BUDDHA HOME

PHẬT PHÁP


 

  BẤT DUNG TÔN GIÁO:

THẢM HỌA CỦA LOÀI NGƯỜI

Huỳnh Kim Quang

 

Vào những ngày cuối tháng 2 và đầu tháng 3 năm 2001, cả thế giới bàng hoàng trước tin chính quyền Hồi giáo Taliban ở Afghanistan ra lệnh phá hủy tất cả các di sản văn hóa không thuộc Hồi giáo, bao gồm hai tượng Phật cổ và lớn nhất thế giới đã được tạc vào vách núi ở thung lũng Bamiyan cách nay gần hai ngàn năm! Mặc dù, có nhiều nổ lực của Liên Hiệp Quốc, các chính phủ khắp nơi trên thế giới, trong đó có các chính phủ thuộc những nước Hồi giáo, các tổ chức văn hóa, tôn giáo, và trí thức tại nhiều quốc gia, nhằm kêu gọi và can thiệp để chấm dứt sự triệt hủy các di tích văn hóa qúy giá của nhân loại này, nhưng mọi cố gắng đều thất bại! Phe Hồi giáo Taliban vẫn tiến hành sự bất dung tôn giáo của họ, dù tôn giáo đó đã một thời là nguồn mạch sống trọng yếu của dân tộc Afghanistan.

Đó là chuyện đột biến mới đây, còn hằng ngày và hiện nay tại Trung Đông, tại Ái Nhĩ Lan, tại vùng Balkan, tại Nam Dương, tại châu Phi vẫn thường xuyên xảy ra những vụ tàn sát lẫn nhau vì không cùng đức tin tôn giáo. Không phải chỉ thời đại này mới có vấn đề bất dung tôn giáo trầm trọng diễn ra mà từ xa xưa việc này cũng đã từng gây bao nhiêu tang thương và đổ nát. Phật giáo tại Ấn Độ đã từng bị hủy diệt khốc liệt hầu như toàn diện bởi Hồi giáo vào cuối thế kỷ thứ 12 và đầu thế kỷ thứ 13 sau Tây lịch. Những người đến định cư đầu tiên tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này cũng là những nạn nhân của sự bất dung tôn giáo ở châu Âu. Phật giáo tại Tây Tạng, tại Trung Hoa, tại Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua vẫn tiếp tục là nạn nhân của các chính sách bất dung tôn giáo của những chính quyền cộng sản độc tài toàn trị.

Tất nhiên, không ai có thể đưa ra hết các trường hợp bất dung tôn giáo đã diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử có mặt của nhân loại. Vì nơi nào có sự hiện hữu của tôn giáo thì nơi ấy có sự bất dung tôn giáo ra đời. Sự bất dung tôn giáo không phải chỉ xảy ra giữa hai tôn giáo khác nhau, nó còn xảy ra trong cùng tôn giáo, hoặc giữa các thế lực thế tục, các thế lực chính trị và tôn giáo nữa.

