BUDDHA HOME

 PHẬT PHÁP

 

 

  TÔI THEO PHẬT

TRÍ-ĐỨC soạn

 

ĐẠO PHẬT

 

Hỏi: Anh Đạo nào?

Đáp: Tôi theo đạo Phật.

H: Đạo Phật là gì?

Đ: Đạo Phật là con đường tu hành đưa đến chỗ giải thoát an vui do Phật chỉ dạy.

H: Vì sao theo Phật?

Đ: Vì tôi muốn hết khổ.

H: Muốn hết khổ sao lại theo Phật?

Đ: Phật dạy sự khổ của chúng-sanh có thiên hình vạn trạng nhưng rốt cuộc là do ác nghiệp và phiền-não gây nên. Nếu muốn hết khổ phải diệt-trừ nguyên do ấy, và nếu muốn diệt-trừ nguyên do ấy phải theo Phật và giáo-pháp của Ngài mà tu luyện.

H: Sao gọi là Phật?

Đ: Phật là đấng giác-ngộ hoàn-toàn, cứu độ chúng-sanh, phước-đức viên-mãn không ai sánh bằng.

H: Thế Ngài là cao tột hơn cả?

Đ: Phải, chỉ Phật mới hoàn toàn giải-thoát ngoài vòng luân-hồi sanh tử, nên cao tột hơn cả.

H: Ai đã hoàn toàn giải thoát cũng gọi là Phật hay sao?

Đ: Phải.

H: Tu bao nhiêu kiếp mới giải-thoát mà thành Phật được?

Đ: Phải tu hành tích-lũy công-đức nhiều kiếp mới thành Phật được.

H: Có ai tu trong một kiếp thành Phật chăng?

Đ: Hiếm lắm. Chỉ trừ người có đại-căn đại-trí mới được thôi.

H: Người đại-căn đại-trí là thế nào?

Đ: Là người có tâm trí rộng lớn, đã bồi dưỡng công-đức trong nhiều kiếp.

H: Trong những kiếp ấy đã tu như thế nào?

Đ: Đã phát tâm rộng lớn, nguyện cứu mình cứu người thoát vòng đau khổ bằng con đường chánh-pháp của Phật.

H: Khi thành Phật rồi thì làm gì?

Đ: Đem giáo-pháp hóa-độ chúng-sanh như đức Phật Thích-Ca.

H: Phật cứu-độ chúng-sanh như thế nào?

Đ: Với lòng từ-bi, Ngài gia-hộ cho chúng-sanh an-lành, với trí bát-nhã, Ngài dạy đạo giác-ngộ cho chúng-sanh tu theo.

H: Phật có cứu-độ người làm điều tội-ác không?

Đ: Phật thương cứu tất cả không từ bỏ ai, song người làm điều tội-ác là đã tự ý xa Phật nhưng không phải là hoàn toàn không nhận được sự cứu-độ của Ngài, như người đui tuy không thấy ánh mặt trời song vẫn nhờ ảnh-hưởng của mặt trời mới sống.

H: Phật có phạt đọa địa-ngục những người không tin Phật không?

Đ: Không bao giờ. Nếu người không tin Phật mà họ biết làm các điều lành ám-hợp với lời Phật dạy vẫn được sung-sướng an-vui, nhưng phải tin Phật mà tu, mới đạt đến hạnh-phúc hoàn-toàn vĩnh-viễn.

H: Người tin Phật mà không làm theo Phật, có được ngài cứu-độ lên Niết-Bàn không?

Đ: Ai có tu mới đến Niết-Bàn. Người không tu theo Phật, dẫu có tin ngài cũng không đến được, ví như người tin thầy thuốc hay, mà không chịu uống thuốc vẫn không lành bệnh.

H: Phật ra đời đã lâu, tại sao chúng sanh còn bị khổ não mà Ngài không cứu?

Đ: Phật ra đời cốt dạy cho chúng-sanh tu theo như Ngài dạy phải bỏ lòng tham, sân, si, nhưng đã mấy ai tu theo và bỏ tham sân si. Vậy chúng sanh không hết khổ là tại chúng sanh không cố tâm theo Phật để dứt khổ.

H: Sao Phật lại không dùng thần-thông mà độ hết chúng sanh lên cảnh Niết-Bàn?

Đ: Phật như vị Thánh-y, biết rõ chứng bịnh, đủ các phương-thang trị bệnh, lại đầy lòng thương chúng-sanh như mẹ thương con, song nếu chúng sanh có bệnh mà không chịu uống thuốc, thì thần thông gì có thể cứu nổi.

H: Tu Phật kết quả như thế nào?

Đ: Tu Phật, gần thì được hoàn-thành nhân-cách, lợi lạc mình người, bớt điều ưu-phiền tội-lỗi, tương lai khỏi bị sa-đọa vào đường ác mà sanh trở lại trong nhân-đạo hoặc thiên-đạo, thọ hưởng phước-báo; xa hơn nữa thì chứng đến các quả-vị Thanh-Văn, Bồ-Tát, giác ngộ và giải-thoát ngoài luân-hồi sanh tử, an-trú nơi cảnh-giới Niết-Bàn.

H: Tu Phật có thể sanh vào thế-giới cực-lạc không?

Đ: Người tu-hành và chuyên tâm niệm Phật khi lâm chung được Phật tiếp dẫn vãng sanh cực-lạc.

 

LỊCH-SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH-CA

 

H: Đạo Phật do ai dựng nên?

Đ: Do đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni dựng nên.

H: Thích-Ca Mâu-Ni nghĩa là gì?

Đ: Thích-Ca là họ; Mâu-Ni là tiếng tôn-xưng. Hiệp lại tức là đức Thánh họ Thích-Ca.

H: Tên thật của Ngài là gì?

Đ: Khi chưa thành Phật, Ngài là Thái-tử tên Tất-Đạt-Đa.

H: Thân-phụ và thân-mẫu Ngài tên gì?

Đ: Ngài là con vua Tịnh-Phạn và hoàng-hậu Ma-Gia, nước Ca-Tỳ-la-vệ xứ Ấn-Độ.

H: Ngài giáng-sanh nơi nào?

Đ: Ngài giáng-sanh tại dưới cây vô-ưu trong vườn hoa Lâm-tỳ-ni.

H: Ngài giáng-sanh năm nào?

Đ: Trước tây lịch 624 năm, Ngài sanh khi mặt trời mọc ngày rằm (ngày trăng tròn) tháng hai Ấn-Độ, tức tháng tư lịch Tàu (tục nước ta thường làm lễ kỷ-niệm Phật-Đản vào ngày mồng 8 tháng 4 và lấy năm Phật Niết-Bàn làm Phật lịch).

H: Phật Niết-Bàn năm nào?

