CHÙA LÀ CÁI THIỆN CỦA LÀNG
Phạm Xuân Đài
Trong truyện ngắn Người ở Làng Phao đăng trên một tờ báo Sài Gòn năm 1990, tác giaœ Nguyễn Khaœi đã cho nhân vật chính, một bí thư huyện uœy có tinh thần đổi mới tại một địa phương miền Bắc nói những lời này: "Làng tôi có nghề pháo là nghề cuœa tổ cho, thì nhà nhà đều được quyền làm pháo, cấm thế quái nào được. Đình là cái gốc cuœa làng, tôi hô hào dân boœ tiền ra tu sưœa, soạn lại thần phaœ. Chùa là cái Thiện cuœa làng, tôi mời sư về trông nom, tối một hồi chuông, sáng một hồi chuông, thằng ăn cướp nghe chuông mãi cũng có lúc phaœi hồi tâm nghĩ lại: Có cơm để ăn, có Phật để lễ, người ngợm lại khác ngay, lại hiền lành tưœ tế không đâu bằng."
Cái làng pháo mà tác giaœ taœ là hình aœnh thu nhoœ cuœa xã hội Việt Nam sau mấy mươi năm trong chế độ cộng saœn: cái gốc bị phai mờ, tình caœm tốt đẹp nhân hậu giữa người với người không còn, kinh tế kiệt quệ, người ta chưœi ruœa nhau, hãm hại nhau, chia bè chia cánh, cường hào (tức cán bộ lãnh đạo đaœng và chính quyền địa phương) nổi lên thi nhau bách hại dân chúng. Thật giống như anh em sinh đôi với xã hội Trung Hoa dưới thời Mao đã được một tác giaœ Trung Hoa viết gần đây:
"Cố gắng lớn nhất cuœa chúng ta mười mấy năm nay không phaœi là caœi thiện mối quan hệ giữa con người với con người. Thậm chí tớ cho rằng đó là điều tai họa lớn nhất mà chúng đã gây ra. Chúng đã phá hoại sạch trơn mọi thứ tin cậy, thiện ý, nhân đạo và nghĩa hiệp khí khái giữa con người với con người, đã biến con người thành cáo và chó sói." (Trương Hiện Lượng, trong tiểu thuyết Một Nưœa Đàn Ông Là Đàn Bà, baœn dịch xuất baœn ơœ Sài Gòn năm 1989).
Tác giaœ Nguyễn Khaœi đã tạo ra một mẫu người lãnh đạo mới tại địa phương để mong cứu vớt cái xã hội gớm ghiếc ấy tại xứ sơœ mình. Mẫu người này không phaœi là người cộng saœn chính thống theo kiểu giáo điều, vì với giáo điều "tôn giáo là thuốc phiện cuœa dân chúng" thì anh ta không thể cho rằng "Chùa là cái thiện cuœa làng". Người này cũng không phaœi là một keœ thực dụng, trước caœnh phá saœn tinh thần và vật chất cuœa địa phương mình vội vã tìm bất cứ phương thuốc gì để cứu chữa, kể caœ thuốc phiện, vì rõ ràng anh ta trực giác được thông qua truyền thống nằm trong vô thức cuœa anh những giá trị nhân baœn rất sâu xa mà cộng đồng người nào trên trái đất này cũng cần để phát triển bình thường: thờ kính tổ tiên, tôn trọng truyền thống, nâng niu đời sống tâm linh và không o ép người dân trong làm ăn sinh hoạt. Người này chỉ đơn giaœn là đặt lại đúng vấn đề, "đặt lại" mọi chuyện như nó vốn có, sau mấy mươi năm đaœo lộn tứ tung.
