BUDDHA HOME

PHẬT PHÁP


 

TỪ DIỆU LÝ DUYÊN SANH QUA THÔNG ĐIỆP HƯỚNG VỀ THẾ KỶ 21 CỦA VIỆN TĂNG THỐNG GHPGVNTN ĐẾN TƯ TƯỞNG DẪN ĐẠO CỦA PHẬT GIÁO TRONG THIÊN KỶ MỚI

 

Huỳnh Kim Quang

 

Ngày Chủ Nhật, 16 tháng 5 năm 1999, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, qua Đại Hội VIII tại miền Nam California, Hoa Kỳ, đã công bố một văn kiện lịch sử: Thông Điệp Hướng Về Thế Kỷ 21 của Viện Tăng Thống - GHPGVNTN. Bản thân người viết bài này cũng đã có cơ hội đọc qua bức Thông Điệp. Trải qua gần một năm, đã không ít dư luận trong và ngoài nước đề cập đến bức Thông Điệp với cả hai thái độ: Nhiệt liệt tán dương và chủ tâm bài xích. Tuy nhiên, bài viết này có mặt không phải để bênh vực hay chống đối bất cứ thái độ hoặc lập trường nào mà chỉ để diễn đạt những suy nghiệm của một cá nhân khi đọc bức Thông Điệp ấy. Vì phương cách đứng về một bên để bênh vực hay chống đối đều không phù hợp với tinh thần của Thông điệp. Bởi lẽ, khi đứng về một bên tức là tự vạch lằn ranh phân cách với tha nhân và tự trói buộc mình trong thế giới hạn cục của nhận thức và hành xử một chiều. Đó chính là một trong những tác nhân mang lại biết bao phân hóa, ngộ nhận, thù nghịch, và khổ đau cho mình và người từ bấy lâu nay. Tại sao con người không thể rũ bỏ những định kiến, những thành kiến, những trói buộc và mở lòng ra mà chiêm nghiệm sự linh hoạt phong phú và nhiệm mầu của đời sống?

 

DIỆU LÝ DUYÊN SANH: NGUỒN MẠCH XUYÊN SUỐT BỨC THÔNG ĐIỆP

 

Bức Thông điệp được cấu thành trong một bố cục chặc chẽ. Phần mở đầu là nhận thức tổng quan về quá trình lịch sử của nhân loại, diễn trình của vũ trụ quan và nhân sinh quan. Phần chính yếu bao gồm: tri nhận sự thật lịch sử hai thiên niên kỷ của nhân loại; nhìn lại lịch sử hai ngàn năm Phật giáo và đất nước Việt nam; xác định vị thế của Phật giáo đối với dân tộc Việt nam; vai trò của Phật giáo đối với dân tộc và nhân loại. Phần kết luận: Nhìn vào tương lai rực sáng của loài người qua việc thực hiện tinh thần khoan dung, bình đẳng và tôn trọng quyền sống của nhau.

Nội dung của Thông điệp là, một cách bình tâm và tịnh trí, nhìn lại quá trình lịch sử hưng suy của nhân loại, của đất nước và Phật giáo Việt nam suốt hai mươi thế kỷ qua. Từ đó, giúp chúng ta rút ra được những bài học qúy gía hãn hữu làm hành trang vững bước vào thiên kỷ mới. Nhìn lại quá khứ với bao nhiêu sai lầm và khổ lụy, nếu có, không có nghiã là chúng ta đang tố cáo những tội ác của loài người. Thái độ nhận thức ấy chỉ có nghiã là con người dám dũng mãnh trực nhận một cách như thật tất cả những gì mình đã tạo ra và đứng lên gánh lấy trách nhiệm để chuyển hóa cuộc sống. Đây chính là bước khởi đầu trên lộ trình thăng hóa khổ đau cho mình và người: Lộ trình tri nhận sự thật.

 

Nhưng, con người đã học được những bài học gì ở cuối chặng đường lịch sử hai ngàn năm, và đã chuẩn bị được thứ hành trang gì cho thế kỷ 21? Bức Thông điệp đã khai thị một đáp án nhiệm mầu cho hai vấn đề trọng đại trên. Đó chính là diệu lý duyên sanh. Vì không liễu giải được lý duyên sanh và không hành xử theo dụng lực của lý duyên sanh mà nhân loại suốt mấy ngàn năm qua đã bị cuốn xoáy theo dòng thác lũ vô minh để tạo nghiệp và thọ nhận bao nhiêu thống khổ. Nếu liễu giải được lý duyên sanh và ứng xử theo dụng lực của lý duyên sanh, con người có thể vén bức màn vô minh và kiến tạo cuộc sống an lạc, giải thoát cho mọi cá nhân, mọi xã hội. Vậy duyên sanh là gì?

