SỰ THỨC TỈNH CỦA TÂY PHƯƠNG
Trần Chung Ngọc
Trong khoaœng 50 năm gần đây, Phật Giáo đột nhiên phát triển mạnh ơœ Tây Phương, thành trì cuœa Ki Tô Giáo (Christianity), nơi mà nền khoa học kỹ thuật đã phát triển vượt mức nhưng tâm thức con người vẫn chưa thoát ra khoœi sự tăm tối cuœa một ý thức hệ tâm linh kiêu căng hẹp hòi, kiêu căng hẹp hòi vì cho rằng chỉ có Ki Tô Giáo mới là tôn giáo duy nhất chân thực (the only true religion), một ý thức hệ bao trùm và làm chuœ lực tinh thần cho con người ơœ Tây phương đã gần 20 thế kyœ... Muốn hiểu sự phát triển hiện thời cuœa Phật Giáo vào những xã hội Tây phương chúng ta cần duyệt qua baœn chất nền văn minh Tây phương và cất boœ vài ngộ nhận.
Nghiên cứu kỹ về nền văn minh Tây phương chúng ta thấy rằng các nhà truyền giáo và giới quyền Ki Tô Giáo thường tự hào một cách nhập nhằng với cái mà họ ưa gọi là nền Văn Minh Ki Tô Tây phương (Western Christian Civilization), vì chuœ lực tinh thần ơœ Tây phương là Ki Tô Giáo. Nhưng ít người nhận thức được rằng sự phát triển và tiến bộ cuœa Tây phương là do khoa học và những tư tươœng khai phóng chứ không phaœi là do tôn giáo, vì con đường phát triển khoa học kỹ thuật và con đường phát triển tôn giáo ơœ Tây phương là hai con đường ngược chiều nhau. Con đường phát triển khoa học dựa vào lý trí, cái khaœ năng suy tư hợp lý, suy lý và phân biệt cuœa con người, cùng dựa vào thực nghiệm, và sự kiểm chứng những kết quaœ thực nghiệm; con đường phát triển Ki Tô Giáo dựa vào một niềm tin không cần suy luận, vì căn baœn cuœa Ki Tô Giáo là tin vào khaœ năng cứu rỗi cuœa một vị Thần siêu nhiên, phù hợp với lòng sợ sệt và thờ Thần cuœa mọi dân tộc trong thời bán khai. Và để hỗ trợ cho niềm tin không cần suy luận này, Ki Tô Giáo đã dựa vào gươm, đao, giác mác, và sau này súng đạn v.v... để bành trướng trên thế giới. Chưa kể là trong lịch sưœ nhân loại, Ki Tô Giáo Tây phương đã làm đuœ mọi cách với mọi quyền lực thế gian để ngăn chặn sự phát triển khoa học và những tiến bộ về tư tươœng khai phóng cuœa con người. Trường hợp Giordano Bruno bị đưa lên giàn hoœa thiêu sống vì dám đưa ra một nhận xét khoa học là ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có nhiều thế giới khác, tuy rất đúng nhưng lại trái với Thánh Kinh; trường hợp Galileo Galilei bị biệt giam tại nhà cho đến khi chết vì đã dám bày toœ nhận xét khoa học là thực sự trái đất quay xung quanh mặt trời chứ không phaœi là mặt trời quay xung quanh trái đất như đã viết trong Thánh Kinh, là những bằng chứng không thể chối cãi về sự đối nghịch giữa ý thức hệ tôn giáo và khoa học Tây phương. Cũng vì vậy mà Linh Mục Emmett McLoughlin đã viết trong cuốn Crime and Immorality in the Catholic Church như sau:
"Về phương diện trí thức, Giáo hội La Mã đã làm hết sức để bóp nghẹt đầu óc con người và làm nghẹt mọi sáng kiến." (Intellectually, the Church of Rome has done its best to strangle the human and stiffle mental initiate).
Và, Tiến Sĩ J.C. Cleary đã viết trong bài Phật Giáo và Người Việt Nam Hiện Đại:
"Những ai có kiến thức về lịch sưœ Âu Châu đều biết rằng, Giáo Hội Gia Tô La Mã đã làm đuœ cách trong quyền lực cuœa họ để ngăn chặn sự phát triển cuœa khoa học cũng như lối sống và suy nghĩ mới cuœa con người."