Đặt lại vấn đề như nó vốn có trong xã hội Việt Nam cổ truyền thì phaœi xem tôn giáo là một yếu tố quan trọng. Những người cộng saœn Việt Nam khi áp dụng chuœ nghĩa duy vật và đưa đất nước vào một cuộc phiêu lưu mới, đã dứt khoát phuœ nhận vai trò tích cực cuœa tôn giáo trong xã hội. Họ tạo ra một cái thang giá trị đạo đức khác với cái mà loài người đã tạo ra qua lịch sưœ tiến hóa cuœa mình, trong đó có kinh nghiệm tâm linh đã được khẳng định nhiều ngàn năm như là một khát vọng và một khaœ năng cuœa con người hướng về cõi Thiện tuyệt đối. Người duy vật hạ cái điểm tuyệt đối ấy xuống thấp, cụ thể nhìn thấy dễ dàng. Đaœng lãnh đạo, tức đaœng cộng saœn, thành điểm tuyệt đối cuœa mọi tình caœm đạo đức: đó là nguồn gốc cuœa mọi lẽ Thiện. Nó sẽ định ra mọi tiêu chuẩn cho đời sống tinh thần và vật chất. Nhưng việc đầu tiên là phaœi biết căm thù. Người ta học tập căm thù, thao dợt căm thù. Căm thù là tiền đề cho sự xây dựng một xã hội mới, trong đó có cái gọi là đạo đức. Rồi sau đó đến yêu đaœng, yêu lãnh tụ, yêu giai cấp, tất caœ phaœi là nền móng đầu tiên và là điểm vươn xa cuối cùng cho tình caœm đạo đức cuœa một con người sinh ra trong xã hội ấy. Các tình caœm khác là thứ yếu, hoặc có thể là tàn tích xấu xa cuœa quá khứ, cần tiêu diệt. Sự thể nghiệm đời sống tâm linh hoàn toàn không cần thiết cho người cộng saœn, nếu không nói là một yếu tố phaœn động. Trước đây ơœ miền Bắc họ tìm mọi cách khống chế các tôn giáo, không cho dân chúng, nhất là lớp treœ sinh hoạt tín ngưỡng. Họ không chịu hiểu cái phía bên kia cuœa sự hợp lý, không chịu hiểu cái khaœ năng ngoài lý trí và tình caœm thông thường mà con người mang trong nó (hoặc hiểu mà muốn tiêu diệt đi).
Tôn giáo có cái công dụng thực dụng mà nó đem lại cho xã hội: Vì sợ hãi sự trừng phạt ơœ thế giới bên kia mà người dân hiền lành hơn, không làm việc ác. Nhưng sức mạnh chính cuœa tôn giáo không phaœi là răn đe, dù là một cách êm dịu. Sức mạnh đó là caœm hứng về thể nghiệm điều Thiện nhờ việc hành đạo. Các lý thuyết chính trị, xã hội, triết học (kể caœ môn đạo đức học) dù có khát khao cũng không làm điều đó được, tức làm tự thân con người vươn cao một cách tự giác vì chỉ đụng đến vùng lý trí chứ không phaœi vùng tâm linh cuœa con người. Lý trí chỉ biếu cho con người sự hợp lý để phục vụ đời sống, trong khi thể hiện tâm linh giúp cho con người bay bổng, như sự khác nhau giữa một bài luận chứng kinh tế và một bài thơ. Tôn giáo là cái cưœa mơœ lên trời cuœa ngôi nhà nhân loại. Nhờ cái cưœa ấy ánh sáng nội tại trong con người được khêu lên làm rực rỡ ngôi nhà cuœa mình.
Năm 1975, khi người miền Bắc xã hội chuœ nghĩa vào chiếm miền Nam, một trong những phát hiện đầu tiên cuœa họ là: treœ con miền Nam lễ phép quá và các thành phố miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn rộng lớn, lại trật tự, kyœ luật quá (trong khi chúng ta, người miền Nam đã thấy Sài Gòn lộn xộn quá rồi, vào thời điểm ấy). Điều ấy có nghĩa là đạo đức xã hội chuœ nghĩa, không biết đã được thực hiện ra sao ơœ miền Bắc, chứ sự biểu lộ sơ đẳng cuœa một nền đạo đức là tính lễ phép nơi treœ con và tinh thần trật tự trong pháp luật trong một đô thị thì hình như từ lâu rồi đã biến mất, vào thời điểm 75 đã thành một "cuœa lạ" đối với con người miền Bắc. Như vậy có thật là có một "nền đạo đức" đã được thành hình ơœ miền Bắc không?