 

DIỆU LÝ DUYÊN SANH

 

Do nhiều duyên, nhiều điều kiện, nhiều yếu tố tụ họp lại với nhau mà một pháp được hiện hữu. Thí dụ, cuốn tạp chí, hay cuốn sách này hiện hữu là do nhiều điều kiện như quyết định thực hiện tạp chí của ban biên tập, nổ lực xin và thu góp bài vở, công trình sáng tác bài vở của các tác gỉa, công lao đánh máy, duyệt bài vở, và layout thành sách của ban thư ký, giấy, mực, máy in, máy đóng, máy lựa giấy, máy cắt, công thợ in, tài chánh trang trải cho ấn phí, v.v... Không những chỉ có cuốn sách này là do nhiều điều kiện hình thành mà ngay chính bản thân của mỗi điều kiện hình thành nên cuốn sách cũng được có mặt là do nhiều điều kiện khác. Thí dụ, giấy để in cuốn sách này cũng do nhiều điều kiện tụ họp mà thành như các nguyên liệu làm giấy, máy chế biến nguyên liệu ra giấy, thợ và công thợ điều khiển máy, các hóa chất dùng để pha trộn vào nguyên liệu làm ra giấy, v.v... Rồi đến lượt những điều kiện để hình thành ra giấy, chúng cũng được tạo ra bởi những điều kiện khác nữa. Cứ thế, khắp cả thế giới, khắp cả vũ trụ đều không có pháp nào hiện hữu mà không do nhiều duyên, nhiều điều kiện. Trong thế giới tương đối, trong thế giới tục đế, tuyệt đối không một pháp nào hiện hữu độc lập được. Tất cả đều do duyên mà sanh, do duyên mà trụ, do duyên mà biến đổi, và do duyên mà hoại diệt.

 

Lắng tâm mà chiêm nghiệm, chúng ta sẽ thấy rằng, trong ý nghiã duyên sanh đó, các pháp đều có mối tương quan, tương duyên, tương tức với nhau một cách chặc chẽ. Mối tương duyên này không phải chỉ xảy ra trong một khoảng thời gian hay không gian giới hạn nào đó, mà diễn ra trong chuỗi xích không bến bờ của thời và không gian. Những tương duyên này nối kết chằng chịt với nhau như một mạng lưới bao la vô tận mà tầm nhìn bé nhỏ của con người không sao thấu triệt hết. Đó chính là diệu lý trùng trùng duyên khởi.

 

Khi một pháp được hiện hữu do nhiều duyên, nhiều điều kiện hợp lại thì pháp đó chỉ là cái giả danh của một tập hợp mà tự nó không có tự thể, không có tự tánh. Nó là không. Không những cái tập hợp giả danh ấy là không mà ngay chính từng điều kiện, từng duyên trong cái tập hợp ấy cũng là giả danh, cũng là không, bởi vì, nó cũng được sinh thành từ nhiều duyên, nhiều điều kiện khác. Hơn nữa, các pháp đều vô thường. Đây là một sự thật không thể phủ nhận. Vô thường chính là trạng thái luôn luôn biến đổi, không bao giờ dừng lại. Vũ trụ biến đổi theo chu kỳ thành, trụ, hoại và không. Vạn vật biến đổi theo biến trình sinh, trụ, dị và diệt. Con người biến đổi theo vận đồ sanh, già, bệnh và chết. Trên bình diện hiện tướng, tùy theo năng lực của nghiệp mà chúng sanh cảm nhận hạn kỳ biến đổi của các pháp sai biệt nhau. Tuy nhiên, thật tế là các pháp biến đổi trong từng khoảnh khắc, từng sát na. Thực trạng vô thường của vạn pháp cho chúng ta nhận thức được rằng các pháp vốn không có tự thể, không có tự tánh. Các pháp là gỉa danh, là không.

Nếu các pháp là gỉa danh, là không vậy thì không có gì hiện hữu sao? Không phải vậy. Ngược lại, bởi vì, các pháp không tự thể cố định, là không, cho nên, chúng mới có thể đi đến, tụ hợp lại với nhau để tạo thành một pháp khác, như hydrogen và oxygen vì không có tự thể cố định nên mới có thể hợp lại nhau để tạo ra nước (H2O). Như thế, qua lý duyên sanh, các pháp là thật, là giả hay là không? Thật ra lý duyên sanh không nhằm khẳng định bản thể của các pháp, vì bản thể các pháp thuộc bình diện tuyệt đối hay đệ nhất nghiã đế, bình diện này chỉ có người thể nhập bản thể vạn hữu mới liễu đạt được mà thôi. Qua lý duyên sanh, trên bình diện tương đối, hay thế đế, đức Phật chỉ muốn giải thoát cho chúng sanh để họ không rơi vào thiên kiến cố chấp rằng các pháp là thực hữu hay thực vô. Đức Phật muốn dùng lý duyên sanh vô tánh như lương dược để chữa lành căn bệnh thiên chấp trầm kha của chúng sanh rồi chỉ cho họ con đường trung đạo dẫn đến giác ngộ và giải thoát tối hậu. Đây là diệu dụng của đối trị tất đàn, một pháp môn mà đức Phật thường xuyên sử dụng để hóa đạo.