Đ: Cách nay (1958) 2502 năm.

H: Lúc chưa giáng-sanh Ngài tên gì và ở đâu?

Đ: Tên Hộ-Minh Bồ-Tát và ở cung trời Đâu-suất.

H: Cung trời Đâu-suất có phải là một Thiên đàng không?

Đ: Chỉ là một cõi trời trong nhiều cõi trời khác, chưa phải cảnh giải-thoát hoàn-toàn an-vui tuyệt-đối.

H: Vì sao Ngài giáng-sanh?

Đ: Vì lòng từ-bi muốn cứu-độ chúng-sanh trong cõi Sa-Bà nầy, nên Ngài giáng-sinh để hoá-độ.

H: Trước khi Ngài sanh có điềm lạ gì ứng ra không?

Đ: Có, Đức Bà Hoàng-hậu Ma-Gia, một hôm nằm mộng thấy voi trắng sáu ngà (tượng-trưng vị Bồ-Tát tu lục-độ) đến bên hông, từ đó đức Bà thụ thai rồi sanh Ngài.

H: Lúc Ngài sanh có hiện-tượng gì kỳ lạ?

Đ: Có nhiều hiện-tượng kỳ lạ, như quả đất rung động, nhạc trời trỗi tấu, chim trời reo ca, hoa trổ đầy vườn, một niềm vui tràn khắp trong nhân-gian. Khác hơn các trẻ tầm-thường khác, khi vừa sanh ra Ngài liền đi 7 bước trên hoa sen, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất và nói "Trên trời dưới đất chỉ ta là độc-tôn" (thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn).

H: Tướng-mạo của Ngài như thế nào?

Đ: Vị Đạo-sĩ A-Tư-Đà xem tướng thấy Ngài đẹp đẽ dị-thường, đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp.

H: Đạo-sĩ có nói gì không?

Đ: Ông đoán sau nầy Ngài sẽ xuất-gia tu thành Phật-quả. Nói xong ông nức-nở khóc, tủi phận mình đã quá già, không còn sống lâu để nghe pháp Phật dạy.

H: Tài-năng của Ngài thế nào?

Đ: Ngài rất thông-minh đức-hạnh. Các giáo sư giỏi nhất trong xứ chỉ dạy Ngài một đôi năm là Ngài suốt thông văn võ, làm cho họ phải bái phục.

H: Thái-Tử vốn sống trong cảnh phong-lưu phú-quý phải không?

Đ: Phải, Phụ-vương rất cưng-yêu và sợ Ngài xuất-gia không người kế vị, nên hết sức săn-sóc, lo cho Thái-Tử không thiếu thứ gì.

H: Phụ-vương săn-sóc thế nào?

Đ: Phụ-vương xây cho ba tòa lâu đài hợp với thời tiết trong ba mùa của xứ Ấn-Độ: mùa nóng có chỗ mát, mùa lạnh có chỗ ấm, mùa không nóng không lạnh (ôn hòa), có chỗ không lạnh, không nóng. Cung điện trang hoàng đầy hoa thơm cỏ lạ, lại thêm cung-nữ múa ca không ngớt.

H: Thái-Tử sống một mình sao?

Đ: Không, lúc 17 tuổi Ngài kết-hôn với công chúa Da-Du Đà-La, con vua Thiện-Giác.

H: Thái-Tử kết-hôn cách nào?

Đ: Ngài đã thắng các thanh-niên đến dự cuộc đấu võ thi tài và chọn bà Da-Du Đà-La là người tươi-đẹp hiền-thục nhất trong các công-chúa muốn được làm vợ Ngài.

H: Ngài chứng đạo Bồ-Đề trong cung-điện giữa cảnh phú-quí vinh hoa ấy sao?

Đ: Không. Ngài xuất-gia, một mình len lỏi vào rừng tầm đạo tu hành, sau mới giác-ngộ.

H: Ngài đã sẵn lòng từ-bi, thì ở nhà làm vua rồi đem đạo-đức cứu độ nhân-gian cũng được, sao phải xuất-gia làm chi?

Đ: Dầu làm vua đem phép nhân-chánh trị dân, cũng chỉ cứu được người dân trong một nước và chỉ cứu hết khổ tạm thời, xuất-gia thành Phật mới cứu được cả muôn loài, khắp mọi nơi thoát khổ vĩnh-viễn.

H: Nhân-duyên gì khiến Ngài xuất-gia?

Đ: Vì Ngài thấy cảnh-tượng thống-khổ giữa đời.

H: Những cảnh-tượng ấy thế nào?

Đ: Ba lần ra ngoài thành dạo chơi, lần thứ nhất Ngài gặp cảnh người già, lần thứ hai gặp người bịnh, lần thứ ba gặp người chết, làm Ngài thương xót vô cùng. Sau cùng Ngài gặp một vị Sa-môn dáng bộ thanh-cao bình-tĩnh. Từ đó Ngài nuôi trong trí cái ý định xuất-gia tầm đạo.

H: Ngài thấy cảnh-tượng ấy nhiều lần phải không?

Đ: Chỉ thấy một lần thôi.

H: Vì sao?

Đ: Vì hồi còn bé vua cha có dắt Ngài đi xem dân cày cấy, thấy người và vật hì-hục vất-vả dưới nắng thiêu đốt, chim chóc dành mổ ăn các loài côn-trùng giãy dụa trên luống đất mới, Ngài thương xót buồn rầu. Từ ấy vua cha hết sức giữ gìn không cho đi đâu cả, để Ngài khỏi trông thấy cảnh khổ giữa đời.

H: Vua cha có thuận cho Ngài xuất-gia không?

Đ: Không. Nhưng sau cùng có hứa rằng nếu có cháu nối dòng, vua sẽ bằng lòng để Thái-tử xuất-gia.

H: Thái-tử có vâng lời không?

Đ: Thái-tử vâng lời. Khi con Ngài là La-Hầu-La đã ra đời, Ngài nhất quyết xuất-gia tầm đạo để cứu chúng-sanh.

H: Thái-tử xuất gia năm nào?

Đ: Nhân sau một buổi dạ-yến, rằm tháng hai (tục ta kể ngày mồng 8) mọi người say ngủ mê mết, Ngài cùng kẻ hầu tên Xa-Nặc, thắng ngựa Kiền-Trắc, trốn đi xuất-gia. Lúc đó Ngài 29 tuổi.

H: Xuất-gia Ngài đi đâu?

Đ: Ngài đi đến bên sông A-nô-ma, cắt tóc, đổi hoàng-bào giao Xa-Nặc đem về, riêng Ngài tiến vào rừng tìm các đạo-sĩ hỏi đạo.

H: Ngài đã hỏi đạo với ai?

