống ở Bắc Ấn độ vào thế kỷ thứ sáu trước Gia-tô kỷ nguyên và sự hiện hữu của Ngài quả có chắc chắn cũng như Giêsu hay Ma Hô Mê vậy.
Tất cả sách vở đều có ghi chép đời Ngài, tôi khỏi cần nhắc lại một lần nữa vô ích. Đó là một đời sống rất giản dị của bậc Hiền triết đi du thuyết nay đây mai đó. Cũng như đời sống của Jésus Christ.
Dù nguyên thủy hết sức khiêm nhượng nhưng hai học thuyết ấy đã bành trướng nẩy nở một cách nhiệm mầu, để trở thành hai tôn giáo lớn của nhân loại và chia nhau ảnh hưởng trên hoàn cầu.
Đời sống quá giản dị ấy không thể làm thỏa lòng thích muốn háo kỳ của người đời, nhất là của những dân tộc Đông phương. Cho nên không bao lâu, trong các truyền thoại, người ta áp dụng nó, tô điểm thêm những đoạn nhiệm mầu mà năm thế kỷ sau lại ta bắt gặp trong đời một vị chúa khác cũng ở Đông phương là chúa Giêsu.
Như vậy không có nghĩa là sự linh hiển trong truyền thoại của chúa Giêsu là mượn ở truyền thoại Phật, đó chỉ tỏ rằng mực tưởng tượng của con người ở đâu đâu cũng đều như nhau vậy.
Hãy lấy ví dụ sự bào thai nhiệm mầu và giờ đản sinh tịnh khiết của Chúa và Phật, để thấy rõ loài người không thể khứng nhận được rằng hai bực vừa cao siêu tinh khiết, vừa đáng tôn kính thiêng liêng như Phật và Chúa, mà lại bào thai và sinh nở như đám người phàm nhơn tục tử chúng ta.
Vả lại, nếu lịch sử là yếu tố dùng làm nguyên liệu cho Truyền sử, thì Truyền sử lại thường hay tô điểm một hình ảnh của chân lý đúng hơn là một tường thuật triệt để theo lý trí. Những tâm hồn mộ đạo, như ở Ấn độ công nhận có Trời Phật khi họ thấy trong đầu óc của dân chúng có dấu vết của ảnh hưởng Phật, cũng như sự thực hiện tường tận một hiện thân, cả hai đều là sự thật ngang nhau cả bởi vì tất cả sự thực đều là Phật, Trời.
Mặc dù Phật giáo đã trải qua một cuộc khuếch trương về thần thoại rất là phong phú và đặc biệt, nhưng nó vẫn căn cứ trên một vài quan điểm cốt yếu mà nguyên do rút cuộc lại, là một việc suy nghiệm của toàn thể nhân loại: đó là sự Thống khổ hiện hữu của loài người.
Tất cả đời sống của đức Phật, tất cả các tư tưởng thiền định của Ngài đều chú trọng vào nguyên nhân ấy.
Tất cả những lý thuyết của Ngài về lý thuyết nhân quả, về các luật Luân hồi, Vô thường, Vô ngã, đều chỉ có một lý do là: nhận định nguyên nhân Thống khổ và tìm phương pháp giải quyết vấn đề Thống khổ.
Không phải chỉ riêng những người Phật tử mới quan tâm đến vấn đề ấy. Nhiều kẻ không công nhận có đau khổ, nhiều kẻ khác cho rằng đau khổ là một việc không thể tránh được, không thể cứu được, đành phải nhẫn nhục mà chịu. Lại còn những kẻ khác như các tín đồ Thiên chúa giáo thì lại cho rằng đau khổ là thiêng liêng, có đau khổ mới có thể giảm bớt đắng cay ở đời. Tuy nhiên công trình ấy thật lắm nỗi khó khăn và ta cứ xem những nỗ lực của các nhàsiêu hình học để giải quyết những vấn đề rắc rối ấy thì đủ rõ. Tại sao một vị Chúa Trời nhân từ, công bằng, thần thế, lại có thể để cho những trẻ con ngây thơ phải đau khổ? Tại sao vị Chúa ấy để cho con người mang lấy tội lỗi mà cội rễ không biết do đâu? Tại sao một vị Chúa lại cứu khổ cho một số người mà ngài đã định trước, trong lúc ngài đày đọa vĩnh viễn nơi địa ngục những kẻ khác vì những tội lỗi cỏn con? Những lẽ đạo Thiên Chúa dạy ấy thật là vô lý đối với môn đồ Phật giáo. Họ không thể khứng chịu rằng một phần thì sung sướng hưởng hạnh phúc đời đời, còn phần kia lại khổ kiếp kiếp. Đối với Phật giáo, khi còn những kẻ đau khổ, khi tất cả chưa được giải thoát thì chưa có chân Hạnh phúc cho mỗi người nào.
Chỉ có đức Phật là đã nhìn thẳng vô kẻ thù: kẻ thù tức là vấn đề đau khổ, mà Ngài đã hy sinh trọn đời để tìm phương pháp giải thoát. Đau khổ, nguyên nhân của đau khổ, phương pháp cứu khổ, Ngài đều có giảng giải rõ ràng đẹp đẽ trong bài thuyết pháp đầu tiên ở Ba Nại Xà, nói về Tứ Diệu Đế , trung tâm điểm của học thuyết nhà Phật.
....
Cội rễ của đau khổ là do nơi ta. Đó là dục vọng, cội rễ của dục vọng, là mê muội, mê muội cho nên cuộc đời phù hư mà ta cho là thực tế.
Phải nhớ rằng quan niệm về sự đau khổ ấy không phải đặt trên phương diện cá nhân, vì đối với cá nhân vẫn có thể còn có mộtù hạnh phúc mong manh ngắn ngủi, nhưng phải đặt trên phương diện nhân loại. Nó không phải là đau khổ của một người nào, mà đau khổ của hết thảy. Nói đúng ra, đó là đau khổ của toàn thể vũ trụ.
Đối với người Đông phương, cái cớ làm cho tình thế ấy trầm trọng thêm lên, chính là những tin tưởng của họ về luật Luân hồi.