 

DIỆU DỤNG CỦA LÝ DUYÊN SANH HAY TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CỦA PHẬT GIÁO

 

Sau bốn mươi chín ngày đêm thiền định và quán nghiệm dưới gốc cây Bồ Đề, cuối cùng, đức Phật đã đạt đến giác ngộ và giải thoát cứu cánh. Ngài đã liễu ngộ được nguồn cội của vạn hữu, rằng các pháp trên bình diện nhị đế chỉ như những đợt sóng nhấp nhô trên mặt đại dương Như Lai tạng tâm. Chúng hiện hữu trong mối tương duyên, tương tức. Cái này có, cho nên, cái kia có. Cái này không, cho nên, cái kia không. Con người cũng vậy, hiện hữu lẩn quẩn trong chuỗi xích mười hai nhân duyên: Vô minh, hành, thức, danh-sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh và lão-tử. Cái vòng sanh tử ấy cứ nối tiếp nhau cho đến không còn biết đâu là khởi đầu, đâu là chung cuộc, vô thỉ vô chung. Vọng niệm khởi lên thì sanh diệt hiện tiền. Ngộ chứng chơn như thì tất cả đều tịch lặng. Từ sau khi đắc đạo, đức Phật đã không ngừng chu du khắp nơi để dẫn dắt chúng sanh mà nội dung tinh mật của những thời thuyết giáo không ngoài diệu lý duyên sanh. Chính vì thế, diệu lý duyên sanh là tư tưởng chỉ đạo của Phật giáo trên bình diện nhận thức, vũ trụ quan, nhân sanh quan, tu chứng và hành đạo.

 

TRÊN BÌNH DIỆN NHẬN THỨC: Cơ cấu nhận thức của con người là do nhiều duyên, nhiều điều kiện hình thành. Mắt không thể không có đối tượng là sắc mà nhận thức được. Tai do âm thanh, mũi do mùi, lưỡi do vị, thân do xúc chạm, và ý do nhận thức của ngũ quan và các đối tượng ý thức do tương hệ, tương đãi phát sanh. Tại sao chúng ta có thể nhận thức được nước đó là nóng? Là do chúng ta đã từng kinh nghiệm hoặc học hỏi để biết như thế nào là nước, thế nào là nóng hay đối nghịch với lạnh. Cũng vậy, tại sao con người có thể nhận thức được điều gì là tốt, điều gì là xấu. Bởi vì, con người đã từng kinh nghiệm hay học hỏi để biết rằng thế này là tốt và thế kia là xấu. Tuy nhiên, những nhận thức từ kinh nghiệm và kiến thức mà con người có không hoàn toàn chính xác. Trong đêm tối, chúng ta có thể thấy đó là con rắn, nhưng thật ra nó chỉ là một sợi dây thừng nằm giữa đường. Cũng là thấy tận mắt, song cái thấy lại không hoàn toàn đúng. Tại quốc độ này, xã hội này, thời đại này, chủng tộc này, điều này là tốt; ngược lại, tại quốc độ kia, xã hội kia, thời đại kia, chủng tộc kia, thì cũng điều này mà lại xấu. Điều đó chứng minh rằng nhận thức con người do duyên sanh và thật tương đối.

 