Đ: Ngài hỏi đạo với các vị đạo-sĩ tu cao nhất như ông Ka-la-La, ông Uất-đầu-Lam-Phất, và cố tâm tu theo họ.

H: Ngài tu thế nào?

Đ: Ngài chuyên tu khổ-hạnh 6 năm, tập ăn ít dần, đến sau, mỗi ngày chỉ cần một hột mè hay hột gạo vừa duy-trì mạng sống.

H: Tu như thế Ngài có giác-ngộ chăng?

Đ: Chỉ càng ngày càng yếu, cho đến nỗi một ngày kia, lúc vừa đi vừa suy nghĩ, Ngài mất sức, té xỉu xuống đất.

H: Lúc đó Ngài nghĩ sao?

Đ: Ngài nghĩ rằng lối tu ép xác ấy cũng như lối đam-mê khoái-lạc, cả 2 đều không phải hành-động chính-đáng đưa đến giải-thoát, nên định-ý ăn uống lại như thường.

H: Ai cúng dường cho Ngài ăn?

Đ: Một thiếu-nữ dòng quí phái tên Tu-Xà-Đa đem sữa đến dâng Ngài dùng, sức lực hồi phục; Ngài xuống sông Ni-liên-thuyền tắm, rồi trở về rừng, đến dưới gốc Bồ-đề tĩnh-tọa tham thiền. Ngài thề rằng "dầu thịt nát xương tan, nếu không giác-ngộ, quyết không rời khỏi chỗ nầy".

H: Ngài có chứng quả được không?

Đ: Có. Sau 49 ngày ngồi thiền quán đến ngày 15 tháng chạp (tục ta kỷ-niệm Phật thành-đạo ngày mồng 8) đầu đêm Ngài chứng đặng túc-mạng-minh, biết tất cả đời quá-khứ, hiện-tại và vị-lai; nửa đêm chứng đặng thiên-nhãn-minh, thấy tất cả thế-giới trong vũ-trụ; cuối đêm chứng đặng lậu-tận-minh, dứt sạch nguồn gốc mê-lầm. Đến khi sao mai mọc thì trí-giác mở mang như hoa sen trắng, Ngài liền chứng đặng đạo vô-thượng mà thành Phật hiệu Thích-Ca Mâu-Ni.

H: Lúc sắp thành đạo Ngài có bị ai làm trở-ngại không?

Đ: Có, bè đảng ma-vương dùng mưu-mô tài-lợi mà dụ dỗ Ngài, dùng võ-lực áp-bức Ngài và dùng nữ-sắc để mong làm xiêu lòng Ngài, song việc của chúng làm đều vô hiệu, và bị Ngài hàng-phục tất cả.

H: Vì sao họ không muốn cho Ngài thành Phật?

Đ: Vì sợ Ngài thành Phật rồi đem giáo-pháp ra hóa-độ mọi người làm cho họ mất uy-tín quyền-lợi. Vì xưa nay sở-trường của ma-đạo là dùng mê-tín mưu mẹo, uy-lực, nữ-sắc để cám dỗ người mà được sự tín-mộ, nay nếu Phật truyền đạo giác-ngộ ra, tất làm cho họ phải lúng túng.

H: Ngài chứng đạo rồi làm gì?

Đ: Ngài đem giáo-pháp đã chứng-ngộ đi truyền dạy cho nhân-loại chúng-sanh.

H: Những người theo làm đệ-tử Ngài có đông không?

Đ: Đông lắm. Số người xuất-gia và thường theo Ngài có đến 1250 người. Ngoài ra có số xuất-gia rải rác ở khắp nơi, còn số đệ-tử tu tại-gia thì vô số kể.

H: Ngày nay đệ-tử của Phật có đông như thế không?

Đ: Hiện nay số tín-đồ, tăng-đồ của Phật khắp thế-giới, có đến 650 triệu người.

H: Phật hóa độ những hạng người nào?

Đ: Tất cả các hạng người thuộc tất cả các nước không phân biệt người nghèo khổ, tật nguyền, hay hạng trưởng-giả, quyền-quí, vương-hầu. Từ thanh-niên đến già cả, đàn ông, đàn bà ai cũng theo được.

H: Có ai cùng đi truyền đạo với Ngài không?

Đ: Có, các đệ-tử sau thời-gian tu-hành, cũng noi theo gương Ngài, rải đi truyền đạo khắp bốn phương.

H: Phật và đệ-tử đi truyền-đạo có được người ta hưởng-ứng không?

Đ: Có, đến đâu Phật và đệ-tử cũng đem lòng từ-bi khuyến-hóa một cách hòa-dịu như mẹ hiền dạy con, chứ không dùng thế-lực áp-bức, nên dân chúng hưởng-ứng và xin qui-y rất đông. Có nhiều người cúng dường và lập chùa, lập tinh-xá để mời Phật ở lại.

H: Có ai làm trở-ngại sự truyền-đạo của Ngài không?

Đ: Có, bên trong có ông Đề-bà-đạt-Đa là người đã xuất-gia, nhưng vì lòng hiếu-danh đã chống Tăng-hội bỏ đi, còn bên ngoài thì ngoại-đạo Bà-la-môn khuấy phá, nhưng đều vô hiệu-quả.

H: Phật đi thuyết-pháp truyền đạo mấy năm?

Đ: Bốn mươi lăm năm. Cứ ngày đi tối nghỉ mệt, nghỉ khỏe lại đi, Ngài đi khắp đó đây truyền đạo cho đến ngày nhập Niết-Bàn.

H: Ngài nhập Niết-Bàn tại đâu?

Đ: Giữa rừng Sa-la song thọ, nhằm ngày rằm (trăng tròn) tháng Hai.

H: Ngài nhập Niết-Bàn lúc bao nhiêu tuổi?

Đ: Lúc 80 tuổi.

H: Khi sắp nhập Niết-Bàn Ngài di-chúc gì không?

Đ: Ngài khuyên các đệ-tử hãy lấy giới-luật làm thầy và tinh-tấn tu hành để được giải-thoát.

H: Di-hài của Ngài để đâu?

Đ: Dùng gỗ hương chiên-đàn mà hỏa-táng (đốt).

H: Sau khi nhập Niết-Bàn, Ngài để lại cho thế-gian những gì?

Đ: Ngài để lại cho thế-gian hai thứ quí báu.

H: Hai thứ gì?

Đ: Một là xá-lợi tức là hài-cốt của Ngài, sau khi đốt rồi còn lại. Hai là Ba-Tạng kinh-điển giáo-pháp do Ngài dạy trong 45 năm.

H: Xá-lợi của Phật nay còn không?

Đ: Còn. Lúc đó tám nước chia nhau đem về xây tháp phụng thờ, và truyền lại đến ngày nay.