Thảm họa của bất dung tôn giáo thì thật không kể xiết. Nó làm cho đời sống một cá nhân không an lành, không hạnh phúc, không thể mở tâm trí ra để tiếp nhận những tinh hoa mầu nhiệm của thế giới đa dạng chung quanh để làm cho cuộc đời thêm sinh động. Nó làm cho xã hội đầy bất an, hận thù, chết chóc, máu lửa, phân hóa, đau thương và kiệt quệ. Nó giết chết bao nhiêu thế hệ con người từ tuổi măng non vì thù hằn đấu tranh, vì khép kín cuộc đời trong cái vỏ ốc cuồng tín, cố chấp, vị kỷ. Nó phá hủy biết bao công trình văn hóa tim óc giá trị của nhân loại và tận diệt mọi mầm mống kỳ diệu từ trí tuệ sáng tạo của con người. Một vài thí dụ điển hình về thảm họa này như khi Hồi giáo mở chiến dịch tiêu diệt Phật giáo ở Ấn Độ vào cuối thế kỷ thứ 12 và đầu thế kỷ thứ 13, hàng chục ngàn Tăng, Ni và cư sĩ Phật tử bị thảm sát, bị bắt hoàn tục, bị bắt cải đạo, hàng ngàn thánh tích bị tàn phá, trường Đại học lâu đời và danh tiếng nhất của Phật giáo thế giới là Đại học Na Lan Đà cũng đã bị phá sạch. Khi chính quyền cộng sản Trung Hoa xâm chiếm Tây Tạng bằng vũ lực vào các thập niên năm mươi, sáu mươi của thế kỷ này cho đến nay, họ đã không ngừng sử dụng chính sách tiêu diệt và đồng hóa văn hóa Tây Tạng mà trong đó Phật giáo đóng vai trò chủ đạo. Cũng như khi chế độ cộng sản áp đặt sự thống trị của họ lên toàn cõi Hoa lục và lên toàn lãnh thổ Việt Nam, họ đã liên tục thực hiện chính sách bất dung tôn giáo ở những mức độ tàn nhẫn nhất, như giết hại, tù đày, tra khảo, quản thúc, bắt hoàn tục các vị lãnh đạo, các Tăng, Ni, họ đã triệt tiêu các tài liệu, kinh sách, báo chí Phật giáo, họ đã phá hoại các di tích văn hoá Phật giáo bằng cách đập phá các tượng Phật, sung công và biến các chùa viện, các cơ sở văn hóa, xã hội Phật giáo thành nơi sinh hoạt thế tục như nhà kho, nhà nuôi gia súc, nhà ở cho bộ đội, cho cán bộ, v.v...

Bất dung tôn giáo diễn ra qua ba hình thái: Một là giữa hai tôn giáo khác nhau, hai là giữa cơ chế chính trị cầm quyền và tôn giáo, ba là trường hợp một tôn giáo nắm trọn cơ chế chính trị cầm quyền trong tay thực hiện chính sách bất dung với một tôn giáo khác như trường hợp chính quyền Hồi giáo tại Afghanishtan hiện nay. Trong trường hợp thứ ba này thì mức độ bất dung tôn giáo có thể đạt đến toàn diện và như thế thì thật đáng kinh hoàng!

Từ bản chất, các tôn giáo nói chung không chủ trương gieo rắc hận thù mà chỉ cổ võ cho nền hòa bình vàsự thương yêu lẫn nhau. Vì các vị giáo chủ sáng lập ra tôn giáo không phải để phá hoại trật tự thế giới và tạo ra thù hận giữa người với người mà để xây dựng cuộc sống hạnh phúc, an vui và thánh thiện cho loài người. Đây chính là lý do cho sự xuất hiện, và sự tồn tại của một tôn giáo trong dòng vận hành lịch sử của nhân loại. Bởi vì, nếu một tôn giáo nào đó đến thế giới này với mục đích phá hoại, hoặc đem lại sự bất an và thù hận, hoặc mê hoặc và phàm tục hóa con người thì tôn giáo đó nhất định phải bị ruồng bỏ, phải bị đào thải ra khỏi xã hội khi nhận thức và trí tuệ của con người mở rộng ra theo tiến trình văn minh của nhân loại.

Sự bất dung giữa hai tôn giáo xảy ra khi một trong hai, hoặc cả hai quan niệm rằng tôn giáo khác là một tà giáo cần phải được dẹp bỏ, vì nếu không, nó sẽ mang lại những thảm họa cho con người. Sự bất dung tôn giáo còn xảy ra khi một tôn giáo cho rằng sự có mặt của tôn giáo khác là chướng ngại lớn lao trong công cuộc bành trướng thế lực của tôn giáo mình. Để thực hiện chủ trương bất dung tôn giáo, tôn giáo này tấn công tôn giáo khác với tâm trạng thù hận hoặc ganh tị bằng lý thuyết trên các diễn đàn, trên mặt truyền thông, báo chí, sách vở, đưa ra những sai lầm, những khuyết điểm, những điều mà họ cho là tà hoặc của tôn giáo khác hầu thuyết phục tín đồ và những người khác tin tưởng điều họ chủ trương là đúng. Người ta còn tận dụng hết phương tiện trên mặt thực tế xã hội để tấn công tôn giáo khác bằng sự cổ võ việc kỳ thị, việc cô lập, việc mạ lỵ công khai, việc hành hung cá nhân các tín đồ khác tôn giáo, việc cấu kết với các thế lực chính quyền để gây khó khăn, để phá hoại hoặc để tiêu diệt tôn giáo khác.