Như vậy, việc đầu tiên khi chúng ta khaœo sát về nền văn minh Tây phương là chúng ta cần phân biệt nền văn minh khoa học Tây phương với cái ý thức hệ Ki Tô Giáo Tây phương. Chúng ta hãy đặt một câu hoœi sau đây và thành thực traœ lời với tinh thần tôn trọng sự thực: Nền văn minh Tây phương được tạo dựng bơœi những phát minh khoa học cuœa Bruno, Galilei, Kepler, Berthelot, Darwin, Einstein v.v... và các tư tươœng cuœa Voltaire, Victor Hugo, Thomas Paine, Robert Ingersoll, Gambetta, Goethe, Kant, Humboldt, Hume, Bertrand Russell v.v... hay là bơœi 8 cuộc Thánh Chiến, 400 năm hình án, chính sách nô lệ hóa, diệt chuœng, phá huœy văn hóa địa phương v.v... cuœa những giáo hoàng, hồng y, giám mục, linh mục, dựa trên những giáo điều, tín lý ngăn chặn tiến bộ, phaœn khoa học? Câu traœ lời thật là rõ ràng nếu chúng ta để tâm tìm hiểu về sự phát triển khoa học và tư duy ơœ Tây phương. Chúng ta hãy nhìn vào cái ý thức hệ Ki Tô Giáo Tây phương được thể hiện rõ ràng nhất trong các xã hội hầu như toàn tòng Ki Tô Giáo, đặc biệt là Gia Tô La Mã Giáo, như Mexico, Tây Ban Nha, các nước ơœ châu Mỹ La Tinh, Nam Mỹ, Phi Châu, và Phi Luật Tân ơœ Á Châu, những nơi mà sau khi hoặc làm đoàn quân tiền phong cuœa thực dân, hoặc theo gót thực dân Tây phương, các nhà truyền giáo Gia Tô Giáo đã làm đuœ mọi cách để huœy diệt các nền văn minh, văn hóa địa phương và thay vào đó một nền văn minh tàn độc, hẹp hòi cuœa Gia Tô Giáo như lịch sưœ đã chứng minh khắp nơi trên thế giới. Sự chứng minh được thể hiện rõ ràng nhất qua các cuộc công du cuœa John Paul II đi tới các nước trong thế giới thứ ba, xin lỗi các quốc gia này và mong cầu các quốc gia này hãy quên đi và tha thứ cho những tội ác và bất hạnh mà Gia Tô Giáo đã mang tới các quốc gia này, cũng như kêu gọi các tín đồ Gia Tô phaœi sám hối về những tội ác này trước ngưỡng cưœa một thiên niên kyœ sắp tới. Việt Nam thoát được phần lớn quốc nạn này là nhờ ơœ tinh thần Phật Giáo đã thấm sâu vào lòng đất dân tộc, lòng yêu nước cao độ cuœa nhân dân Việt Nam, và cũng nhờ ơœ đầu óc tiến bộ, khai phóng cuœa một số viên chức thực dân Pháp, chịu aœnh hươœng cuœa cuộc cách mạng năm 1789 ơœ Pháp, không để cho các Giáo sĩ Gia Tô như các giám mục M.A.L. Caspar, I. Colombert, F.M. Pellerin, L. Pigneau, P. Puginier v.v... tự tung tự tác trong mưu đồ tiêu diệt nền văn hóa Việt Nam. (Xin đọc những cuốn tài liệu French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam, 1857-1914 cuœa Patrick J.N. Tuck, The Vietnamese Response to French Intervention cuœa Mark W. McLeod, Vietnam’s Will to Live cuœa Helen Lamb, Les Missions-Étrangères et la Pénétration Francaise au Viêt-Nam cuœa Nicole Dominique Lê, và Les Missionaires et la Politique Coloniale Francaise au Viet- nam cuœa Cao Huy Thuần).
Tuy nhiên, chúng ta không thể phuœ nhận là sự phát triển khoa học ơœ Tây phương từ thế kyœ thứ 17 đã giúp cho các nhà truyền giáo Tây phương một kiến thức tiến bộ về các bộ môn khoa học, và nhờ vào những kiến thức này mà các nhà truyền giáo đã thành công phần nào trong việc truyền bá Gia Tô Giáo vào các nước kém tiến bộ về khoa học, dân trí còn thấp kém. Những người dân ít học chỉ nhìn thấy cái kiến thức khoa học tiến bộ bề ngoài cuœa các nhà truyền giáo và đồng hóa những kiến thức này với Gia Tô Giáo mà không nhìn thấy baœn chất phaœn tiến bộ, phaœn khoa học và siêu mê tín dị đoan cuœa Gia Tô Giáo.