H: Ba-tạng kinh-điển là gì?

Đ: Là kinh-tạng, luật-tạng, luận-tạng.

H: Kinh-tạng dạy gì?

Đ: Dạy về lý-nghĩa của cuộc đời.

H: Luật-tạng dạy gì?

Đ: Dạy các quy-tắc ngăn-ngừa tội-lỗi.

H: Luận-tạng dạy gì?

Đ: Biện-luận các nghĩa-lý thâm huyền cho rõ ràng thêm.

H: Cốt yếu của ba-tạng dạy gì?

Đ: Dạy phương-pháp tu-hành để trở nên con người xứng-đáng, có đủ lòng từ-bi thương-xót, có trí-huệ minh-mẫn, có tinh-thần dũng-cảm hy-sinh làm các việc nghĩa.

H: Phật chỉ có dạy lối tu làm người thôi ư?

Đ: Căn-bản là dạy tu làm người, tiếp đó Ngài còn dạy lối tu để được giải-thoát luân-hồi sanh-tử cho những người có đủ căn-duyên tu-tập, để thành bậc đại-giác đại-ngộ.

PHÉP TU-DƯỠNG 

 

H: Sao gọi là tu-dưỡng?

Đ: Sửa đổi điều dữ ra điều lành, việc dở ra việc hay là tu, nuôi dưỡng đức-tốt là dưỡng.

H: Vì sao phải tu-dưỡng?

Đ: Vì để gây nền-tảng hạnh-phúc an-vui cho mình và người, nên phải tu dưỡng.

H: Hạng người nào mới cần tu dưỡng?

Đ: Bất luận trẻ, già, trai, gái, người ở địa-vị nào cũng cần tu-dưỡng. Vì đã làm người bất cứ ở hạng nào cũng còn mang trong mình những tật xấu-xa tội-lỗi cần phải cải-đổi cả.

H: Sự tu-dưỡng có làm chướng ngại sự-nghiệp ở đời chăng?

Đ: Không. Sự tu-dưỡng sẽ giúp cho người làm việc siêng-năng, kẻ học trò chăm học, người làm bác-sĩ có lương-tâm, người bán-buôn thêm thật thà v. v...

H: Vẫn biết tu là quý, làm lành là hay, nhưng nếu cần phải làm ác mới sống được thời sao?

Đ: Làm lành hay làm ác, tu hay không tu, đều có thể sống như nhau. Không ai vì tu mà chết, không tu mà sống, cũng như không ai vì làm lành mà chết, còn làm ác mới sống bao giờ.

H: Thế hai hạng người ấy khác nhau chỗ nào?

Đ: Người làm lành được sống, đồng thời để lại sự lợi-lạc cho mình cho người, cả hiện-tại và tương-lai, còn người làm ác cũng được sống, nhưng đồng-thời để lại cho đời nhiều tai-họa và cho chính mình nhiều quả-báo khổ não.

H: Những người làm ác kiếp sau ra thế nào?

Đ: Người làm ác hiện đời xấu-hổ, hư đốn, tương-lai sẽ chịu ác quả, hoặc bị đọa vào những cảnh khốn-khổ hơn cảnh giới người, ấy là "địa-ngục". Ai đọa vào đó sẽ bị hành-hạ đau-đớn nhiều cách, như bị đao đâm gươm chặt (đao sơn kiếm thọ), bị chết lạnh (hàn băng) bị chết ép (hiệp sơn, hiệp thạch), bị chết thiêu (liệt hỏa) bị cưa, bị nấu trong chảo dầu, v.v... Tội nhẹ hơn sẽ đọa làm loài ngạ-quỉ, súc-sanh, chịu nhiều nỗi thống-khổ hơn loài người.

H: Muốn tu-dưỡng cho khỏi cảnh sa-đọa ấy thì phải làm sao?

Đ: Phải nhận rõ cảnh khổ giữa đời rồi chuyên-tâm tập bỏ dần các điều ác mà làm các việc lành, bớt tâm vụ-cầu danh-lợi mà bồi thêm lòng từ-bi thương-xót, khoan-dung hỷ-xả với mọi người và nguyện sống theo lời Phật dạy.

 

PHÉP QUI-Y 

 

H: Muốn thành đệ-tử Phật trước tiên phải làm gì?

Đ: Phải thọ phép qui-y.

H: Sao gọi là qui-y?

Đ: Là đem thân-tâm tính-mạng mình tin-tưởng nương gởi về nơi Tam-Bảo.

H: Tam-Bảo là gì?

Đ: Là ba ngôi tôn-quí nhất, ấy là Phật-Bảo, Pháp-Bảo, Tăng-Bảo.

H: Sao gọi là Phật-Bảo?

Đ: Đức Phật là đấng giác-ngộ hoàn-toàn, Ngài đã giải-thoát luân-hồi và làm thầy hóa-độ hàng nhân-thiên. Ngài rất tôn-quí nên gọi là Phật-Bảo.

H: Sao gọi là Pháp-Bảo?

Đ: Pháp-Bảo là Pháp của Phật dạy, rất cao siêu chính-đáng, hay phá-chấp trừ-nghi mà đưa chúng-sanh đến nơi giải-thoát.

H: Sao gọi là Tăng-Bảo?

Đ: Là đoàn-thể xuất-gia tu-hành theo phép của Phật. Là chư-tăng nghiêm trì giới-luật để cầu giải-thoát và giáo-hóa tín-đồ dân-chúng theo Phật.

H: Vì sao phải qui-y Tam-Bảo?

Đ: Vì muốn hết khổ, nên phải qui-y Tam-Bảo.

H: Tại sao muốn hết khổ lại phải qui-y Tam-Bảo?

Đ: Vì Tam-Bảo là bậc đã giác-ngộ và hết khổ, lại có đủ phương-tiện cứu vớt chúng-sanh ra khỏi biển-khổ, như người biết bơi giỏi mới cứu kẻ khác khỏi chết chìm, nên phải qui-y.

H: Sao không qui-y theo nơi khác?

Đ: Vì các nơi khác chưa được hoàn-toàn giải-thoát như Phật, không được chính-đáng như pháp của Phật và không tu theo Phật như chư Tăng tu-hành thanh-tịnh, nên không qui-y.

H: Muốn qui-y phải làm sao?

Đ: Phải phát-tâm nguyện suốt đời làm con Phật và tìm thầy tu-hành mà xin thọ phép qui-y.

H: Trong lúc qui-y làm sao?

Đ: Quì trước bàn Tam-Bảo rồi thành kính đọc lớn câu Tam-y theo lời thầy dạy vẽ.

H: Câu ấy thế nào?