Lại nữa, cơ cấu nhận thức của con người là năng tri và sở tri tự bản thân chúng vốn không là những thực thể hiện hữu thật sự. Chúng cũng hiện hữu trong chiều kích duyên sanh. Năng tri không thực hữu, sở tri không thực hữu. Vậy còn cái gì để làm chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức? Nhận thức mà không có chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức, thì nhận thức ấy chỉ là cái gỉa danh hư huyễn. Có lẽ có người vẫn không đồng ý điều này. Đúng thế, ở đây, nếu thật sự nhận thức không thực hữu thì những gì được nói đến đều không có cơ sở hiện hữu và tác dụng. Nếu nhận thức là không thực, vậy bằng cách nào để biết nhận thức là không thực? Cái biết nhận thức là không thực, tất nhiên, không phải là nhận thức. Nó là gì? Khi nào con người còn cố gắng vận dụng nhận thức để khám phá cái gì đó liễu ngộ được nhận thức thì còn bị vướn kẹt trong mê cung của nhận thức giả danh. Chính vì điều này mà diệu lý duyên sanh vốn cưu mang trong nó dụng lực phi thường của thanh kiếm sắt và bén như kim cương để chặt đứt tận gốc tất cả mọi vọng niệm của tâm phan duyên, mọi vướn mắc của ngôn từ, mọi hệ phược của tập khí phiền não. Tâm trí thanh tịnh thì Như Lai tạng hiển lộ, như mặt hồ bình lặng thì ánh trăng hiện bày. Trí tuệ giác ngộ có công năng thấu triệt được chân thân của vạn pháp, trong đó có nhận thức giả danh.

 

Tri nhận được tính duyên sanh, giả hữu và tương đối của nhận thức, con người sẽ không còn cố chấp, không còn chôn chặt nhận thức của mình trong bất cứ một định kiến, một thiên kiến, một tà kiến nào. Con ngưỡi cũng sẽ có khả năng vượt thoát lên trên tất cả mọi hạn cục của các chủ thuyết, các giáo điều, các tà thuyết. Khi mở tâm và trí ra, con người sẽ trực nhận được thực tại hay chân lý một cách trong sáng và trọn vẹn. Với trí tuệ quảng đại như vậy, con người sẽ không áp đặt quan kiến, chủ thuyết, giáo điều, nếu có, của mình lên bất cứ ai. Tình trạng độc quyền nhận thức và chà đạp lương tri của loài người cũng sẽ không còn. Đến đây, có lẽ có người không tán đồng quan điểm trên, vì theo họ, trên bình diện tương đối, nếu chúng ta không nêu rõ khuynh hướng nhận thức đúng sai của mình đối với người khác, như vậy là không có lập trường dứt khoát, là không phân biệt chánh tà. Khi con người buông xả những cố chấp rồi mở tâm và trí ra để đón nhận sự thật, đón nhận thực tại không có nghiã là người ấy đánh mất khả tính nhận thức ưu việt của mình đến nỗi không thể phân biệt đúng sai hay chánh tà. Ngược lại, việc buông xả những cố chấp trong nhận thức càng giúp con người tịnh tâm và sáng suốt hơn để nhận thức sự việc. Tự nó, hai lẽ đúng sai và chánh tà vốn chỉ sai biệt trong một giới hạn vi tế và thật tương đối nào đó. Người trí ngoài việc liễu giải chân thân của vạn pháp còn có sứ mệnh chuyển hóa cái sai, cái tà thành đúng, thành chánh, chứ không phải chỉ biết vạch lằn ranh phân biên giới để sống chết và không nhìn mặt nhau mới thôi.

 

Đáng tiếc thay, trong quá khứ và hiện tại, con người vẫn còn chấp chặt vào quan kiến, chủ thuyết, tôn giáo, triết lý, chủ nghiã, chủ trương, chính sách của cá nhân, của tập thể, của tổ chức mình là duy nhất đúng, còn những thứ khác của tha nhân thì sai. Dù cho, trước những lời lẽ tâm huyết, lời lẽ chân thành, lời lẽ xây dựng, lời lẽ khuyến thỉnh cho sự thức tỉnh, sự quay về, sự cải đổi, sự mở rộng cửa, người ta vẫn không chịu nghe, vẫn đóng kín cửa lại. Từ thái độ nhận thức cố chấp, cục bộ này dẫn đến những hành động tạo nghiệp chướng, gây đau khổ cho loài người. Nạn chiến tranh tôn giáo, nạn chiến tranh vì ý thức hệ, vì chủ nghiã, vì nhân danh giai cấp, vì quyền lợi đảng phái và kinh tế, nạn kỳ thị chủng tộc đã và đang xảy ra mỗi ngày trên thế giới chúng ta và giết hại hàng triệu mạng người vô tội, gây đau khổ và tan thương cho hàng tỷ người. Trên các bục giảng long trọng, tại những nơi thiêng liêng nhất, con người không ngần ngại dùng những mỹ từ cao thượng, và thánh khiết để cổ võ cho các giá trị tâm linh, đạo đức, giáo dục, tình thương, nhân tính, bình đẳng, tự do, dân chủ, v.v... Nhưng ngược lại, đồng lúc ấy, họ cũng chính là kẻ ban chỉ thị, ký sắc lệnh, ra mật mã, đồng loã và âm mưu chà đạp, thủ tiêu, triệt hạ sự sống quý giá của bất cứ ai không đồng quan điểm, không cùng đức tin tôn giáo, không cùng lập trường chủ nghiã hay ý thức hệ.