Các chế độ chính trị nắm quyền cai trị quốc gia có khuynh hướng độc tài hoặc một chế độ cộng sản thường không bao giờ chấp nhận sự hiện hữu độc lập của tôn giáo. Bởi vì các cơ chế chính quyền này không để cho bất cứ một tổ chức nào, dù là tổ chức tôn giáo, đứng ngoài vòng kiểm soát và cai trị của họ. Những cơ chế chính trị độc tài và cộng sản thường rất sợ các tổ chức có sự hậu thuẫn đông đảo của quần chúng, nhất là các tôn giáo, nơi mà con người đặt hết niềm tin, đời sống tâm linh và thể mệnh của họ vào đó. Đặc biệt đối với chủ nghiã cộng sản thì "tôn giáo chính là thuốc phiện của nhân dân," cho nên, tôn giáo cần phải được đặt dưới sự quản chế của đảng và chính quyền, nếu không được như vậy thì tôn giáo ấy cần phải bị tiêu diệt. Khi một cơ chế chính trị đang nắm quyền cai trị quốc gia mà có chủ trương bất dung tôn giáo thì hậu quả thật khốc liệt, bởi vì, họ sẽ sử dụng tất cả phương tiện thuận lợi trong tay để thực hiện cho bằng được chính sách này. Như thế tôn giáo bị nạn khó tránh những thảm họa bi thống nhất. Lịch sử nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng đã ghi nhận nhiều trường hợp một tôn giáo bị cấm hoạt động, bị giải thể, hay bị phá hoại vì là nạn nhân của chính sách bất dung tôn giáo. Tình trạng bi thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Việt Nam hiện nay là một điển hình cụ thể.