Đ: Câu ấy là: Đệ-tử xin qui-y Phật, thề đời-đời kiếp-kiếp không qui-y thiên-thần quỉ vật. Đệ-tử xin qui-y Pháp, thề đời-đời kiếp kiếp không qui-y ngoại đạo tà-giáo. Đệ-tử xin qui-y Tăng, thề đời đời kiếp kiếp không qui-y tổn-hữu ác-đảng.

H: Đọc mấy lần như vậy?

Đ: Đọc ba lần và đọc lớn tiếng.

H: Đọc ba câu ấy có ý-nghĩa gì?

Đ: Có nghĩa là nguyện suốt đời lấy Phật làm thầy, lấy pháp của Phật làm thầy, lấy các Chư Tăng tu-hành làm thầy, chứ không qui-y theo nơi khác.

H: Vì sao không qui-y theo trời, thần, quỷ-vật?

Đ: Vì trời, thần, quỷ-vật, còn ở trong vòng luân-hồi sanh-tử.

H: Phật-tử đối với mấy vị ấy thế nào?

Đ: Kính-trọng hoặc thương-xót mà không qui-y.

H: Sau khi qui-y phải thế nào?

Đ: Phải giữ lòng tin-tưởng vững-chắc nơi ngôi Tam-Bảo, không bao giờ phai lạt, và cố gắng ăn ở theo lời Phật dạy.

 

PHÉP THỌ-GIỚI

 

H: Ngoài sự qui-y Tam-Bảo, cần phải tu gì nữa?

Đ: Phải tu theo giới-luật.

H: Giới luật là thế nào?

Đ: Là những điều răn cấm, Phật chế ra cho chúng ta giữ-gìn để tránh các tội-lỗi. Các giới-luật giúp chúng ta dứt điều oan-trái và mau thành đạo-quả.

H: Xin kể các giới luật ấy?

Đ: Phật dạy các đệ-tử tại-gia giữ 5 điều cấm giới.

H: Năm điều cấm giới là gì?

Đ: Một là không giết hại sanh-vật, nhất là đồng loại; hai là không xâm-phạm của người; ba là không tà-dâm; bốn là không nói dối; năm là không uống rượu.

H: Vì sao Phật dạy đệ-tử giữ năm điều cấm-giới ấy?

Đ: Vì tất-cả tai-họa thống khổ xẩy ra xưa nay trong lịch-sử, từ kiếp nầy qua kiếp khác, đều do những nguyên-nhân như hiếu-sát, tham-lam, trộm cướp, tà-dâm, nói-dối, uống rượu mà sanh ra.

H: Giữ 5 giới ấy được lợi-ích gì?

Đ: Người giữ giới sẽ được hưởng quả-báo an-lành. Nếu chỉ giữ được một giới, người ấy sẽ hưởng quả lành của một giới, giữ hai giới sẽ hưởng quả lành của hai giới... Nếu giữ trọn năm giới thì sẽ có một tương-lai cao-quí và hạnh-phúc.

H: Năm giới ấy ai cũng tu được hay sao?

Đ: Ai cũng tu được. Nếu một người tu thì một người được lợi, nếu toàn nhân-loại tu thì thế-giới bớt thảm-họa mà được hòa-bình, an-lạc.

H: Muốn thọ giới thì phải thọ vào lúc nào?

Đ: Sau khi thọ tam-quy, liền phát-nguyện thọ-giới.

H: Những giới mình không thọ nên không giữ, có mắc tội phạm giới không?

Đ: Không, nhưng hễ ai giữ giới thì được tăng thêm phước-đức và do đó mà tránh khỏi tai-họa oan-khiên, còn ai không giữ thì lợi-ích nầy không có.

H: Ngoài năm giới, còn có giới gì không?

Đ: Có Bát-quan trai-giới.

H: Bát-quan trai-giới là thế nào?

Đ: Là tám điều trai-giới.

H: Tám điều trai-giới là gì?

Đ: Năm giới vừa kể trên, và thêm ba giới khác nữa cọng vào thành tám.

H: Ba giới ấy là gì?

Đ: Một là không nhảy múa, xướng hát, phô-trương một cách bất-nhã, không dùng đồ trang-sức và các thức dầu thơm. Hai là không nằm ngồi giường cao tốt. Ba là không ăn quá giờ ngọ, nghĩa là sau giờ ngọ không ăn gì nữa.

H: Cách thọ-giới nầy có khác cách thọ năm giới không?

Đ: Khác. Khi đã thọ năm giới thì gìn giữ suốt đời, trái lại, tám giới nầy chỉ thọ-trì một ngày một đêm mà thôi.

H: Muốn thọ Bát-quan trai-giới phải làm sao?

Đ: Tìm thầy chơn-tu xin truyền-thọ. Nếu không thầy thì tự mình quì trước Tam-Bảo phát-nguyện xin thọ.

H: Phát-nguyện thọ cách sao?

Đ: Quì trước Tam-bảo, thành kính đọc lớn câu: "Đệ-tử qui-y Phật, Pháp, Tăng nguyện trọn một ngày đêm nay làm kẻ tịnh-hạnh Ưu-Bà-Tắc (đàn bà thì đổi là Ưu-Bà-Di). Đức Như Lai Chí-Chơn-Đẳng-Chính-giác là đấng Thế-Tôn của chúng con" (đọc 3 lần).

Tiếp đọc:

"Như Chư-Phật suốt đời không sát-sanh, đệ-tử thề trọn ngày đêm nay không sát-sanh."

"Như Chư-Phật suốt đời không trộm cắp, đệ-tử thề trọn ngày đêm nay không trộm cắp."

"Như Chư-Phật suốt đời không dâm-dục, đệ-tử thề trọn ngày đêm nay không dâm-dục."

"Như Chư-Phật suốt đời không nói-dối, đệ-tử thề trọn ngày đêm nay không nói dối."

"Như Chư-Phật suốt đời không uống rượu, đệ-tử thề trọn ngày đêm nay không uống rượu."

"Như Chư-Phật suốt đời không ca múa xướng hát và trang-sức xoa hương, đệ-tử thề trọn ngày đêm nay không ca múa hát-xướng và trang-sức xoa hương."

"Như Chư-Phật suốt đời không nằm ngồi chỗ cao đẹp, đệ-tử thề trọn ngày đêm nay không nằm ngồi chỗ cao đẹp."

"Như Chư-Phật suốt đời không ăn quá ngọ, đệ-tử thề trọn ngày đêm nay không ăn quá ngọ."

H: Thọ Bát-quan trai-giới vào lúc nào?

Đ: Từ sáng sớm ngày nay qua sáng sớm ngày sau là xả-giới.

H: Thọ Bát-quan trai-giới có lợi-ích gì?

Đ: Giữ trọn tám giới ấy trong một ngày đêm thanh-tịnh thì được hưởng công-đức xuất-gia một ngày đêm như những vị xuất-gia chơn-tu.