 

TRÊN BÌNH DIỆN VŨ TRỤ: Từ cực vi trần thâm tế mà mắt thường không thể nhìn thấy đến vũ trụ bao la có hàng vô lượng vô số liên hoa tạng giới với hàng bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới, tất cả đều do duyên mà hiện hữu. Lấy một cực vi trần để quán sát cũng thấy được mối tương quan tương duyên chằng chịt giữa nó với vũ trụ vô cùng. Cho nên, vũ trụ là một mạng lưới liên kết trùng trùng mà thời gian và không gian theo nhận thức thường nghiệm của con người đã không có chỗ đứng. Từ đó, cho thấy rằng vũ trụ thật sự không do bất cứ một đấng sáng thế nào tạo ra, vì tất cả đều duyên sanh không tự thể. Quan niệm về đấng sáng thế tồn tại là dựa trên nền tảng về một hữu thể, dù được gọi bằng bất cứ danh xưng nào, siêu thể, tuyệt đối thể, siêu nhiên, hay gì gì đi nữa, đã là sáng thế thì phải có khởi đầu, có khởi đầu thì phải có nguyên nhân đầu, đã có nguyên nhân đầu thì phải có sanh, có sanh thì có tồn tại, có tồn tại thì có biến dị, có biến dị thì phải có hoại diệt. Có sanh diệt tức là vô thường, vô thường thì vô ngã, vô tự tánh, là giả danh, là không. Chính vì lý do đó, quan niệm về đấng sáng thế là nhận thức sai lầm đối với bản thể của vũ trụ, của vạn pháp.

 

Dạng thức vật chất của vũ trụ chỉ là sự giả hợp tạm bợ của những nhân duyên mà tự chúng vốn không có tự thể cố định và tuyệt đối. Một hành tinh, một vi trần chỉ là tập hợp của những nhân duyên mà con người gọi là vật chất, kỳ thật chúng có thể bị phá nát ra cho đến không còn biên tế giữa cái hữu hạn và vô hạn. Người ta tạm gọi chúng là năng lượng. Nhưng nếu là pháp hữu vi thì còn bị hủy diệt, còn bị biến dị, còn bị phân hủy đến vô cùng. Vậy vật chất sẽ là gì khi chúng bị phân hủy đến mức không còn có thể phân hủy được nữa? Chúng là sắc, là không, hay là tâm? Đến đây, chúng ta thấy rằng cái duyên, cái điều kiện cuối cùng để sanh ra pháp cũng là giả, là không tự tánh. Từ đây, nếu bước thêm một bước nữa sẽ là vực sâu không đáy. Nơi đó không còn có chỗ nào để vọng thức, vọng tâm, vọng tướng bám víu. Thì ra, chỗ ban sơ vô thỉ của vũ trụ cũng chính là cội nguồn vô chung của chơn tâm. Cho nên, kinh Hoa Nghiêm có nói rằng: "Nhược nhơn dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ứng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo." (Nếu người nào muốn liễu ngộ được tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai, thì nên quán nghiệm thể tánh của pháp giới, tất cả đều từ tâm sanh). Duy tâm ở đây không phải là duy tâm theo thể điệu của chủ thuyết hay chủ nghiã duy tâm Tây phương. Vì duy tâm theo thể điệu phương Tây vẫn không thể thoát ra khỏi vòng triền phược của vọng tâm. Bài kệ trong kinh Hoa Nghiêm đã diễn giải trọn vẹn ý nghiã thâm diệu của đạo lý duyên sanh vô tánh và vô tánh duyên sanh, để từ đây mở ra chân trời huyền nhiệm của chơn không diệu hữu.

 

Pháp giới trùng trùng duyên khởi như là chân trời quang đãng đang mở ra cho con người trước tầm nhìn đối với vũ trụ. Thế giới mà chúng ta đang cư ngụ không phải là hành tinh độc nhất mà chỉ là một hạt cát trong sa mạc vũ trụ mênh mông. Trong khoảng không gian bao la vô bến bờ kia, có hàng vô lượng vô số hành tinh đã, đang và sẽ thành, trụ, hoại, không. Cũng ở những nơi ấy, hàng vô lượng chúng sanh đã, đang, và sẽ sinh, già, bệnh, và chết. Trong số những chúng sanh đó đã, đang và sẽ có chúng sanh hoàn thành được mục đích tối thượng của đời sống: Giác ngộ vô minh và giải thoát khổ đau.