Sở dĩ có sự bất dung tôn giáo vì con người không mở rộng được tâm trí để vượt lên trên những định kiến, cố chấp và nhận thức được chân giá trị của mọi hiện hữu. Định kiến rằng chỉ có tôn giáo của mình, giáo phái của mình, chủ nghiã của mình, chế độ của mình là đúng, là chân lý, là toàn hảo, còn các tôn giáo khác, các giáo phái khác, các chủ nghiã khác, các chế độ khác đều sai, đều không phải là chân lý, đều cục bộ. Đó là một định kiến sai lầm. Sai lầm vì đó là thái độ độc tôn trong nhận thức. Với thái độ này, con người sẽ đóng kín cửa nhận thức của họ lại và không chấp nhận bất cứ quan điểm nào của kẻ khác. Từ đây con người bị trói buộc trong thế giới nhỏ hẹp của cố chấp và cục bộ. Với phương cách này, con người đã không tự cho họ có cơ hội qúy giá để tiếp nhận những tinh hoa trí tuệ khác. Do đó, họ là kẻ bị đẩy lùi lại trước sự tiến hóa không ngừng của nhân loại. Lịch sử loài người đã chứng minh rằng những chân lý tương đối vốn dĩ thường xuyên bị vượt qua bởi những chân lý tương đối khác, và cứ thế không một chân lý tương đối nào là chân lý vĩnh viễn. Nếu chân lý của tôn giáo, của giáo phái, của chủ nghiã, của chế độ của bạn là chân lý tuyệt đối thì tại sao bạn lại không để nó tự do phát huy diệu lực của nó với tất cả những cái chân lý khác? Tại sao bạn phải tiêu diệt các tôn giáo, các giáo phái khác? Khi con người vì muốn độc tôn cho tôn giáo, giáo phái, chủ nghiã, chế độ của mình mà thực hành phương cách bất dung tôn giáo đối với các tôn giáo, giáo phái khác thì thật ra là họ đang tiêu diệt chính tôn giáo, giáo phái, chủ nghiã, chế độ của họ. Tại sao? Bởi vì, chính hành động bất dung tôn giáo của họ đã đẩy tôn giáo, giáo phái, chủ nghiã, chế độ của họ xuống vực sâu. Những người bất dung tôn giáo có thể sử dụng quyền lực nhất thời để trấn áp con người, có thể sử dụng thủ đoạn nhất thời để lừa gạt kẻ khác, nhưng họ không thể làm được việc ấy mãi mãi, vì chính họ cũng phải đầu hàng tử thần. Sau đó, con người sẽ đứng lên để lấy lại bình đẳng, công lý và lẽ phải. Lịch sử nhân loại đã chứng minh rất rõ điều này: Người Do Thái đã có quốc gia, người Công giáo La Mã đã phải thay đổi chính sách để thích ứng với từng thời đại, người Hồi giáo đã từ từ nhận thức được những bất lợi của các chính sách khép kín, độc quyền, cố chấp, bất bình đẳng nên đã có những quan điểm cởi mở hơn, những hành động uyển chuyển hơn với xã hội, chủ nghiã cộng sản đã sụp đổ trên toàn thế giới vì con người đã đứng lên bày tỏ thái độ nhận thức và lập trường tôn trọng quyền sống, quyền làm người, cùng các quyền tự do và dân chủ khác.

Bất dung tôn giáo vì không đủ trí tuệ để nhận thức rằng mọi hiện hữu đều có giá trị tồn tại như nhau. Nếu họ biết trân qúy tôn giáo, giáo phái, chủ nghiã, chế độ của họ thì tại sao người khác lại không biết trân quý tôn giáo, giáo phái của chính người ấy? Nếu họ nghĩ rằng chỉ có tôn giáo, giáo phái, chủ nghiã, chế độ của họ giúp ích được con người thì họ đã sai lầm, vì trên thế giới này những nơi, những thời điểm không có tôn giáo, giáo phái, chủ nghiã, chế độ của họ ngự trị nhưng con người cũng đã được dẫn đạo một cách tương đối hoàn hảo bởi những tôn giáo, giáo phái, chủ nghiã, chế độ khác. Nhận thức và trí tuệ của con người ngày càng tinh vi, sâu sắc và rộng lớn đủ để vượt lên trên tất cả những giới hạn của các chân lý tương đối. Nếu những người bất dung tôn giáo không từ bỏ các cố chấp nhận thức cục bộ của họ để bắt kịp với đà tiến bộ của con người và dung nhiếp những dị biệt, thì họ sẽ là người đẩy tôn giáo, giáo phái, chủ nghiã, chế độ của họ ra ngoài vận hành tiến hóa của lịch sử nhân loại.

Người cộng sản đã sai lầm nghiêm trọng khi cho rằng tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Không! Tôn giáo không là thuốc phiện. Tôn giáo là thuốc giải độc, thuốc giải khổ, thuốc giác ngộ cho tất cả mọi người không phân biệt giai cấp. Vì chủ trương cách mạng bạo lực để cướp chính quyền, người cộng sản sợ hãi tinh thần khoan dung, nhân ái, từ bi, bất bạo động và cuộc cách mạng tâm linh thầm lặng của tôn giáo sẽ cản trở sự thành đạt mục tiêu của họ. Trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử loài người, chúng ta thấy rằng mọi cuộc cách mạng bạo lực đều không giải quyết tận gốc những vấn đề trầm kha của xã hội: khổ đau vì sanh già bệnh chết, vì nghèo khó bần cùng, vì bất công, tham nhũng thối nát, hận thù, và những tệ nạn khác như mãi dâm, ma túy, băng đảng, v.v... Ngược lại, suốt vận hành lịch sử mấy ngàn năm qua, tôn giáo vẫn thường xuyên là ngọn đuốc soi đường, là chánh đạo dẫn đến an lạc và giải thoát cho tất cả muôn dân.