Cho nên, thật là dễ hiểu khi chúng ta thấy một số người ít học ơœ các nước kém phát triển về khoa học đã bị mê hoặc bơœi cái voœ ngoài cuœa các giáo sĩ truyền đạo với tâm lý: nếu những giáo sĩ đã có những kiến thức tiến bộ như vậy thì tất nhiên Thần cuœa họ phaœi mạnh hơn, có nhiều uy lực hơn là các Thần thuộc tín ngưỡng cuœa dân baœn xứ. Họ có bao giờ biết tới nhận định khá chính xác sau đây cuœa Tiến Sĩ J.C. Cleary, tốt nghiệp đại học Harvard về Văn Minh Á Đông:
"Người Việt Nam hẳn sẽ ngạc nhiên khi khám phá ra rằng đối với những người Tây phương có đầu óc tiến bộ, chính Thiên Chúa Giáo mới là một mớ huyền thoại lỗi thời, mê tín dị đoan, và những nghi lễ vô nghĩa lý."
Sự phát triển khoa học và các tư tươœng khai phóng ơœ Tây phương đã làm cho Tây phương thức tỉnh, không còn chấp nhận những mê tín dị đoan và những giáo điều, tín lý hoang đường, không phù hợp với đầu óc cuœa những người trong các quốc gia văn minh tiến bộ. Do đó, càng ngày người Tây phương càng mất niềm tin ơœ một tôn giáo mà lịch sưœ đã chứng minh là luôn luôn đi ngược với sự tiến bộ cuœa nhân loại. Và tất nhiên họ phaœi khao khát một cái gì mới lạ, rộng rãi hơn, và hợp với đầu óc khoa học tiến bộ cuœa con người hơn. Nhận xét sau đây cuœa Malachi Martin, một Giám Mục Gia Tô Dòng Tên và là một nhà Thần Học sáng danh vào bậc nhất, một chuyên gia thượng thặng về Giáo Hội Gia Tô La Mã, đã từng là giáo sư cuœa Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh ngay tại Vatican (An eminent Catholic theologian and expert on the Catholic Church, and former professor at the Vatican’s Pontifical Biblical Institute), trong cuốn The Keys of This Blood cho chúng ta thấy rõ vấn đề:
"Giáo Hoàng biết rất rõ rằng, trong thế kyœ tới, Gia Tô Giáo sẽ chỉ còn tồn tại ơœ các nước trong thế giới thứ ba. Tự bao giờ, Gia Tô Giáo chỉ nẩy nơœ trong đám dân chúng nghèo khổ và ít học. Tây phương phức tạp không còn tiếp nhận sự hẹp hòi cuœa Gia Tô Giáo nữa. Giáo Hoàng biết rõ như vậy." (The Pope is well aware that, in the next century, Catholicism will survive only in Third World countries. Catholicism has always flourished only in poor population of low educationl quality. The sophisticated West can take Catholicism’s narrowness no longer. The Pope realizes that.)
Cho nên, chúng ta không lấy làm lạ khi thấy, từ thế kyœ thứ 19, tâm thức Tây phương đã mơœ để đón nhận một luồng gió tư tươœng mới từ Đông phương thổi tới. Luồng gió này chính là các tư tươœng từ bi hỉ xaœ, vị tha, nhân baœn, rộng rãi, khoan dung, tiến bộ và phù hợp với các suy lý khoa học cuœa Phật Giáo.
Trong bài viết này tôi không có ý định quaœng cáo Phật Giáo. Phật Giáo không có truyền thống và không bao giờ đặt nặng vấn đề quaœng cáo để thu lượm tín đồ. Tôi chỉ đưa ra một số sự kiện về sự truyền bá Phật Giáo vào các xã hội Tây phương và tìm hiểu tại sao ngày nay đầu óc Tây phương lại thích ứng tiếp nhận những tư tươœng Phật Giáo.