"Trái đất không còn là một khối vật thể duy nhất trong vũ trụ được sáng tạo từ hư vô để tôn vinh quyền năng siêu việt của đấng Tạo Hóa, mà chỉ là khối ngưng kết nhất thời trong chu kỳ vô tận thành-trụ-hoại-không theo quy luật tương quan duyên khởi." (Thông Điệp)

 

TRÊN BÌNH DIỆN NHÂN SINH: Con người sinh, trụ và diệt lẩn quẩn trong chuỗi xích mười hai nhân duyên: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, và lão-tử. Vô minh là đầu mối của sanh tử, vì vô minh là không thức giác được nguồn tâm vốn viên minh đổng triệt, cho nên, vọng động dấy khởi rồi tạo nghiệp và thọ quả. Đi tìm khởi điểm của sanh tử là tìm nguồn gốc của vô minh. Đã là vô minh thì sao có thể biết được đâu là điểm khởi phát. Chính vì vậy, sanh tử là diễn trình vô thỉ. Đạo lý duyên sanh khai thị con người nhiều sự thật mầu nhiệm.

 

Qua lý duyên sanh, con người tri nhận được rằng sự hiện hữu của nó là do chính nó tạo ra. Không một thế lực siêu nhiên hay ngoại tại nào có thể mang đến sự hiện hữu cho con người. Vì chính thế lực ấy cũng được có mặt trong ý nghiã duyên sanh. Tạo sao? Bất cứ một pháp nào, không có ngoại lệ, có thể sanh ra một pháp khác đều løà pháp được tựu thành bởi các duyên, vì pháp có thể tạo ra sự sanh thì có thể bị phân liệt. Nếu đã bị phân liệt thì có thể biến đổi, là vô thường, là giả hợp, là không. Qua lý duyên sanh, con người nhận thức được rằng tất cả các pháp đều giả hợp, cho nên, đều có thể chuyển đổi, từ vô minh, nghiệp đến sanh tử luân hồi, không có gì có định tánh. Chính trong ý nghiã này, con người có thể thực hiện cuộc cách mạng căn để nhất cho cuộc đời mình và cho tất cả chúng sanh, đó là cuộc cách mạng tâm linh để giác ngộ vô minh, chuyển hóa nghiệp lực, và giải thoát khổ đau. Nghiệp là hành tác của thân, ngữ và ý của con người. Vì vậy, con người có thể đình chỉ các nghiệp bất thiện và thực hành các nghiệp thiện, rồi lần hồi thăng hóa từ nghiệp hữu lậu lên nghiệp vô lậu.

 

Qua lý duyên sanh, con người cũng được khai mở ý nghiã bình đẳng trong giá trị của sự sống. "Giáo lý của Phật đặt trên nền tảng quan hệ duyên khởi, xác nhận giá trị bình đẳng giữa các chúng sanh" (Thông Điệp). Mọi người đều biết qúy trọng sự sống, đều nổ lực mưu cầu hạnh phúc, và đều muốn viễn ly khổ đau. Đó chính là những phẩm tính đồng đẳng giữa người với người. Không ai có quyền nhân danh bất cứ thế lực gì, bất cứ mục đích gì để xúc phạm đến sự sống, phủ nhận việc mưu cầu hạnh phúc và tạo ra khổ đau cho người khác. Những giá trị thiêng liêng này, ngày nay đã và đang được nhân loại cùng nhau tuyên dương và bảo vệ, mà điển hình là sự ra đời của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc và cao trào vận động nhân quyền, và dân quyền trên khắp thế giới. Nhưng khổ thay! Một số cơ chế chính quyền vẫn còn viện dẫn đến tính cách sai biệt của văn hóa, chủng tộc, và địa vức để bào chữa cho sự vi phạm trầm trọng của họ lên quyền làm người của kẻ khác. Phải, mỗi nền văn hóa, mỗi chủng tộc, mỗi địa vực có những quan điểm, nhận thức và hành xử khác nhau. Nhưng, các nền văn hóa, các chủng tộc, các địa vực ấy đều hướng đến việc hoàn thiện con người và xã hội bằng chân-thiện-mỹ, đều biết qúy trọng sự sống và sợ chết, đều cố gắng tìm cầu hạnh phúc cho mình và người. Phải, mỗi người đều có một nghiệp cảm riêng: giàu nghèo, vui khổ, xấu tốt, lớn bé, trắng đen, v.v... Nhưng, không phải những biệt nghiệp ấy là những khung thước để đo lường phẩm tính, nhân cách và tôn nghiêm của con người, vì tận cùng ý nghiã của hiện hữu, họ đều có cùng một trí giác linh diệu như nhau.