Hồi chúng tôi mới ra ơœ một trại caœi tạo trong tỉnh Thanh Hóa, một viên công an treœ dẫn đội tôi đi lao động đã baœo một người bạn cuœa tôi leœn vào nhà kho cuœa trại ăn cắp cho anh ta một món gì đó, người bạn cuœa tôi từ chối, đã được người cộng saœn "dạy" cho rằng: "Các anh vẫn không chừa cái thói tư saœn: lương tâm, danh dự, rụt rè. Nói thật với các anh, nếu các anh vẫn giữ cái thói ấy thì các anh không sống được với xã hội này đâu." Sau này chúng tôi mới thấm thía vì đó là sự thật hoàn toàn.
Có một câu thiện thường được nhắc đến để chứng toœ là có một nền đạo đức xã hội chuœ nghĩa: "mình vì mọi người, mọi người vì mình". Về ý nghĩa câu nói ấy, nưœa có tính cách vị tha, nưœa như gợi ý một sự đổi chác. Đó chỉ là lời kêu gọi một thứ đạo đức thực dụng. Ánh sáng cuœa cái Thiện hầu như đã tắt ngấm khắp nơi.
Cuộc giao lưu hai miền Nam Bắc năm 1975 đã làm nổi bật sự khác biệt giữa con người hai miền. Người miền Nam nhân hậu hơn, người miền Bắc xã hội chuœ nghĩa nói chính trị gioœi hơn. Nhìn chung đời sống tinh thần thì người miền Bắc xã hội chuœ nghĩa có cái gì ngắn hơn, hẹp hơn người miền Nam. Điều này dễ hiểu vì miền Bắc bưng bít thông tin triệt để, dân chúng chỉ được nghe và đọc những gì nhà nước cung cấp. Nhưng không chỉ có thế. Họ còn thiếu caœ cái veœ nhẹ nhõm mộc mạc mà người ta có thể gặp ơœ một số dân tộc bán khai tuy ơœ biệt lập với thế giới bên ngoài mà vẫn tự do trong sinh hoạt tâm linh. Tức là người dân trong xã hội miền Bắc không những bị ngăn chận thông tin với thế giới bên ngoài mà còn bị ngăn chận với thế giới bên trong cuœa họ: họ thiếu tôn giáo, thiếu hẳn sự thể nghiệm, sinh hoạt cái tâm thức vô cùng sâu thẳm và phong phú vốn con người ai cũng có. Thoạt đầu họ hãnh diện về điều này, cho là họ đã đạt một bước tiến bộ hơn dân miền Nam hãy còn nhiều mê tín, lạc hậu, nhưng năm tháng trôi qua, trong điều kiện dễ dãi hơn, họ bắt đầu tự khai mơœ và thăng hoa khaœ năng về tâm linh, vốn chỉ có nó mới cho con người một ý niệm đạo đức thật sự và khiến con người nhân đạo hơn. (Con gái ông Trường Chinh, một kiến trúc sư, bây giờ ơœ Đà Lạt, đang thờ Phật trong nhà, tôi cho chẳng có gì là lạ). Khi mới thoạt tiếp xúc với xã hội miền Nam, họ ngạc nhiên trước điều đình, chùa, nhà thờ, miếu mạo được xã hội công nhận thật sự là chỗ tôn nghiêm và được dân chúng sùng kính một cách thành thật và công khai. Rồi ký ức cá nhân hay tập thể nơi họ dần dần hồi phục, mách baœo họ rằng những điều ấy chẳng có gì là lạ caœ, nó chỉ là một nếp văn hóa truyền thống cuœa dân tộc Việt Nam mấy mươi năm qua được tiếp tục ơœ miền Nam mà thôi.