H: Ngày nào cũng phải thọ giới như vậy sao?

Đ: Mỗi tháng thọ một lần, hai lần cho đến mười lần, tùy sức mình.

H: Thọ giới có chướng ngại cho công việc làm ăn không?

Đ: Không. Giới Phật chế ra cốt để ngăn-ngừa tội lỗi và sửa chữa tật xấu nết hư, giúp làm nền-tảng cho hạnh-phúc ở đời chứ không trở-ngại việc làm ăn chỉ trừ việc làm gì có hại cho giới-pháp đã thọ thì trong ngày ấy tránh đừng làm mà thôi.

H: Phải đình-chỉ công việc ăn làm đến ở chùa mới thọ Bát-quan trai giới được hay sao?

Đ: Không. Bất-cứ tại chùa, tại nhà hay đi làm công việc gì, trong ngày ấy vẫn thọ Bát-quan trai-giới được. Trong ngày đêm thọ giới, cốt phải giữ-gìn thanh-tịnh và tránh những việc làm mà giới Phật đã cấm mà thôi.

H: Nếu được ở chỗ yên-tịnh mà thọ giới có được không?

Đ: Được vậy càng quí, không trở-ngại gì.

 

PHÉP ĂN CHAY

 

H: Ăn chay là thế nào?

Đ: Ăn mặn là ăn cả thịt cá, ăn các loài vật, còn ăn chay thì kiêng những thứ đó mà chỉ ăn thuần rau trái dưa muối thôi.

H: Ăn chay có lợi-ích gì?

Đ: Ăn chay có hai cái lợi, là lợi mình và lợi người.

H: Lợi mình như thế nào?

Đ: Ăn chay thì tự mình tiết-chế được tánh tham ăn, không gây điều oan-trái và bồi-bổ lòng từ-bi mà chung sống vui-hòa cùng mọi vật.

H: Còn lợi người là sao?

Đ: Ăn chay sẽ không giết hại loài vật trong khi nó cũng biết tham sống sợ chết như mình. Vả lại khi ăn chay là đã dằn-ép được dục-vọng ngay từ miếng ăn, không đến nỗi còn vì miếng ăn mà gây nên tai-vạ chiến tranh giữa đồng-loại và tránh khỏi nợ vay trả nhiều đời.

H: Thiên sanh vật dưỡng nhân (trời sanh vật để nuôi người) vì sao phải kiêng ăn chúng nó?

Đ: Nói vậy không đúng. Nếu trời sanh vật để nuôi người thì khi người bị cọp ăn, cũng có thể nói trời sanh người để nuôi cọp hay sao?

H: Loài vật nếu không ăn thì một ngày kia đầy chật quả đất chỗ đâu mà ở?

Đ: Không phải ăn mà làm chúng nó hết, cũng không hẳn vì không ăn mà chúng nó thêm, chẳng hạn như rắn, rết, bò cạp đã mấy người ăn mà chúng nó vẫn ít hơn loài khác.

H: Có mấy cách ăn chay?

Đ: Có hai cách: ăn chay kỳ và ăn chay trường.

H: Ăn chay kỳ là thế nào?

Đ: Là mỗi tháng hoặc ăn chay 2 ngày rằm và mồng một (nhị trai), hoặc ăn 4 ngày là ngày 14, 15, 30, 1 (tứ trai), hoặc ăn sáu ngày là: 8, 14, 15, 23, 29, và 30 (lục trai), hoặc ăn mười ngày: 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, và 30 (thập trai), nếu tháng thiếu thì kể cả ngày 27. Trong những ngày chay nên cử các món: hành, hẹ, tỏi, nén, tỏi tây.

H: Ăn chay trường là sao?

Đ: Là nguyện ăn chay suốt đời.

H: Ai ăn chay kỳ mà ai ăn chay trường?

Đ: Người tu tại-gia ăn chay kỳ, còn lối ăn chay trường cốt để cho hàng xuất-gia và cư-sĩ đủ căn-duyên đủ hoàn-cảnh thuận-tiện đặc-biệt.

H: Trong ngày ăn chay phải làm gì?

Đ: Trong ngày ăn chay phải thận-trọng thân, miệng, ý đừng để buông-lung làm việc tàn-bạo, nói lời hung-dữ, nghĩ điều gian-ác.

H: Nếu ăn chay mà làm chuyện độc-ác thì có công-đức gì không?

Đ: Ăn chay vẫn được công-đức của sự ăn chay còn làm ác thì phải mang họa của việc ác. Nhưng nếu người ăn chay mà gắng làm lành nữa, thì công-đức của sự ăn chay chẳng những khỏi bị tổn-thương, còn tăng lên gấp bội, trái lại người ăn chay mà làm ác thì công-đức sẽ bị giảm đi rất nhiều.

 

PHÉP TỊNH TÂM NIỆM PHẬT

 

H: Có phép gì giản-tiện để sách-tiến sự tu hành cho khỏi bị sai lạc không?

Đ: Có phép tĩnh-tâm niệm Phật.

H: Sao gọi là tĩnh-tâm niệm Phật?

Đ: Là giữ tâm-niệm cho được thiệt yên-tĩnh, không nghĩ-ngợi xằng xiêng, không tính-toán điều hơn thiệt ân oán gì, rồi chỉ nhất tâm chuyên chú niệm Phật mà thôi.

H: Niệm Phật như thế nào?

Đ: Thiết tha nhớ nghĩ đến Phật, như người con đi xa nhớ mẹ hiền.

H: Có mấy cách niệm Phật như thế?

Đ: Có ba cách niệm Phật: một là trì-danh niệm Phật; hai là quán-tướng niệm-Phật; ba là quán-tánh niệm Phật.

H: Sao gọi là trì-danh niệm Phật?

Đ: Là niệm danh-hiệu của Phật. Có hai cách niệm danh-hiệu: một là niệm ra tiếng, hai là niệm thầm.

H: Niệm thầm cách nào?

Đ: Không niệm ra tiếng mà chỉ thầm nghĩ đến danh-hiệu Phật trong tâm. Thầm nghĩ từ hiệu nầy qua hiệu khác, chứ không xen nghĩ điều gì ngoài danh-hiệu Phật.

H: Nếu trong khi vừa lớn tiếng niệm Phật vừa xen nói chuyện khác, hoặc miệng niệm Phật mà tâm nghĩ xằng-xiêng, như thế có gọi là niệm Phật chăng?

Đ: Đó là lối niệm Phật không chuyên nhất, không có lợi-ích gì mấy. Sự niệm Phật cốt nhất là tâm phải nhớ Phật mới được.

H: Sao gọi là quán-tướng niệm Phật?