Một trong những đóng góp lớn lao nhất của tôn giáo chính là sự dựng lại niềm tin, đức tin cho con người để nhờ đó người ta có thể sống được một đời sống hiện tại tích cực, năng động và ý nghiã, cũng như để có thể nhìn về tương lai với niềm xác tín trong sáng mãnh liệt. Tùy theo căn tánh của mỗi người và giáo nghiã hướng đạo của mỗi tôn giáo, con người có thể thiết lập lại niềm tin của họ qua sự tự quyết gánh lấy trách nhiệm khổ đau hay an lạc trong đôi tay của mình bằng con đường tự tịnh hóa ba nghiệp; hoặc con người có thể dựng lại niềm tin của họ qua đức tin vào ân huệ tha lực bằng sự cứu rỗi. Chính vì vậy, tất cả đều nhận thức được giá trị đích thực của cuộc sống và mục tiêu tối hậu của nó.

Đóng góp lớn lao khác của tôn giáo là việc xây dựng nền móng vững chăéc cho những giá trị đạo đức, luân lý, giáo dục, văn hóa, và trật tự xã hội. Thật vậy, các triết lý về nhận thức luận, về vũ trụ và nhân sinh, cũng như các giáo lý, các điều răn, các giới luật, các phương thức điều phục ba nghiệp thân khẩu ý, các pháp môn thiền định, hiển phát trí tuệ và mở rộng lòng thương, v.v... của tôn giáo là những cẩm nang chuẩn mực để giúp con người ổn định những khuôn thước đạo đức, luân lý, giáo dục, văn hóa và trật tự xã hội. Xin lấy một thí dụ để minh giải cho điều này: Đạo Phật dạy người con Phật trước hết và cơ bản là phải sống đời sống người thật sự bằng cách thực hành tinh tấn không ngừng nghỉ năm nguyên tắc sống gọi là Ngũ giới: Không giết hại sinh vật, không lấy cắp tài vật của kẻ khác mà không được phép của họ, không ngoại tình, không nói sai sự thật, và không uống rượu hay các chất làm hôn mê tâm trí. Khi người Phật tử sống đúng theo năm nguyên tắc này thì không những mang lại vô số các điều lành cho bản thân, cho gia đình mà còn cho xã hội chung quanh người ấy nữa. Đó là một đời sống đạo đức, luân lý, có giáo dục, có văn hóa và cũng đồng thời góp phần vào việc ổn định trật tự xã hội. Đối với những vấn đề lớn lao này, các cơ chế chính quyền rõ ràng là không có đủ chức năng và diệu lực để thực hiện lâu dài và sâu rộng bằng tôn giáo.

Một đóng góp quan trọng khác của tôn giáo cho con người là việc đáp ứng một cách thỏa đáng nhu cầu về một đời sống tâm linh. Đây cũng chính là vai trò và chức năng chủ đạo của tôn giáo khi có mặt trên thế giới này. Đời sống của con người không phải chỉ biết thỏa mãn các nhu cầu thuộc vật chất và thể xác. Con người còn có đời sống tâm linh. Nhu cầu của đời sống tâm linh rất quan trọng đối với con người. Lịch sử của loài người đã cho thấy rằng dù ở trong thời đại cổ xưa hay hiện tại, dù trong hoàn cảnh sống mộc mạc thô sơ nghèo khó hay giàu sang phú quý tột cùng, con người vẫn không thể thiếu đời sống tâm linh. Đời sống tâm linh chính là phương thức hiện thực hóa tâm nguyện và khát vọng về cuộc sống thăng hoa siêu thoát lên trên những giới hạn, khổ não và hư vọng. Tất nhiên, tùy theo chủ kiến của mỗi tôn giáo mà sắc thái và chiều hướng của đời sống tâm linh có sai biệt.