Quan hệ giữa chính quyền cộng saœn và tôn giáo luôn luôn là một quan hệ căng thẳng chứ không bao giờ là một sự hòa hợp. Đó là sự ơœ chung một nhà cuœa hai keœ không bao giờ thừa nhận nhau mà chỉ chờ ngày cáo chung cuœa nhau. Những giáo hội thầm lặng cố gắng nuôi dưỡng đức tin trong một cõi giống như địa ngục, cố gắng vừa hòa hợp vừa chống chọi với hàng ngũ "tu sĩ quốc doanh" cuœa nhà nước tung ra để Mác Xít hóa các tôn giáo, và người ta hay dùng chữ "yêu nước" (Phật giáo yêu nước, Công giáo yêu nước...) để che dấu ý đồ này, làm như các tôn giáo tự nó không bao giờ biết yêu nước là gì. Chùa chiền cổ ơœ miền Bắc rất nhiều nhưng đều biến thành các di tích, và không thiếu các nhà thờ ơœ thôn quê biến thành nhà kho nông nghiệp. Cuộc tranh đấu không cần sức giữa chính quyền và các giáo hội dằng dai một cách không ngờ, một bên đầy đuœ quyền hành, thuœ đoạn và ý chí bóp chết bên kia, một bên chỉ còn một vũ khí duy nhất là ánh sáng bên trong, tuy không lộ ra là một sức mạnh áp đaœo, nhưng bền bĩ vì được "tu luyện" hàng ngàn năm nên bên kia thổi mãi vẫn không tắt được.
Người ta kể cho nhau nghe mẩu chuyện giữa một cán bộ cộng saœn cao cấp và một giáo sĩ Thiên Chúa người Tây phương tại Sài Gòn, năm 1975:
"Các ông đã thấy sự thành tựu vĩ đại cuœa chuœ nghĩa cộng saœn chưa? Mới ra đời có hơn một trăm năm nó đã toàn thắng trên nưœa quaœ địa cầu, và vừa rồi toàn thắng trên caœ nước Việt Nam. Còn đạo Thiên Chúa cuœa các ông ra đời đã hai ngàn năm, vẫn không đem lại được một cái gì cụ thể cho nhân loại như là cuộc cách mạng vô saœn cuœa chúng tôi."
Vị linh mục traœ lời:
"Những điều ông nói đều đúng. Nhưng tôi tự hoœi hai ngàn năm nữa thì chuœ nghĩa cộng saœn có còn là gì không, như là đạo Thiên Chúa đã tồn tại hai ngàn năm qua?"
Vị giáo sĩ ấy bị trục xuất ngay khoœi Việt Nam. Vì sao? Tôi nghĩ vì ông ta đã gieo nỗi run sợ cho người cán bộ cộng saœn khi đưa ra một viễn tượng ngoài khaœ năng nhìn cuœa họ.
Đaœng Cộng saœn Việt Nam trong năm 90 vừa long trọng khẳng định lại địa vị độc tôn cuœa mình, quyết không từ boœ chuœ thuyết Mác-Lênin và cuộc cách mạng vô saœn, khẳng định lại là chuœ nghĩa tư baœn "sẽ giẫy chết" (thay vì đang giẫy chết). Người ta không phuœ nhận thời gian nầy vẫn là thời kỳ quá độ, nghĩ là mọi cái không phaœi thuộc tính cuœa chuœ nghĩa cộng saœn chỉ là tạm thời, là thoœa hiệp giai đoạn. Như vậy ai mà biết được cái cơ chế kinh tế theo thị trường và cho phép tư hữu như hiện nay sẽ tồn tại được bao lâu trước khi đaœng thấy có thể quay trơœ về tập thể hóa, diệt tư hữu, đánh tư saœn v.v... vốn là cái cốt lõi cuœa chuœ nghĩa cộng saœn? Nhiều cái còn mập mờ. Vấn đề tôn giáo cũng thế. Cho đến nay, đaœng cộng saœn không bao giờ chính thức thừa nhận sự cần thiết cuœa chính nó. Chính sách có phần dễ dãi cho tôn giáo hiện nay có veœ là: sơœ dĩ tao cho mày sống chỉ vì tao chưa giết được mà đó thôi. Trong khi đó, các tôn giáo ngày càng chiếm lĩnh quần chúng ơœ mọi cấp độ, một số không ít đaœng viên đã đến với tôn giáo và hầu hết đều quay về với sự thờ cúng tổ tiên mà họ đã rất lơ là mấy chục năm, trong khi sự quyến rũ cuœa chuœ nghĩa cộng saœn trong dân chúng xem như đã triệt tiêu. Cái duy nhất nó còn lại là bộ máy quyền lực khá mạnh để duy trì một cái đaœng treo lơ lưœng vì không có chỗ đứng trong lòng người dân.