Đ: Là lấy mắt chiêm-ngưỡng, lấy tâm chiêm-nghiệm đến đức-tướng trang-nghiêm tốt đẹp của Phật.

H: Đức-tướng ấy thế nào?

Đ: Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, đặc-biệt nhất là tướng chữ vạn nơi ngực, tướng nhục-kế trên đảnh và tướng lông trắng (bạch-hào) giữa hai chân mày, tướng-diện như mãn-nguyệt (mặt ngài đầy đặn như trăng rằm) biểu-lộ đủ các đức từ, bi, hỷ, xả, trí-tụê, giải-thoát v.v...

H: Vì sao Ngài có đủ các đức-tướng trang-nghiêm ấy mà người thường không có?

Đ: Do vô-lượng kiếp Ngài từng tu-luyện các đức từ, bi, hỷ, xả, trí-tụê, giải-thoát và... lục độ vạn-hạnh, nên cảm sinh ra thân-tướng trang-nghiêm không ai sánh bằng. Trái lại chúng sanh chưa tu các đức như Phật, lại thường gây nghiệp luân-hồi, nên chỉ cảm-sanh thân hình xấu-xa, hung ác, bịnh-tật mà thôi.

H: Còn sao gọi là quán-tánh niệm Phật?

Đ: Là tĩnh-tâm chiêm nghiệm về các đức tánh cao-quí của Phật. Như Phật có đức từ-bi cứu vớt chúng-sanh. Phật có đức hỷ-xả, hoan-hỷ và bình-đẳng đối với mọi loài. Phật có đức giải-thoát, tự-tại không bị danh-lợi, tài-sắc, tử-sanh hay bất cứ một điều gì ràng buộc.

H: Phải làm hết cả ba cách niệm Phật hay sao?

Đ: Chỉ chọn một cách nào trong ba cách để tu theo, cũng đều có công-đức vô lượng.

H: Nếu tu theo phép trì-danh niệm Phật thì mỗi lần niệm phải bao nhiêu?

Đ: Niệm từ 10 tiếng cho đến 108 tiếng trong mỗi lần, hoặc trong mỗi ngày tùy sức mình, song cốt nhất phải chuyên tâm mới được.

H: Nên niệm Phật vào lúc nào?

Đ: Niệm Phật nhiều chừng nào công-đức nhiều từng ấy. Nhưng nếu chưa niệm Phật được thường thì hãy chọn một giờ nào thuận-tiện trong mỗi ngày, như buổi tối khi sắp đi ngủ hoặc buổi sáng khi thức dậy, tĩnh-tâm để niệm Phật. Một mình niệm Phật hoặc cả toàn-gia đồng niệm Phật. Ngoài ra mỗi tháng đến chùa hai lần để lễ Phật và niệm Phật.

H: Nếu ngồi yên-tĩnh để tâm nhớ tưởng tới Phật có được không?

Đ: Nếu mỗi ngày có nửa giờ hoặc 1 giờ, ngồi yên-tĩnh mà nhớ tưởng đến danh-hiệu Phật, đức-tướng Phật, hoặc đức tánh của Phật tức là mỗi ngày đã thực-hành phép tu-dưỡng rất ích-lợi.

H: Tĩnh-tâm niệm Phật là niệm đức Phật nào?

Đ: Niệm đức Phật Thích-Ca, hoặc đức Phật A-Di-Đà đều được.

H: Tĩnh-tâm niệm Phật có ích lợi thế nào?

Đ: Tĩnh-tâm niệm Phật là một phép tu hằng ngày. Ai chuyên tâm tu-niệm được bình-tĩnh, thanh-tịnh, ngày cũng như đêm, thức cũng như ngủ đều được an-vui tự-tại, không bị tai-chướng. Hai là khi lâm chung được Phật tiếp-dẫn, vãng-sanh về thế-giới cực-lạc.

 

PHÉP SÁM-HỐI

 

H: Khi đã lỡ-lầm gây nên tội-lỗi, có cách gì làm cho hết không?

Đ: Có cách sám-hối.

H: Sám-hối nghĩa là gì?

Đ: Sám-hối là ăn năn chừa bỏ tội-lỗi, thề không tái-phạm.

H: Sám-hối có phải như cách tự-giác phản-tỉnh không?

Đ: Phải.

H: Muốn sám-hối phải làm sao?

Đ: Quì trước Tam-Bảo, hoặc trước chúng tăng tu-hành, thành thật tỏ bày tội-lỗi, cầu xin chừa bỏ.

H: Sao phải đến trước Tam-Bảo hoặc chúng tăng tu-hành mà sám-hối?

Đ: Riêng một mình tự-giác phản-tỉnh cũng là một cách sám-hối, song không bằng sám-hối trước Tam-Bảo vì sám-hối trước Tam-Bảo sẽ nhờ sự chứng-minh và gia-hộ của Tam-Bảo mà kẻ sám-hối được trở nên thanh-tịnh dễ-dàng, như một người học trò xin ăn năn chừa lỗi trước sự chứng minh của ông thầy quí mến, thì sẽ được dõng-mãnh và tiêu tội dễ-dàng.

H: Phải sám-hối những gì?

Đ: Sám-hối bao nhiêu túc-trái tiền-khiên, mình đã tạo trong kiếp quá-khứ. Thứ nữa là sám-hối các tội-lỗi vừa tạo ra trong đời nầy.

H: Các tội lỗi ấy là gì?

Đ: Tội lỗi có nhiều nhưng tóm tắt đại-khái như tội bất-hiếu với cha mẹ, bất kính ngôi Tam-Bảo, độc-ác với mọi người vân vân...

H: Có mấy cách sám hối?

Đ: Có 3 cách: 1) Lễ niệm hồng-danh chư Phật là đấng hoàn-toàn không lỗi, để cầu xin sám-hối. 2) Phát lộ tội lỗi với chúng-tăng tu-hành thanh-tịnh mà xin sám-hối. 3) Quán-nghiệm các tội lỗi cho đến khi ngộ được tội-tánh vô-sanh để sám-hối.

H: Phải theo hết cả ba cách sám-hối ấy hay sao?

Đ: Trong ba cách ấy chỉ làm theo một cách nào cũng được.

H: Nên sám-hối vào lúc nào?

Đ: Sám-hối là một phép tu lúc nào cũng được, song tốt nhất mỗi tháng 2 ngày, rằm và mồng một.

 

PHÉP THỜ KÍNH TAM BẢO VÀ TỔ TIÊN

H: Phật tử có nên thờ-kính Tam-Bảo không?

Đ: Nên. Vì Tam-Bảo (Phật, Pháp, Tăng) là đấng sáng-suốt tôn-quí, cứu độ chúng ta thoát vòng thống-khổ luân-hồi.

H: Nên thờ Tam-Bảo tại đâu?