 

Qua diệu lý duyên sanh, con người tri nhận được tính tương quan, tương duyên trong cuộc sống giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội, giữa con người với thế giới chung quanh bao gồm các loài sinh vật, thiên nhiên, và vũ trụ. Thật vậy, những duyên hay điều kiện mà một người cần có để hiện hữu như cha mẹ, bà con, chỗ ở, cơm ăn áo mặc, học đường, xã hội, v.v... thì thật là vô số và không thể thiếu. Một người như vậy, mọi người cũng như thế. Rồi đến các loài sinh vật như cá, chim, súc vật, thú rừng, đến môi trường chung quanh như không khí, núi rừng, sông, suối, biển, và toàn thể vũ trụ bao la. Tất cả đều không thể thiếu đối với một con người, đối với mọi người. Một người xấu sẽ tạo ra sự bất an cho xã hội. Ngược lại, một người tốt sẽ dựng nên biết bao ích dụng cho người khác, cho xã hội. Trong ý nghiã này, khởi điểm của việc xây dựng con người và xã hội chính là tự làm tốt mình bằng sự thanh tịnh hóa hành tác của thân, khẩu và ý, sau đó mới là góp phần vào việc thanh tịnh hóa gia đình, xã hội, thiên nhiên và vũ trụ.

 

Qua diệu lý duyên sanh, con người cũng liễu ngộ được rằng kiếp nhân sanh vốn không tự hữu một cách độc lập mà do các duyên cấu thành, nó là gỉa hữu, là không. Vậy ý nghiã tối hậu của con người là gì? Nếu cuộc đời như giấc mộng thì con người sống có ý nghiã gì? Cái sinh diệt, vô thường và giả hữu là vọng tâm, vọng tướng không phải chân tâm, thật tướng. Để thể chứng chân tâm và thật tướng thì đời sống con người là phương tiện ưu thắng nhất. Cho nên trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật dạy: "Nhân thị tối thắng, năng sinh nhất thiết chư thiện pháp cố." (Con người là hơn hết, vì có thể phát sanh tất cả các pháp lành). Thể chứng chân tâm là thành tựu sự giác ngộ và giải thoát cứu cánh. Đó cũng là mục tiêu tối hậu của con người, của chúng sanh. Điều này tất cả mọi loài đều có thể thực hiện được, nhất là loài người, nơi có đầy đủ các điều kiện của sự đau khổ và an lạc.

 

"Người Phật tử tin rằng mọi loài chúng sinh có một định hướng duy nhất, đó là định hướng thành Phật. Tất cả chúng sanh đều là Phật tương lai." (Thông Điệp).

 

Khi một người thâm chứng được giác tánh bình đẳng giữa tất cả muôn loài, chỉ vì vô minh mà những chúng sanh khác vẫn còn trầm luân trong khổ hải, người ấy nhất định hưng phát đại từ bi tâm thệ nguyện tế độ tất cả hữu tình cho đến khi giác ngộ và giải thoát. Nguyện lực này tuông chảy một cách vô tâm như suối nguồn bất tận. Chính vì liễu ngộ các pháp là duyên sanh vô tánh mà con người khai mở được dụng lực siêu việt của trí tuệ để vượt thoát lên trên mọi vọng chấp điên đảo. Mọi hoạt dụng của kẻ thực nghiệm đạo bấy giờ được khai lộ bởi trí tuệ và từ bi.

 

KẾT LUẬN

 

Phật giáo có thể đóng góp được gì cho nhân loại trong thiên niên kỷ thứ ba? Câu hỏi này biểu thị sự quan ngại cho hiệu năng đóng góp của Phật giáo trong thời đại mới, thời đại mà những phát minh khoa học kỹ thuật và đời sống chuyển biến đa dạng làm choáng ngợp tâm thức con người. Những quan tâm như vậy không phải là không có sở cứ. Bởi vì, thực trạng xã hội nhân loại đang phô diễn ra những vấn nạn đau thương: Con người ngày càng chạy theo đời sống vật chất và xao lãng cuộc sống tâm linh, hố ngăn cách giữa giàu và nghèo ngày càng sâu rộng hơn khiến cho hàng chục triệu người đang đói khổ trong khi những nhà đại tư bản càng lúc càng thâu tóm được nhiều tiền, tuổi trẻ ngày càng dấn sâu vào những tệ trạng đáng quan ngại như băng đảng, hút xách, trụy lạc, bạo động, sự tiến bộ vượt bực của khoa học kỹ thuật đẩy con người lao nhanh vào hướng tha hóa, đánh mất chính tự thể mình, những giá trị đạo đức truyền thống ngày càng bị thử thách nghiêm trọng trước đời sống chỉ chuộng hình thức bề ngoài của con người, v.v...