Các nhà văn, nhà văn hóa trung thực ơœ đây đã nhìn thấy sự cần thiết mơœ rộng và nâng cao tâm thức cuœa người dân, điều mà chỉ có tôn giáo hoặc một thực hành theo lối tôn giáo mới có thể đạt được. Nhà văn Nguyên Ngọc trong một bài báo phê phán sự nông cạn, hẹp hòi, vụ tuyện truyền cuœa chương trình văn học trong nhà trường, đã kêu gọi đào sâu hơn nữa về cổ văn, mơœ rộng việc chọn lựa tác phẩm giaœng dạy, và độc đáo hơn, gợi ý caœ việc giaœng dạy kinh Phật và kinh Thánh, vốn là những kho báu cuœa nhân loại chứa đựng những caœm hứng vô tận về những vấn đề nhân baœn.
Còn tác giaœ Lê Ngọc Trà trong một số bài bàn về sự thách thức cuœa văn hóa khi nó được mơœ rộng và phát triển đối với lực kèm kẹp cuœa chính quyền, đã kết luận: "Người có văn hóa càng cao thì lòng nhân ái và chữ tâm lại càng phaœi sáng."
Và trên tạp chí Sông Hương 3-90 (số cuối cùng trước khi bị đóng cưœa), Nguyễn Huy Thiệp đã viết: "... Ý thức tín ngưỡng hướng thượng khác với mê tín dị đoan. Tôi đã thấy những thành kiến tôn giáo làm cho tư tươœng các nhà văn ơœ ta thấp kém đi như thế nào. Những nhà văn tiến bộ không uœng hộ thần quyền nhưng cũng không giữ những thành kiến tôn giáo. Ý thức tín ngưỡng hướng thượng, vươn lên sự cao caœ, chân lý, cái đẹp, sự tuyệt đối phaœi là những hòn than đoœ uœ trong tác phẩm nhà văn." (Khoaœng trống ai lấy được trong tư tươœng nhà văn).
Cái công thức: "Có cơm để ăn, có Phật để lễ, người ngợm lại khác ngay, lại hiền lành tưœ tế không đâu bằng" cuœa anh chàng huyện uœy treœ tuổi xem ra đơn giaœn mộc mạc nhưng không phaœi không sâu sắc. Nó thâu tóm những gì rất người, mà lại rất Việt Nam. Điều khó hiện nay là chỗ này "Chùa là cái thiện cuœa làng tôi mời sư về trông nom..." Sư đâu mà mời, trong caœ nước và nhất là miền Bắc hiện nay, sự đào tạo tu sĩ vẫn còn hạn chế, khó khăn lắm! Niềm ao ước bức thiết cuœa mọi người—cuœa xã hội ta—bây giờ là có thật nhiều các bậc chân tu. Để đạt được điều đó, ngoài cố gắng tự thân cuœa giáo hội, còn phaœi có sự yểm trợ cuœa toàn xã hội, cuœa người Việt trong và ngoài nước. Chắc chắn phaœi gặp nhiều thưœ thách gay go. Cần phaœi kiên trì. Đến ngày nào mỗi làng Việt Nam nhất là ơœ miền Bắc (vì sự phá saœn ơœ đây nặng nề nhất) sớm chiều có tiếng chuông ngân nga, chùa là cái Thiện cuœa làng, lúc ấy người Việt Nam với tâm thức được khai mơœ trơœ lại cội nguồn uyên nguyên cuœa dân tộc, mới thực sự ơœ ngưỡng cưœa cuœa một mùa Xuân mới, và chỉ lúc đó mới có thể bắt đầu trơœ lại một cuộc đời tốt đẹp. º
(trích Hà Nội Trong Mắt Tôi, tùy bút cuœa Phạm Xuân Đài, do nhà Thế Kyœ xuất baœn 1994. Tác giaœ hiện đang ơœ California Hoa Kỳ và là Chuœ bút tạp chí Thế Kyœ 21)