Đ: Thờ ở chùa và thờ ở nhà, thờ ở trong tâm.

H: Phải thờ cách thế nào cho đúng ý-nghĩa?

Đ: Phải theo ý-nghĩa của phép Tam-qui, mà thờ kính Tam-Bảo.

H: Ý-nghĩa đó thế nào?

Đ: Là qui-y Phật thề trọn đời không qui-y thiên thần quỉ vật, qui-y Pháp thề trọn đời không qui-y ngoại-đạo tà-giáo, qui-y Tăng thề trọn đời không qui-y tổn-hữu ác-đảng. Theo ý-nghĩa nầy, Phật tử chỉ thờ kính Tam-Bảo mà không thờ xen lộn các tượng ảnh thiên-thần quỉ-vật khác.

H: Nếu thờ thì có hại chi?

Đ: Nếu thờ thì mất công-đức chánh-tín và khiến tâm-trí mình bị lộn xộn sai-lầm không thể chuyên-nhất mà tiến-bộ trên đường tu giải-thoát được.

H: Nếu chỉ thờ Tam-Bảo thì hẹp hòi lắm sao?

Đ: Không. Người Phật tử kính quỉ-thần cũng như phải kính bao nhiêu kẻ khác. Phật tử không được khinh khi ngạo-mạn với ai, nhưng khi thờ làm thầy cứu-độ mình thoát vòng vô-minh thì chỉ thờ Tam-Bảo mà thôi. Như vậy không phải hẹp hòi, trái lại còn là chánh-đáng chân-thật nữa.

H: Phật dạy thế nào về các thiên-thần quỉ vật?

Đ: Phật dạy các vị ấy cũng còn ở trong lục-đạo luân-hồi. Chư thiên là thuộc về thiên-đạo, quỉ thần là thuộc quỉ-đạo, vật thì thuộc súc-sanh-đạo. Các hạng nầy đều có phúc-báo riêng, có loài hơn người, có loài kém người, song họ không phải có quyền ban phước giáng họa gì cả. Chẳng qua, sống chung trong vũ-trụ luân-hồi, các loài ấy có chỗ tương-quan với loài người, cũng như loài người có chỗ dính-dấp với loài vật, vì vậy có nhiều trường hợp quỉ-thần đã làm lợi hoặc làm hại loài người, và trái lại loài người cũng có lúc làm lợi hoặc làm hại quỉ-thần. Ví như người đối với muôn thú có khi lợi khi hại mà muôn thú đối với người cũng có khi lợi khi hại vậy.

H: Cúng thí-thực có phải là cúng quỉ-thần không?

Đ: Một phần cúng quỉ-thần, một phần cúng vong-hồn các loại chúng-sanh. Cúng đây có nghĩa là nhờ oai-lực của Tam-Bảo và kinh-kệ mà giúp họ xả-nghiệp để thoát vòng triền-phược u-đồ đặng siêu thăng lạc quốc, chứ không phải như cúng-dường Tam-Bảo là qui hướng đấng cứu-độ mình thoát khổ ba cõi.

H: Quỉ-thần không nên thờ, nhưng các vị Thánh-Hiền và cha mẹ tổ-tiên mình thì sao?

Đ: Cha mẹ có ơn-đức sanh-thành nên làm con phải nhớ ơn và thờ kính trọn đời. Còn các vị thánh-hiền như đức Khổng-tử, Lão-tử v.v... là bậc có nhiều đức quí và có ơn dạy đời, thờ không hại chi. Song người Phật tử đã có Phật-Pháp để hộ mình theo mục-đích giải-thoát hoàn-toàn, nên chuyên tâm thờ kính Tam-Bảo và cha mẹ là đủ.

H: Thờ cha mẹ tổ-tiên chung với Tam-Bảo có được không?

Đ: Không được. Vì cha mẹ tổ-tiên cũng tôn-kính Tam-Bảo làm thầy và nhờ Tam-Bảo để được siêu-thoát. Tổ-tiên, cha mẹ cũng là đệ-tử Phật, nên không thể thờ chung.

H: Ở chỗ nhà tranh vách đất cực-khổ có thờ Phật được không?

Đ: Quí hồ ở tâm người thờ. Nếu có tâm thành-kính thì ở nhà tranh vách đất mà thờ Phật còn quí hơn thờ ở nhà cửa sang-trọng mà thiếu thành-kính.

H: Muốn thờ Phật ở tư-gia phải làm sao?

Đ: Không kể nhà giàu nghèo, hãy chọn một nơi nào tôn-quí trong nhà mình, rồi thiết một bàn giản-dị, thỉnh một tượng Phật trang-nghiêm để thờ. Nếu không tiện thiết bàn thờ thì thỉnh một tượng Phật thật trang-nghiêm treo trong nhà ở chỗ tôn-kính, để cho toàn-gia được chiêm-ngưỡng hàng ngày.

H: Cúng Phật cách thế nào?

Đ: Trước hết cúng Phật với cái tâm thành-kính của mình, sau là hoa quả, trầm hương tinh khiết, ít nhiều tùy sức. Không được đốt đồ giấy, hoặc cúng đồ mặn. Sự thờ Phật có tinh-khiết và trang-nghiêm cùng với lòng thành-kính mong mỏi, nhờ oai lực của Phật gia-hộ cho mau đặng khai-thông tâm-trí, tai-chướng tiêu trừ mà thẳng-tấn trên con đường diệt khổ.

H: Lạy Phật cách thế nào?

Đ: Đứng ngay thẳng trước bàn Tam-Bảo, chắp tay ngang ngực, chú tâm tưởng Phật, rồi thong thả lạy mỗi lần ba lạy.

H: Lạy ba lạy có ý-nghĩa gì?

Đ: Có nghĩa là đem tam-nghiệp (thân, miệng, ý) thành-kính lạy Tam-Bảo, cầu tiêu trừ tam-độc (tham, sân, si).

H: Phật tử đối với công-ân cha mẹ thế nào?

Đ: Chí tâm nhớ ân và báo hiếu một cách hoàn-toàn đúng đắn theo phép Phật dạy.

H: Phật dạy thế nào?

Đ: Phật dạy ở đời không Phật, khéo thờ cha mẹ là thờ Phật.

H: Khéo thờ cha mẹ là sao?

Đ: Phụng-dưỡng cha mẹ, nhất là làm cho cha mẹ đặng giải-thoát tự-tại.

H: Làm sao cho cha mẹ đặng giải-thoát?

Đ: Thành-thật qui-y Tam-Bảo, tập sống đời chính-đáng, khuyên ngăn cha mẹ đừng làm điều ác và phát lòng qui-y Tam-Bảo, cầu sự giải-thoát.

H: Nếu khi cha mẹ lâm chung thì làm sao?