 

Tất nhiên, không ai có thể phủ nhận được những sự thật bi đác ấy! Nhưng chính vì xã hội loài người còn khổ đau và mầm mống của khổ đau mà sứ mệnh giác ngộ và giải thoát của Phật giáo lại càng trọng đại hơn bao giờ hết. Người con Phật có thể hóa thân vào tất cả mọi giai tầng xã hội để giúp người và độ mình: Làm kinh tế để kiếm tiền mà tế bần, làm chính trị để an bang tế thế, làm nhà ngoại giao để ổn định sơn hà xã tắc, làm lương y để chữa lành bệnh khổ cho chúng sanh, làm luật sư để dựng lại niềm tin của quần chúng đối với nền pháp kỷ nghiêm minh, làm nhà giáo để bồi đắp cho những mầm non thành người ích nước lợi dân, làm vị tu sĩ đạo hạnh thanh tịnh để gầy dựng nếp sống tâm linh thuần khiết cho chúng sanh, v.v... Truyền thống Đại thừa Phật giáo chẳng đã dạy kẻ hành đạo phải tinh thông Ngũ minh (Thanh minh, y phương minh, công xảo minh, nhân minh và nội minh) để độ người, độ mình đó sao? Vấn đề then chốt là ở chỗ làm sao giữ được nội dung cốt tủy của đạo Phật là giác ngộ vô minh và giải thoát phiền não khổ đau. Điều ấy không phải chỉ nói suông bằng lời, mà phải khẩn thiết thực nghiệm bằng sự tu tập các pháp môn trong từng giây phút trong đời sống hằng ngày. Bởi lẽ, nếu không thực chứng thì mọi hành tác dù mang bất cứ danh nghiã cao thượng nào cũng vẫn là những vọng động điên đảo của vô minh, của ngã chấp. Cho nên, kinh Hoa Nghiêm có dạy: "Vong thất bồ đề tâm tu chư thiện pháp thị danh ma nghiệp." (Không hiển lộ tâm giác ngộ thì dù thực hành các pháp lành cũng chỉ là những tạo tác của ma).

 

Làm sao để hiển lộ tâm giác ngộ? Làm sao để không trở thành tạo tác của ma? Con đường đã thật sáng và rõ: Thực hành sự quán nghiệm diệu lý duyên sanh. Chính đức Phật cũng đã làm như vậy và ngài đã thành tựu đạo quả giác ngộ.

 

Nói như thế e có người cho rằng Phật giáo đang muốn Phật hóa toàn cầu. Sự thật quan niệm này đã trái ngược với diệu lý duyên sanh. Vì diệu lý duyên sanh, như đã nói, mở bày sự thật rằng tất cả các pháp đều gỉa danh, đều không tự tánh, đều không, ngay chính bản thân của duyên sanh cũng là giả danh, là không. Mục đích của đạo lý duyên sanh là khai thị ý nghiã giả danh và không của các pháp để chúng sanh siêu việt lên trên nhị đế và thể nhập vào trung đạo đệ nhất nghiã của chân không diệu hữu. Ở đây, không còn sự ràng buộc giới hạn của danh tướng, của vọng tưởng thì làm gì có vấn đề Phật giáo hóa ai. Quan niệm trên về một thứ Phật giáo hóa, toàn cầu hóa là quan điểm mang xác tính về một Phật giáo, hay một mô thức nào đó như một thực thể, một hữu ngã, rồi đem cái thực thể, cái hữu ngã ấy làm lớn rộng ra, hay ngay cả đến việc áp đặt nó lên những thành phần khác để biến những phần khác thành cái mà mình muốn "hóa". Quan điểm này không có chỗ đứng trong đạo Phật. Vì mục đích của đạo Phật là làm cho tất cả chúng sanh buông xả mọi vọng chấp, mọi trói buộc từ tâm đến cảnh, nay nếu "Phật hóa" theo thể điệu này thì chẳng khác gì triền phược con người vào cái khung khô chết! Quá khứ hai ngàn năm lịch sử của nhân loại đã chứng thực rằng chính vì tham vọng thống trị hay "hóa" thế giới mà con người đã nhẫn tâm gây ra biết bao máu lửa, đổ nát và tang thương! Ngược lại, nếu hiểu "Phật hóa" là làm cho tất cả chúng sanh đều thành Phật, đều giác ngộ vô minh và giải thoát mọi khổ đau thì đúng là tâm nguyện của mọi người Phật tử. Đây cũng chính là mục tiêu thỉ chung của đạo Phật từ ngàn xưa đến ngàn sau, không luận là bao nhiêu thiên kỷ.