Tôn giáo còn mang lại cho con người ý nghiã đặc thù của lòng thương yêu: Thương yêu kẻ khác, thương yêu đồng loại, thương yêu chúng sanh; thương yêu bằng tấm lòng chân thật, bằng sự bao dung và cảm nhận sâu thẳm. Qua đó, con người học cách vén mở cánh cửa của tự ngã để nhìn và thấy một cách như thực về sự hiện hữu đầy giá trị của kẻ khác, của chúng sanh. Khi thế giới nhỏ hẹp của tự ngã mở ra là lúc con người trút bỏ sự trói buộc bền chặc từ lâu của lòng vị kỷ, cố chấp, vô minh. Lòng thương yêu vì vậy chính là nguồn suối thanh lương không những làm mát và sạch cho vạn vật mà còn có khả năng tịnh hóa chính nó. Lòng thương yêu chứ không phải hận thù, đố kỵ mới là dưỡng chất nuôi sống con người và vạn loại chúng sanh. Thương yêu mang lại sự sống! Hận thù đem đến cái chết! Sự thật lịch sử đã cho thấy rằng những vị khai sáng ra các tôn giáo đều vì lòng thương yêu con người, vì lòng từ bi đối với chúng sinh nên mới thi thiết đạo lộ để cứu giúp, để tế độ.

Nói tóm lại, trong quá trình tồn tại và phát triển lâu dài của nhân loại, các tôn giáo đã đóng góp công sức thật lớn lao, thật xứng đáng. Nếu gạt bỏ đi những đóng góp trọng yếu này thì xã hội con người sẽ mất đi phần nội dung cốt lõi, sẽ trở nên trống rỗng và vô nghiã. Chính vì thế, các tôn giáo, các thế lực chính trị cầm quyền cần phải trân qúy sự có mặt của các tôn giáo. Các tôn giáo, các thế lực chính trị cầm quyền không nên khởi động bất cứ tâm ý, lời nói và hành động nào nhắm vào mục tiêu phá hoại các tôn giáo. Trong thời đại mà tất cả con người trên mặt đất này đều hướng về sự cảm thông, hợp tác, đối thoại và tương trợ lẫn nhau, nếu có một tôn giáo, một thế lực chính trị cầm quyền nào đó chủ tâm triệt hạ tôn giáo, thì tôn giáo ấy, chế độ chính trị ấy sẽ bị loài người ruồng bỏ, sẽ mất đất đứng trên hành tinh này. Lịch sử đang chứng minh điều ấy: Hiện nay, hàng ngàn người dân Afghanistan đang bỏ nước ra đi vì chế độ cục bộ cố chấp, tàn bạo và bất nhân của phe Hồi giáo Taliban. Trong vụ phá hủy các di sản văn hóa phi Hồi giáo bao gồm hai tượng Phật lớn nhất thế giới gần đây, chính quyền Hồi giáo Taliban cũng đã bị cả thế giới lên án.

Đối với việc hai tượng Phật lớn bị chính quyền Hồi giáo Taliban phá hủy gần đây, cũng như đối với những hành vi tàn bạo của người cộng sản đã sử dụng để tiêu diệt Phật giáo tại Tây Tạng, Trung Hoa và Việt Nam trong suốt mấy thập niên qua, người Phật tử nghĩ gì? Tất nhiên, cảm thức đầu tiên và mãnh liệt nhất đối với một con người bình thường là niềm đau vô hạn. Làm sao không cảm thấy đau xót khi biết rằng tôn tượng, dù chỉ là pháp vô thường, của vị đạo sư vĩ đại nhất trên đời này đang bị đập phá, đạo Phật đang bị đàn áp? Dù rằng người Phật tử có thể rất bất mãn việc làm của chính quyền Hồi giáo Taliban, hoặc bất cứ thế lực chính quyền nào khác, nhưng người Phật tử không thể có ý nghĩ, lời nói và hành động trả thù. Bởi vì, trả thù sẽ tạo thêm những mất mát và đổ vỡ cho xã hội, trả thù là đi ngược lại lời dạy của đức Phật, trả thù là nuôi dưỡng nguyên nhân gây ra khổ đau và chính sự khổ đau, trả thù là lập lại hành vi sai lầm, bất nhân mà đối phương đã sử dụng và chính mình đã phê phán, phản đối, không đồng ý.