Cuộc đời của ta không phải là một thí nghiệm ngắn ngủi sẽ kết liễu ở trên Thiên đàng, mà nó là một chuỗi đời kế tiếp từ kiếp nầy qua kiếp khác: sinh rồi tử, tử rồi sinh, rồi đau khổ mãi mãi.
Vì thế nên người Đông phương lo lắng làm sao cho qua khỏi cái vòng Luân hồi nghiệp chướng để khỏi phải sinh, lão, tử, khỏi phải đau khổ, để được giải thoát ra ngoài vòng Nghiệp báo
Các ngài xem đó thì thấy rõ hai thái độ trái ngược khác nhau trước cuộc đời: Người Tây phương cho rằng đời là một ân huệ, mất nó tức là một nguy biến; người Đông phương lại cho rằng đời là một tai ách, thoát khỏi nó tức là Hạnh phúc.
Hai thái độ khác nhau đó, theo ý tôi, có một ảnh hưởng rất quan trọng; nó là nguyên nhân sự chán đời của người phương Đông, sự thích sống lặng lẽ tĩnh mịch, sự khinh rẻ hành vi vật chất và đó cũng là nguyên nhân thích hăng hái hoạt động của người Tây phương đối với tất cả những cứu cánh tai hại của nó là: tính háo thắng, óc chuyên chế chủ nghĩa duy vật, lòng ham muốn, chí chiến đấu xâm lăng…
Vì đã nhấn mạnh về sự "khổ đau loài người" nên đạo Phật thường bị coi như là một đạo yếm thế và người Đông phương như những người quá tin nơi định mạng.
Nhưng, thấu đáo những cái gì mà ta không thể chối cãi được, xác nhận trong thâm tâm cái xấu hiện tại, không phải để vì đó mà nản chí hay để dấu sự ti tiện ấy dưới những lý lẽ vu vơ, mà để chống lại nó, đâu phải bi quan? Có bao giờ ta cho là bi quan một lương y sau khi khám bệnh nhân và dù tìm thấy một bệnh nặng cũng rán kiếm mọi phương sách để chữa cho người bệnh? Cử chỉ ấy thấy rõ đượm một sự lạc quan vô cùng mạnh mẽ và tông chỉ Phật giáo đã chống lại sự chìu theo số mạng vậy.
Nếu có người tin nơi định mệnh thì người đó là một tín đồ Thiên chúa giáo đã cùng với thánh Augustin hay Luther, tin tưởng nơi tiền định: con người thoát hay không thoát khỏi trầm luân là do nơi Chúa định trước. Như vậy phấn đấu không ích gì, vì nếu không được Chúa thương xót và ban ân, chúng ta không thể làm điều phải mà tự cứu vớt lấy chúng ta. Thuyết nầy mới là thuyết "định mạng" và chúng ta lấy làm lạ khi nghe người đạo Gia tô trách tín đồ nhà Phật là hay tin sự tiền định.
Với một Phật tử, những nỗi khổ trong đời hiện tại của mình là kết quả của những hành động từ nhiều đời trước, mình chỉ có thể tự trách lấy mình chứ không thể cho các nỗi khổ là sự trừng phạt của đấng tối cao. Loài người đủ phương tiện để nâng cao số phận mình, định mệnh mình; hình thức của số phận anh là do anh uốn nắn nó.
Sống một cuộc đời thiện, không làm cho các vật phải đau khổ, cố gắng làm điều phải và giúp ích cho những kẻ sống chung quanh ta, ta có thể tạo một tương lai tốt đẹp cho tất cả mọi người.
Kiếp nầy đến kiếp khác, xu hướng về sự toàn thiện toàn mỹ, chúng ta có thể đi đến sự giải thoát và sự giác ngộ hoàn toàn. Không thể nói rằng người Phật tử tìm đến Niết bàn cũng như người Thiên chúa giáo tìm đến Thiên đàng vĩnh viễn, vì Phật tử muốn giải thoát cần phải tự nhờ vào sức mình chứ không bao giờ tin ở ân huệ đặc biệt của một vị Chúa.
Phật tử biết rằng chẳng có một lễ bái nào, chẳng một hy sinh nào, chẳng một nghi lễ nào có thể thay thế được hành vi cá nhân của mình. Họ không chờ đợi một vị Chúa nào cứu vớt họ và họ biết rằng những nỗ lực của họ sẽ tự nhiên được phần thưởng quý báu, chứ không phải có một tiền định nào của đấng Chúa nào sắp đặt trước được cuộc đời trần gian của họ. Trong giáo lý đạo Phật, có điểm đó là cao siêu lẫm liệt, tỏ rõ chân giá trị rộng lớn của loài người, một nguồn an ủy rất lạc quan.
Các ngài xem đó thì thấy rằng đức Phật đâu có phải như người Âu Tây tưởng tượng, là một vị thánh thần ủy mỵ, mơ màng, một người yếm thế, yếu hèn, chán nản, không ưa hoạt động. Cả một đời Ngài đã cải chính cái ý niệm sai lầm ấy: Ngài đã tranh đấu một cách quyết liệt để đạt được chính đạo. Ngài đã làm việc không ngừng nghỉ, chu du nơi nầy nơi nọ để chuyển Pháp luân, cho đến lúc kiệt sức Ngài đã gần tắt thở trên đường hóa độ, lúc đó Ngài đã 80 tuổi, sắp đến giờ nhập diệt, Ngài còn cố gắng thuyết pháp lần cuối cùng cho các Đệ tử. Ngài vẫn không thôi căn dặn các Tỷ khưu phải tranh đấu dũng cảm để tự giác, giác tha và người ta có thể nói rằng Phật giáo là một trường học của nỗ lực phấn đấu và can đảm tinh thần. Phật dạy các đệ tử rằng: "Chiến đấu, vâng, chúng ta đây là các người chiến đấu. Chúng ta chiến đấu cho Đạo lý cao siêu, cho nỗ lực vĩ đại, cho Tinh tấn tuyệt vời. Chúng ta chiến đấu là thế ấy!"
Phật dạy thế mà bảo Phật ủy mị mơ màng ư ?
* * *
Những điều tôi vừa giải bày như trên có thể khiến các ngài phân vân về tính cách đặc biệt của Phật giáo khác các tôn giáo khác ở nhiều điểm. Trước hết là Vấn đề Tin tưởng.