Như vậy phải chăng chúng ta chỉ ngồi đó thụ động chấp nhận mọi hình thái bất dung tôn giáo đổ xuống cho tôn giáo của mình? Dĩ nhiên là không! Vì như thế cũng có nghiã là chúng ta cố tình dung dưỡng việc bất dung tôn giáo, dung dưỡng cái ác. Chúng ta phải có thái độ!

Thái độ đó là gì? Đó là thái độ không phải phát xuất từ lòng hận thù. Thái độ đó vừa biểu thị sự dũng kiện của đức vô úy trước bạo lực, vừa cưu mang lòng từ bi muốn chuyển hóa những con người đang bị vô minh, sân hận và cái ác sai khiến thành người lương thiện. Đó chính là thái độ bất bạo động. Thái độ này đã và đang được đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, vị lãnh đạo tối cao của Phật giáo và nhân dân Tây Tạng, sử dụng để bảo vệ Phật giáo và đất nước Tây Tạng của ngài suốt trên năm thập niên qua. Đây cũng là thái độ mà những vị lãnh đạo của GHPGVNTN tại quốc nội thể hiện suốt mấy mươi năm qua để bảo vệ quyền sống, quyền làm người, quyền tự do tôn giáo và các quyền tự do khác cho Phật giáo đồ và cho toàn dân Việt Nam.

Để thực hiện phương thức chuyển hóa bất bạo động này, trước hết, mọi người Phật tử phải biết sống theo đúng tinh thần Chánh pháp, hòa hợp và tương trợ lẫn nhau hầu tạo thành một sức mạnh kiên định khởi phát từ nội tâm của mỗi cá nhân ra đến sự đoàn kết tinh ròng của đại khối dân tộc. Kế đến, chúng ta phải biết sử dụng các tiện nghi hiện đại của kỷ thuật tin học và điện toán để thông truyền và điều hướng dư luận trong và ngoài nước cho công cuộc vận động. Thứ nữa, chúng ta phải kiên trì trong công tác vận động đối với sự hậu thuẫn của các cơ quan quốc tế như tổ chức Liên Hiệp Quốc, các tổ chức nhân quyền, các chính phủ, các quốc hội, các chính khách tên tuổi trên thế giới. Đặc biệt để bảo vệ các di sản văn hóa giá trị của nhân loại nói chung và các tôn giáo nói riêng, đã đến lúc chúng ta phải suy nghĩ về một giải pháp toàn cầu nhằm vận động tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, chính kiến và tôn giáo cùng tham gia. Chỉ khi nào tất cả mọi tôn giáo, mọi chủng tộc, mọi phe phái chính trị chịu ngồi lại với nhau để tạo sự cảm thông, khoan dung và hợp tác thì khi ấy loài người mới mong có được sự sống chung hòa bình và tôn trọng lẫn nhau. Vấn đề này đã và đang được Hòa Thượng Hsin Tao ở Đài Loan đề xướng. Đây là một việc làm vô cùng cấp thiết và quan trọng.

Tất cả chúng ta, những ai hằng quan tâm đến sự tồn tại của tôn giáo và các di sản văn hóa của nhân loại, xin bày tỏ thái độ của mình qua việc ủng hộ và cổ võ cho những cuộc vận động nhằm ngăn chận các hành vi phá hoại di sản văn hóa và các chính sách bất dung tôn giáo trên toàn thế giới.