Trong các tôn giáo do gốc ở thánh kinh (La Bible) tạo ra như: Do Thái giáo, Gia Tô giáo, Ít Lâm giáo, cũng như trong Hồi Hồi giáo, uy quyền của Đạo là phải ở một vị Chúa có ghi truyền trong kinh, hoặc như kinh Bible, kinh Coran , kinh Vedas . Lời nói của Chúa tức là Chân lý triệt để. Đồ đệ không có quyền chối cãi, mặc dù các tư tưởng họ thấy trong Thánh kinh là không hợp với Lý trí hay Lịch sử. Đạo Thiên Chúa lại còn đi xa hơn nữa: muốn giành lấy cái đặc quyền được đại diện cho Chúa.
Trong đạo Phật không có như thế. Không những đức Phật chẳng bao giờ tự nhận Ngài là một vị Thiên thần hay một đấng Chúa Trời, mà Ngài là vị Giáo chủ đầu tiên đã căn cứ chân lý, không phải dựa trên nền tảng tín ngưỡng vào một đấng Chúa nào hay một Thánh kinh nào, mà là trên nền tảng Lý trí và kinh nghiệm. Trong Phật giáo, tín ngưỡng chỉ là sự tin cậy vào đấng Giáo chủ đầu tiên đã tìm được con đường giải thoát cho chúng sanh, Ngài đã chỉ cho chúng ta con đường đi, nhưng sự cố gắng giác ngộ theo con đường ấy là do ở sức của ta. Do ở ta thí nghiệm riêng phương pháp ấy để đến cùng kết quả ấy.
Ngài không độc đoán buộc ta phải theo một định lệ nào. Ngài không muốn ta phải mù quáng tin theo những lời Ngài dạy. Chúng ta cứ việc đem lời Ngài giáo huấn ra mà kinh nghiệm, mà suy nghĩ, rồi hãy tin tưởng sau. Mà một khi đã tin tưởng, sẽ tin tưởng hoàn toàn, tin tưởng vì đã "thực hiện" được chân lý. Quan niệm về tín ngưỡng ấy đã lôi cuốn vào Phật giáo một số đông người Tây phương, bởi những người nầy đã mệt mỏi với những giáo lý ràng buộc không hợp với lý trí và trải qua bao nhiêu thế kỷ đã mất hẳn lực lượng sinh tồn của nó.
Người ta đã biện luận rất nhiều về vấn đề Phật giáo là một triết học hay một tôn giáo. Đối với Đông phương nghi án ấy bất thành vấn đề.
Vì ở Tây phương triết lý là một ngành học thuật như những ngành học thuật khác mà thôi. Nhà triết học Tây phương cũng chỉ như một ông công chức, ông ấy nghiên cứu một học thuyết nào đó, cũng như người làm nghề thầy kiện nghiên cứu các hồ sơ, hay nghề bào chế sư nghiên cứu các vị thuốc và đời sống của ông cũng như những kẻ khác, các lý thuyết của ông không có ảnh hưởng gì đối với đời ông.
Ở Đông phương khác hẳn. Nhà triết học tức là một vị Giáo chủ sống vì giáo lý và các đồ đệ cũng sống theo giáo lý. Giáo lý ấy không phải chỉ là một học thuyết suông: nó có giá trị rõ ràng trong khi đem ra thực hành.
Như vậy, hỏi rằng Phật giáo là một triết lý, hay là một tôn giáo, thì có ích chi? Phật giáo là một con đường đi, con đường huyền vi chánh đáng, con đường đã đưa dắt đức Phật đến bậc Đại Giác, đó là một phương pháp thực hành, dùng nỗ lực của tâm trí để đạt đến sự giải thoát.
Thường có kẻ cho rằng Phật giáo không công nhận có Thượng đế. Bởi đức Phật không bao giờ trả lời các câu hỏi của đệ tử về nguyên nhân của vũ trụ, trạng thái của Thượng đế, bất diệt của Niết bàn.
Không trả lời, không phải Ngài không biết, vì trong lúc thiền định, Ngài hiểu thấu suốt hết mọi việc trong thời gian, không gian, nhưng Ngài cho rằng nghiên cứu các vấn đề ấy chẳng có ích chi cho sự giải thoát kiếp người, cho sự tự giác, giác tha.
Nói về các vị Thiên thần Ấn độ xưa, đức Phật thường dạy rằng các vị Thiên thần ấy đều là những bậc giác ngộ, nhưng cũng còn bị luật Nhân quả và Luân hồi chi phối.
Tại sao phải đòi hỏi một vị Chúa trời ở ngoài vũ trụ, vị Chúa ấy lấy gì mà tạo lập ra vũ trụ? Chúng ta không biết một tí gì về nguyên thỉ của trời đất; tìm kiếm cho lắm cũng vô ích mà thôi và không giúp ta đạt được mục đích: là hủy diệt sự đau khổ, giải thoát ra ngoài vòng đau khổ, giác ngộ để đến sự toàn thiện toàn mỹ của con người.
Thực ra, Phật giáo cũng không phải không có ý niệm huyền bí về vũ trụ. Trong kinh Tiểu thừa, đệ tử của Phật Sâriputta có thuyết cho các vị Tỷ khưu nghe:
"Hỡi các đệ tử, Phật dạy rằng: có một cái không sinh, không diệt, không lập, không thành, thì chắc đã không có cái sinh, cái diệt, cái lập, cái thành".
Do ý niệm về vũ trụ quan của Đại thừa. Nhất là trong phái Yogasara, các đệ tử đã nâng cao học thuyết về vũ trụ quan đến một trình độ tuyệt đối mà từ đó về sau không có học thuyết nào so sánh kịp.
Bên Tây phương người ta thường không hiểu biết trạng thái rất siêu việt huyền bí ấy của đạo Phật, là vì người ta chỉ nghiên cứu sơ sài đạo Phật trong các kinh Pâli mà thôi.
Lỗi ở người phương Tây muốn cải cách Phật giáo và cứ cho rằng chỉ có kinh Nam tông mới đúng là kinh Phật. Người Đông phương có trí óc bao quát rộng rãi hơn và không phân biệt Nam tông với Bắc tông. Phái Đại thừa vẫn coi kinh sử của Nam tông là đúng với tinh túy của Phật giáo. Chỉ có khác một chút là họ coi các kinh sử ấy là một cách phô diễn chặt chẽ của các môn đồ cố cựu.
Thực ra, những lời của Phật dạy không bao giờ quá khắt khe câu nệ, mà trái lại, Ngài hay dùng những tượng trưng đầy mầu sắc, bóng bẫy, thích hợp với lối cảm thông của các môn đồ Ấn độ.
Chính Phật cũng đã dạy rằng có những cái Ngài không nói, những cái ấy quan trọng hơn những cái Ngài đã nói. Thế rồi, mỗi người hiểu theo mỗi cách, tùy nơi tâm tính và ý tưởng riêng, các đệ tử của Phật phô diễn những điều Ngài không nói.
Hai chữ "Phật giáo" chỉ là một danh từ trừu tượng mà thôi. Về thực tế, Phật giáo có nhiều thuyết, mỗi Phật tử hiểu theo mỗi cách. Như ở Tích Lan, Cao Mên, Phật giáo không giống như ở Nhật Bản, ở Tây Tạng. Nó khác nhau tùy thủy thổ, tùy chủng tộc và tùy các nhu cầu tinh thần của mỗi xứù. Tất cả giá trị của Phật giáo, là đời sống linh hoạt của nó, là những thí nghiệm của mỗi phái môn đồ, những nỗ lực của họ để đi đến một quan niệm chung về vũ trụ quan mà cùng chung một giáo lý.
Bởi Phật giáo có thể thích hợp với tất cả chủng tộc như thế, nên nó đã lan rộng một cách bao quát khắp các nơi.
Thí dụ như đạo Hồi hồi chỉ là một tôn giáo riêng biệt; đạo Gia tô mặc dù muốn bao trùm cả thế giới, nhưng cũng có một thần sử riêng, giáo lý riêng, nghi lễ riêng có những thành phần Do thái và Hy lạp mà trí óc người Đông phương không thể hiểu được.
Duy có đạo Phật là mềm dẻo hơn, có thể thích hợp và áp dụng ở các Quốc gia khác nhau như Ấn Độ với Nhựt Bổn. Nó có thể làm thỏa mãn người Tây Tạng ưa ảo thuật huyễn hoặc cũng như người Âu Châu ưa phân tách về khoa học và vì thế mỗi ngày nó mỗi lan tràn qua Tây phương.
Đến ngày nay, nó vẫn còn sức sống mạnh mẽ bền bĩ cho đến nỗi các vị Linh mục của Gia tô giáo khó lòng mà cảm hóa một cách chắc chắn các dân tộc theo đạo Phật, mặc dù họ khéo léo tổ chức, họ hăng hái hơn và quả quyết hơn.
* * *
Lại còn một phương diện mà nhiều người hiểu lầm rất có hại là: Luân lý của đạo Phật. Nhiều nhà chuyên môn nghiên cứu Phật giáo ở Châu Âu cho rằng luân lý đạo Phật chỉ có tính cách thuần túy về tinh thần mà thôi, không hành động, không linh hoạt, và lý tưởng Phật giáo chỉ là một lý tưởng giải thoát tự kỷ. Đành rằng nếu chỉ xét ở các kinh sử Nam tông thì ý kiến đó cũng đúng lắm. Nhưng kinh sử Pâli chỉ phô diễn một trạng thái riêng biệt, khô khan và khe khắt của tâm lý. Nếu, trái lại chúng ta học hỏi rộng hơn nữa và từng sống trực tiếp với các dân tộc Phật giáo, chúng ta sẽ thấy rõ rằng quan điểm tôi vừa nói trên chỉ phớt qua trên bề mặt mà thôi, chứ không hợp với thực tế ở bề sâu.
Các tài liệu xưa nhất mà người ta đã tìm được về Phật giáo là những bài và tháp có khắc chữ của vua Asoka.
Vị vua nầy là một trong các vị hoàng đế của cổ Ấn Độ, trị vì từ năm 274 đến năm 236 trước Gia tô kỷ nguyên. Ngài là một Phật tử rất sốt sắng và đã cho khắc trên bia đá vô số những lời chứng ngữ, nhờ đó ngày nay chúng ta mới hiểu rõ được lịch trình tiến hóa của Phật giáo hai thế kỷ trước khi có kinh sử Pâli. Một trong các chứng ngữ ấy có ghi rằng:
"Giáo lý ấy rất tốt. Nó dạy ta làm những điều thiện, tránh những điều ác, thực hành lòng từ bi bác ái và cuộc đời tinh tấn chính đạo. Ta đã làm phúc rất nhiều, cho hết thảy các chúng sanh, cho đến nỗi ta còn đi tìm nước cho họ uống v.v..."
Coi đó thì biết luân lý trong đạo Phật đâu có phải là thứ luân lý tiêu cực, chú trọng về tinh thần mà không linh hoạt như người ta đã nói? Xin nhớ rằng các chứng ngữ dẫy đầy lòng từ bi bác ái ấy đã ghi chép ba thế kỷ trước chúa Giêsu ra đời và đây không phải là một lời nói của một vị tăng già tầm thường, mà là của một vị Hoàng đế có uy thế mạnh mẽ ban dạy cho dân. Hai trăm năm sau ngày Phật nhập diệt, luân lý ấy đã cải thiện hoàn toàn tâm tính của người Ấn Độ.
Bây giờ tra các kinh sách Pâli, chúng ta thấy lúc đầu các kinh sách ấy chỉ dạy suông, giống như thập tín điều trong sách Giatô giáo; không nên giết, không nên trộm cướp, không nên nói dối, không nên dâm dục, v.v... Nhưng sau các lời giáo huấn ấy, lại còn rải rác trong kinh, bao nhiêu những lời Phật dạy đẹp đẽ cũng như các bài huân lý đẹp đẽ nhứt của Chúa Giêsu. Đại khái như trong kinh Dhammapada : "Không nên lấy oán báo oán, chỉ nên lấy ân báo oán". Chúa Giêsu cũng nói như thế thôi. Lại còn câu nầy: "Với người dữ, ta nên ở lành. Với người câu nệ, ta không nên câu nệ. Với người gian tham, ta không nên gian tham. Lấy lòng từ bi đáp lại nộ khí, lấy thành thực đáp lại điêu ngoa, lấy lành đáp dữ".
......
Trong kinh Đại thừa chúng ta lại thấy một lý tưởng mới lạ: lý tưởng BỒ ĐỀ TÁT ĐỎA, theo đó luân lý đạo Phật còn lên đến trình độ bác ái tuyệt cao.
Bậc chân tu, sau một thời kỳ tu luyện rất lâu, đã đến trình độ Giác ngộ hoàn toàn, đã sắp được lên Niết bàn. Nhưng bậc Đại giác còn ngó xuống trần gian đau khổ, lòng thương xót tự nguyện ở lại kiếp luân hồi để cứu độ chúng sinh.
"Ta nguyện ở lại trần thế để cứu vớt chúng sinh. Ta nguyện làm cha, mẹ, anh, chị của chúng sinh để đưa họ qua bể khổ của trần dục, về đảo Niết bàn".
Từ đó, vị Bồ tát trở thành một đấng anh linh của từ bi tế độ. Trong kinh Ciksasamuccaya có chép: "Cần phải có ta để mang gánh nặng cho chúng sinh. Ta nguyện hỷ xả cái thân ta trong vòng nghiệp chướng để đưa chúng sanh đến Phật. Thà một mình ta chịu đau khổ hơn là để hằng hà sa số chúng sanh đau khổ"
"Ta nguyện đem thân ta chịu hết cả hằng hà sa số đau khổ của chúng sinh. Vì ta nguyện tế độ cho chúng sinh nên nguyện thành Phật vậy".
Coi đó, thì rõ ràng luân lý của Phật giáo là một luân lý hỷ xả, mà về sau Chúa Giêsu cũng dạy như thế có khác gì đâu!
........
Như vậy, luân lý của đạo Phật không phải là tiêu cực, là bất hoạt động như nhiều người đã tưởng lầm. Nó không chỗ nào kém thua luân lý của Gia tô giáo. Hơn nữa, không bao giờ ta thấy trong Phật giáo những cơn tàn bạo đột ngột, những lời đe dọa, nguyền rủa, những cái ấy làm mất vẻ hiền lành của Chúa Giêsu. Trong Phật giáo có niềm êm tịnh, thanh cao mà trong Thánh Kinh ta thường thấy thiếu.
Trong luân lý đạo Phật có một điểm đặc biệt là sự bất bạo động. Kinh Thiên Chúa giáo cũng có chép lời Chúa dạy: "Mầy đừng giết" và Chúa Giê-su cũng nhấn mạnh điểm ấy và Ngài còn truyền dạy cho đệ tử những châm ngôn đẹp đẽ chứa đầy lòng bác ái, hiền dịu như: đừng chống lại với võ lực, khi người ta đánh vào má bên phải thì mình đưa má bên trái, phải thương yêu kẻ thù v.v... Cả thế giới đều khâm phục những lời giáo huấn ấy và khâm phục là phải lắm, nhưng người ta quên rằng 600 năm về trước, đức Phật đã dạy những lời lẽ ấy rồi.
Lúc nãy tôi đã trích vài đoạn đặc biệt trong kinh Phật và còn rất nhiều những đoạn đặc biệt hơn nữa, nhất là trong các kinh JATAKA.
Ngày nay, cũng như từ trước, toàn thể Phật tử đều kết án sự sát hại, bất cứ sát hại con người hay con thú, bất cứ sát hại vì cớ gì, hoặc vì lý do xã hội, hay chánh trị. Những chiến tranh, những dục vọng về tình ái, hay chính trị, những cách bảo vệ tính mạng, những bản án của tòa án, tất cả những cái ấy đều không thể là duyên cớ để giết hại người. Chẳng có duyên cớ nào có thể tha thứ cho nhẹ tội được. Và tình yêu nhân loại ấy không những chỉ có giới hạn ở loài người mà thôi, nó còn bao trùm hết cả các loài vật, cho đếùn cả những con vật bé nhỏ tầm thường. Một người Phật tử chân chính không bao giờ săn bắn, không giết một con vật gì, không ăn thịt, luôn luôn tránh xa sự đau khổ cho tất cả các sinh linh.
Trái lại, người Thiên Chúa giáo phạm giới nhiều quá đến nỗi không còn một giới luật. Ai là người Thiên Chúa giáo đã chịu đưa má bên trái cho người đã đánh má bên phải của mình? Có người lính nào biết thương yêu kẻ thù của họ? Các nhà thờ Thiên Chúa đã hoàn toàn bỏ những lời giáo huấn của đấng Giêsu. Họ còn ca ngợi các vị chinh phu vì những lý do chính trị tùy thời.
Họ truy tôn thành bậc anh hùng các người chết bỏ thây trên chiến trường, họ tìm những lý do nhân đạo để binh vực các chiến tranh xâm lược ở các thuộc địa và cuối cùng họ tạo ra lý thuyết khả ố về cuộc "chiến tranh công lý".
Có điều nầy càng làm cho những người Phật tử kinh ngạc hơn nữa là các cuộc chiến tranh về tôn giáo. Tại sao các người Thiên Chúa giáo lại có thể giết hại lẫn nhau vì những lý do tôn giáo? Nào là các trận giặc Thánh, các cuộc viễn chinh vì đạo, các cuộc khủng bố vì đạo, đều là một cách phản bội đấng Giêsu và giáo lý của Ngài. Không bao giờ các nước Phật giáo phạm vào những việc điên cuồng như thế ấy…
Các dân tộc Á đông cũng có văn hóa của họ, tín ngưỡng của họ trung thành tha thiết lắm, nhưng họ không có dại dột tưởng rằng họ có độc quyền về Chân lý. Họ nhìn nhận rằng người khác có quyền nghĩ khác hơn họ và những người ấy cũng có lẽ phải vậy. Họ không tự phụ đem lý tưởng của họ mà buộc cả thế giới phải phục tùng và họ chê người Âu tây có tham vọng muốn làm tiên phong cả nhân loại: đó là một giáo dục rất xấu xa.
..........
Tôi nhận thấy ở số đông người theo đạo Phật không có óc tự cao, tự ái. Rất trung thành khắng khít với tín ngưỡng của họ, họ vẫn thành thực khâm phục các tôn giáo khác: nhờ tính khoan hồng rộng rãi ấy mà họ không có óc câu nệ khắt khe.
Nếu các Ngài thích tôn giáo của họ, họ lấy làm sung sướng và vui lòng chỉ vẽ các ngài, chứ họ không có ý dụ dỗ ngài tin theo. Họ rất kính trọng tín ngưỡng của người ngoại đạo và không tin rằng chỉ có đạo giáo của họ mới là đúng, mới là hay. Họ nghĩ rằng đạo nào cũng hay cả, cũng dạy một chân lý ấy cả, chỉ khác nhau ở chỗ mỗi tôn giáo diễn tả theo một thể thức riêng, một tinh thần riêng, một tập quán riêng, cũng rất đáng kính trọng. Vậy thì thay đổi tôn giáo làm gì, bởi vì tất cả các tôn giáo đều cùng đưa đến một mục đích, bất cứ danh từ nào, duy có con đường đi khác mà thôi.
* * *
Người ta có thể tự hỏi: tại sao có chuyện lạ lùng rằng đạo Phật và đạo Gia tô đều có nguyên tắc luân lý giống hệt nhau, mà hai đạo lại có một thái độ khác hẳn nhau đối với những quan điểm quan trọng trong luân lý, như sự bất bạo động, ý muốn xâm lăng, sự kính nể tư tưởng của kẻ khác và kết cấu tai hại của nó là chiến tranh.
Theo tôi, hai tâm địa khác nhau như thế là vì một phương diện rất quan hệ của giáo lý nhà Phật là thuyết vô ngã.
Phật giáo dạy rằng người và vạn vật chung quanh ta đều theo luật vô thường, không có bản ngã vững chắc, bởi vì mỗi quả đều có nhân sinh ra và mỗi nhân đều do nhân khác sinh ra.
Đối với Thiên Chúa giáo, linh hồn là một vật hiện hữu nhứt định. Đối với Phật giáo, linh hồn chỉ là một ảo tượng. Cái mà ta gọi là linh hồn, âme, ego, chỉ là một cuồng phong hỗn độn các cảm quan giác quan, tinh quan, các ý tượng, các lý tưởng, hiện rồi biến, tùy theo các xúc động của tâm lý luôn luôn thay đổi bất thường.
Vì ký ức và sự tiếp tục của những cảm giác ấy mà chúng ta có cái cảm tưởng phù hư về "bản ngã", tưởng rằng nó hiện hữu, nhất định, bất di bất dịch, cũng như một giòng suối cứ liên tiếp chảy mãi, cho ta cái ảo tưởng rằng giòng suối ấy bất di bất dịch.
Học thuyết ấy có những ảnh hưởng lớn lao về luân lý và nó không công nhận bản ngã. Một khi bản ngã không có, thì nói đến cái "tôi" làm sao được?
Quan niệm của người Thiên Chúa giáo lại khác hẳn: Chúa trời đã ban cho mỗi người chúng ta một linh hồn và Chúa săn sóc linh hồn ấy một cách đặc biệt. Đó là nguồn gốc sự ích kỷ, có cái gì ngăn cách ta với kẻ khác, một mối cạnh tranh giữa bản ngã của ta với bản ngã cuả đồng loại ta. Đành rằng Chúa có dạy: "Các người hãy thương nhau", nhưng dạy như thế tức là bảo hy sinh ý niệm về bản ngã của mình và nhớ rằng tất cả chúng ta là con của Chúa.
Vì hai quan niệm về linh hồn khác nhau như thế, nên hai quan niệm về luân lý cũng có khác nhau.
Kết quả đã rõ rệt là: bên Âu Tây, lời Chúa dạy về tình yêu nhân loại đã thành ra cái luật thép, của các giống người và các dân tộc, trái hẳn với tính tình êm dịu của Phật mà tôi sắp nói đến.
Tôi đã thử bày tỏ chân tướng của đạo Phật, nhưng tôi không dám tự phụ rằng đó là chân tướng của hết thảy của các người theo đạo Phật.
Ở Đông phương cũng như ở Tây phương, những kẻ có ý niệm cao siêu về tôn giáo của họ, rất là hiếm hoi. Công chúng tín đồ thích lễ bái hơn vì dễ dàng hơn là con đường gạâp ghềnh của ngẫm nghĩ cao xa. Một cô gái quê ở Cao mên đốt thẻ hương mà khấn vái trước tượng Phật, cũng cảm động như một thiếu nữ nông gia ở một tỉnh bên Pháp đốt nến vào cầu kinh trước tượng Đức Bà Maria...
Còn các vị Sơn môn đại đức tu tỉnh trong các chùa hẻo lánh ở Hy Mã lạp Sơn cũng không khác gì hơn các vị Linh mục cấm cố ở nhà thờ Chartreux: Họ cùng sống chung một luân lý, cùng thực hành những giới luật khắc khổ, cùng theo hai con đường huyền bí đi ngang nhau, để đạt đến một cảnh Tuyệt đối của Hạnh phúc và kết cuộc họ biến hình trong cảnh rộng vô biên ấy, như những con sông từ các nơi lục địa khác nhau tựu trung cũng chảy về một biển cả.
Tôi đã thử vạch rõ vì sao người Tây phương hiểu lầm hoặc không hiểu tường tận đạo Phật. Chúng ta đã thấy rằng luân lý đạo Phật cũng siêu việt như luân lý đạo Gia tô và cũng đến tuyệt đích của Từ Bi Hỷ Xả.
Thường người Thiên Chúa giáo cho rằng đạo của mình hoàn toàn, còn đạo Phật tuy là tốt đẹp nhưng vẫn chưa hoàn hảo. Họ tưởng lầm rằng đạo Phật không có một vị "Thượng đế chân chính". Tôi đã chỉ rõ ràng quan niệm ấy, đối với học thuyết Nam tông chưa chắc đã là đúng, còn đối với học thuyết Bắc tông thì rất là sai lầm.
Nếu nghiên cứu về đạo Phật trong toàn thể tổng quát của nó thì thấy rằng trải bao nhiêu lịch trình tiến hóa của nó, quan niệm về huyền bí cao siêu của đạo Phật mỗi ngày mỗi rõ rệt và nó đã lên đến một ý niệm về "Thượng đế", về "Tuyệt đối", rất tinh khiết, rất cao chưa có đạo nào vượt qua nổi.
Người ta còn có thể nói rằng đạo Phật không phải là đạo dễ dàng và có lẽ còn khó khăn hơn đạo Gia tô nhiều. Đành rằng bất cứ trong tôn giáo nào, các việc lễ bái của dân chúng rất là dễ dàng, nhưng đây tôi muốn so sánh hai phương pháp mà mỗi tôn giáo đòi hỏi các tín đồ để đạt đến kết quả.
Đạo Gia tô buộc toàn thể tín đồ phải sống cuộc đời của các vị Thánh. Chúa Giêsu, nhà thờ chỉ ban cho những lời giáo huấn mà tín đồ phải nghe theo và phải thực hành để Chúa cứu tội và ban ơn lành, đặng một ngày sau được về với Chúa. Muốn thực hành chương trình ấy, phải cố công, phải nỗ lực, nhưng mà đại đa số tín đồ đều có thể làm nổi và có thể đạt được mục đích.
Còn bên đạo Phật, người Phật tử muốn giải thoát kiếp luân hồi cần phải tu luyện cho đến bậc Đại giác, nghĩa là cần phải trở nên một vị Phật. Đó là một luật tuyệt đối. Người ta có thể đi "con đường tắt" như các vị Đại đức ở Tây Tạng và có thể thành Phật trong kiếp hiện giờ hoặc đủng đỉnh mà tiến bộ trong muôn ngàn số kiếp; nhưng tựu trung, vẫn phải làm thế nào gắng sức để đến trình độ giác ngộ hoàn toàn như Phật.
* * *
Xem qua những điều tôi vừa nói, không phải tôi bất công và tự phụ rằng ở Đông phương cái gì cũng hay cũng tốt cả và ở Tây phương cái gì cũng xấu cả. Con người ta ở đâu cũng giống như nhau, cũng có vinh mà cũng có nhục. Nếu Gia tô giáo thường hay phản bội giáo lý của đấng Giêsu. Phật giáo cũng bị những cuộc biến đổi sai lầm rất đáng buồn. Khó mà bàn vấn đề nầy cho đáo lý được!
Ta chỉ nên xem xét cái trái để phê bình cái cây. Hai mươi thế kỷ Thiên Chúa giáo ở Tây phương đã đem lại được gì? Nó đã đem lại được một thế giới mất hết tinh thần đẹp đẽ, nó đem lại những dân tộc hùng cường háo chiến, vị kỷ, chuyên môn thu nhặt quyền lợi của mình; nó đã đem lại một xã hội bất công, bị máy móc đè nghiến tinh thần, chỉ có sức mạnh của vật chất và tiền tài làm uy thế hơn hết cả. Tính vị kỷ ấy của các cá nhân, của các dân tộc, đưa đến một kết quả thảm hại: là chiến tranh. Chiến tranh mỗi ngày mỗi tái diễn, mỗi ngày mỗi độc ác, để cho loài người trút hết những tâm tính đê hèn nhất, khoa học để phụng sự cho dã man.
Các nước theo Phật giáo có một tính cách khác hẳn. Ở đây tinh thần trọng hơn vật chất, tôn giáo thấm nhuần trong đời sống. Trong lúc Âu châu ưa chuộng hoặc ông chủ nhà ngân hàng, hoặc anh vô địch về quyền Anh, thì ở Đông phương người ta ái mộ người tu hành đạo đức nhiều hơn. Trên thế giới, không có dân tộc nào yêu chuộng hòa bình bác ái hơn các dân tộc Phật giáo, không có ở đâu đố kỵ nhất thiết bị gạt trừ như những nơi có nhiều Phật tử chân chính. Như trước kia, dân tộc Tây Tạng và Mông Cổ của Genghiskhan dã man tàn bạo biết dường nào, mà ngày nay họ đã theo đạo Phật và trở nên những người hiền lành biết bao! Nếu trong đạo Phật tổ chức từ thiện chưa có được hình thức xã hội hoàn bị, thì ít nhất các nhà Phật tử cũng đã đem lòng từ bi và bác ái của họ mà cứu vãn rất nhiều những cảnh đau khổ của loài người. Lòng thương người ấy là nền móng của từ bi trong đạo Phật. Từ bi ở đây không phải là một tiếng nói suông đâu, mà tất cả ai ai đã sống ở các xứ Phật đều cảm thấy rõ ràng như một mùi hương thơm dịu mà chúng ta được thở chung quanh ta. Đó là một thái độ từ tâm đối với hết thảy các sinh vật dù là hèn hạ và người ta cảm thấy nó kín đáo nhiều hơn là hùng hồn, nó diễn tả ra trong đôi mắt hiền lành, trong nụ cười êm dịu, trong cách tiếp đãi ân cần giản dị gây ra một không khí thanh dạm trái hẳn với lối "cạnh tranh sinh tồn" ở các nơi khác.
........
* * *
Tôi đã thử trong bài diễn thuyết nầy, so sánh hai tôn giáo, hai văn hóa, hai quan niệm về lẽ sinh tồn.
Hai bên có thể thỏa hợp với nhau không? Đó là cả vấn đề bang giao giữa Đông phương và Tây phương.
Điều kiện cần nhất để hai dân tộc hiểu nhau và thương yêu nhau, là cả hai phải biết rõ lẫn nhau, phải học hỏi tường tận văn hóa và tôn giáo của đôi bên. Nhưng tiếc thay, mặc dù đã tiếp xúc với nhau hai thế kỷ, Đông phương và Tây phương, vẫn chưa hiểu nhau. Có khi người Đông phương biết văn minh của chúng ta còn nhiều hơn là chúng ta biết văn minh của họ. Sở dĩ chúng ta không hiểu gì nhiều về các chuyện ở Đông phương là vì chúng ta thường tự phụ rằng chúng ta đã giỏi hơn người Đông phương. Người Tây phương nghĩ chỉ có văn minh Âu tây là giá trị, chỉ có tôn giáo Âu tây là chân chính, nên họ cho rằng hiểu biết văn minh và tôn giáo Đông phương cũng chẳng ích lợi gì, bởi vì theo họ, văn minh và tôn giáo ấy sẽ có ngày tàn tạ nhường chỗ cho Tây phương để tạo ra đại hạnh phúc cho loài người!
Về phương diện tôn giáo, chúng ta đã thấy người Tây phương không hiểu hoặc hiểu lầm đạo Phật biết dường nào!
Các nhà truyền giáo Gia tô đem đến Á đông một tôn giáo mà họ gọi là "chánh đạo", kỳ thực họ chẳng biết một tí gì về văn hoá và tôn giáo của các dân tộc mà họ muốn cảm hoá theo Thánh Kinh, hoặc họ chỉ có một nhúm kiến thức sơ sài và xuyên tạc học lỏm ở trường giòng. Họ gọi mơ hồ bằng một ác ngữ là "ngoại đạo" những người không theo Thiên Chúa giáo và "mê tín" những lễ nghi của các đạo khác mà họ không thông hiểu, khác nào họ coi người ta như những giống dân sơ khai hèn hạ.
Tôi tưởng nên hành động cách khác thì hơn. Chúng ta đã thấy rằng Phật giáo chẳng kém gì Thiên Chúa giáo, về phương diện luân lý cũng như về phương diện thần bí học. Như vậy thì cần gì phải muốn phá bỏ tôn giáo lớn ấy bởi nó là căn bản văn hoá, nền móng văn minh, nghệ thuật, văn học của Á đông; bởi nó đã đem đến cho Á đông Từ Bi, Phúc Hậu, Hòa Bình!
Tại sao muốn thay thế nó bằng một tôn giáo khác sinh trưởng trên bờ Địa Trung Hải và đã mượn ở đấy nào là thần thoại, nào là triết học luận, tất cả những cái gì không thích hợp và không dung nạp được với tinh thần Đông phương, một tôn giáo mà chung qui chẳng đem lại phúc hậu hòa bình cho Tây phương?
Vả lại, đây là một kinh nghiệm: Thiên Chúa giáo chưa bao giờ thâm nhập các xứ thật là theo Phật giáo, nhất là trong các phần tử trí thức. Nó chỉ có thể lan tràn trong người nông nổi và khờ khạo bởi nó biểu diễn cho họ một thứ Thiên Chúa giáo thu hẹp vào một vài quan niệm tình cảm và một nghi lễ mơ hồ.
Tôi tưởng rằng chúng ta nên dạy cho Đông phương hiểu rõ tôn giáo của họ, tốt hơn là muốn truyền bá cho họ một tôn giáo khác. Nếu trong đạo Phật còn khuyết điểm về luân lý xã hội và chưa có thống nhất được về giáo lý là tại các người Phật tử chưa có quan niệm chu đáo về đạo Phật.
Vậy thì công việc cần gấp là giúp đỡ người Đông phương học hiểu rõ ràng tôn giáo chính của họ, mở mang một phái Tăng già có trí thức, có thực học để truyền bá trong nhân gian những giáo lý của Phật.
Nước Pháp đã muốn thực hành điều đó và năm 1930 đã mở Phật giáo Cổ học viện ở Nam Vang. Viện nầy đã đạt nhiều kết quả tốt trong việc cải cách học thuyết Tiểu Thừa ở Cao Miên. Đáng lẽ người Tây phương nên làm một công trình văn minh đẹp đẽ hơn nhiều, là cọng tác chặt chẽ với các bậc cư sĩ, Tăng già Á đông để mở rộng phong trào Phật học hơn là tìm cách để Thiên Chúa giáo thay thế vào Phật giáo.
Làn sóng chiến tranh dã man vừa tràn ngập Âu Châu nên cho chúng ta một bài học khiêm nhường hơn và đừng đem văn minh Âu Châu khoe khoang nữa.
Tây phương của Thiên Chúa giáo và Đông phương của Phật giáo nên hợp tác nhau, thỏa thuận nhau, có lợi hơn là cạnh tranh oán ghét nhau. Tây phương có thể học lại lòng từ bi, tính bất bạo động, khiếu hòa bình và đời sống tinh thần của Đông phương. Đông phương có thể học tập một kỷ luật có tổ chức hơn, một hình thức từ thiện và cứu tế xã hội có kết quả mỹ mãn hơn.
Tôi thành tâm cầu chúc một cuộc hòa hợp như thế, nhưng thực ra tôi cũng biết rằng thực hành rất khó, Tây phương đã quá xu hướng về vật chất. Sự hăng hái hoạt động tự tin, khinh rẻ chủ nghĩa duy tâm, ý chí quật cường và xâm lược đã ăn sâu vào người Tây phương, xu hướng về tinh thần khó mà quyến rủ họ được.
Vả lại, uy thế của sức mạnh rất ghê gớm, cuộc sinh hoạt Tây phương với tất cả những xa xí phẩm, những tiện lợi về vật chất đủ các phương diện, những khoái lạc rất dễ dàng của nó, đã có sức lôi cuốn rất mạnh, đối với cả các nước Đông phương nữa.
Kìa biết bao nhiêu người đã quên hẳn khuynh hướng duy tâm của họ, để tinh thần trôi theo ảo tượng cơ khí, mặc dù họ biết rằng máy móc sẽ nghiền họ chết, sẽ đem lại cho họ những chiến tranh, những rối loạn xã hội, với tất cả cảnh khổ nhục mà Âu Tây lôi kéo theo sức mạnh của nó khắp cả trên mặt địa cầu.
Tôi mong một vài nước nhỏ bé ở Á đông còn giữ được tinh thần cao khiết, còn làm trú địa cuối cùng của Thái Bình giữa một thế giới điên cuồng khủng khiếp, rán giữ vững một thời gian khỏi bị ảnh hưởng ác hại của văn minh Âu Tây. Có lẽ rồi đây, than ôi! con chó sói sẽ nuốt sống con chiên con, nhưng thà chết thể xác chẳng còn hơn chết linh hồn ư!
* * *