Sự phát triển cuœa Phật Giáo vào các xã hội Tây phương được thấy rõ nhất trong số lượng sách, báo phát hành ngày nay trong các xã hội này. Cách đây khoaœng 25 năm, ngoại trừ trong các thư viện cuœa các đại học lớn như Harvard, Berkeley, Wisconsin v.v..., vào một tiệm sách lớn thì ta cũng chỉ thấy một số sách vừa phaœi về Phật Giáo. Nhưng ngày nay thì các tiệm sách lớn đều để riêng một khu cho sách Phật Giáo, và từ năm 1950 tới nay số lượng sách về Phật Giáo đã tăng lên gấp 20 lần, theo một thống kê cuœa Sangharakshita. (Xin đọc cuốn Alternative Traditions cuœa Sangharakshita).
Trong sự phát tiển nhanh chóng cuœa Phật Giáo này, Phật Giáo Việt Nam đã góp phần không nhoœ. Trước đây Tây phương chỉ biết tới Phật Giáo qua những khaœo luận trí thức cuœa một số học giaœ. Trong cuộc chiến ơœ Việt Nam, cuộc tranh đấu cuœa Phật Giáo đưa tới cao điểm là cuộc tự thiêu cuœa Bồ Tát Thích Quaœng Đức và một số tăng ni khác đã làm vang động thế giới. Hình aœnh ngọn lưœa từ bi bốc lên từ nhục thân Bồ Tát Thích Quaœng Đức ngồi trong tư thế kiết già, lưng ngay, cổ thẳng, vững như trái núi, đã được truyền đi khắp thế giới làm chấn động nhân tâm thế giới và làm cho thế giới xúc động. (Một số người thuộc thành phần phaœn dân hại nước đã xuyên tạc cuộc tự thiêu cuœa Bồ Tát Thích Quaœng Đức với một luận cứ quá ấu trĩ, phaœn khoa học: rằng Ngài bị chích thuốc mê trước rồi mang ra đốt. Những người này hoàn toàn không hiểu gì về khaœ năng tập trung tư tươœng cuœa những người hành Thiền ơœ trình độ cao; họ cũng không hiểu caœ sự tương quan giữa thân và ý trong sinh lý học: rằng tất caœ mọi cưœ động hay tư thế cuœa con người là do ý điều khiển. Một người đã bị chích thuốc mê thì không bao giờ có thể ngồi trong tư thế kiết già, lưng ngay cổ thẳng, và tay chắp trước ngực. Tư thế này phaœi do ý điều khiển các đường gân, bắp thịt tứ chi mới có thể thực hiện được). Người Tây phương, quen thuộc với phưng pháp bành trướng hay baœo vệ Ki Tô Giáo bằng gươm đao, súng đạn mà họ cho rằng để vinh danh Chúa, cho nên lúc đầu không hiểu nổi hành động tự thiêu cuœa các Phật tưœ. Nhưng sau khi hiểu rõ Phật Giáo hơn, họ hiểu rằng hành động tự thiêu là một hành động đại hùng đại lực, từ bi tích cực, để chuyển hóa, thức tỉnh lương tâm con người đang chìm đắm trong màn vô minh dày đặc, chứ không phaœi là vì hân thù hoặc vì danh lợi trong những mục đích chính trị. Từ những nhận thức này, người Tây phương đã bị hấp dẫn bơœi những sắc thái vị tha, cao caœ, xaœ thân, và nhân baœn cuœa Phật Giáo. Và, với đầu óc tiến bộ cuœa xã hội Tây phương, thiên về suy lý và tin vào khoa học, người Tây phương một khi đã đi vào Phật Giáo đều nhân thấy cái tinh thần khai phóng, chân thực, từ bi, hòa bình, và hữu hiệu cuœa giáo lý và các phương pháp hành trì cuœa Phật Giáo.
Một dấu hiệu khác khá rõ rệt về sự phát triển Phật Giáo vào các xã hội Tây phương là hầu hết các quốc gia trên khắp thế giới đã tiếp nhận Phật Giáo một cách nghiêm chỉnh và đã tạo dựng nên nhiều trung tâm hoạt động theo tinh thần Phật Giáo. AŒnh hươœng cuœa Phật Giáo vào những xã hội Âu Mỹ đã được phát triển do công đức cuœa rất nhiều tu sĩ và cư sĩ Phật Giáo, nhưng điển hình là trên ba phương diện với những nhân vật nổi danh: Daisetz T. Suzuki với Thiền Tông do sự trợ giúp cuœa Paul Carus, tác giaœ cuœa cuốn sách nổi tiếng The Gospels of Buddha, Đức Dalai Lama với Mật Tông Tây Tạng, và Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh với quan niệm "Phật Giáo Nhập Thế" phối hợp với giáo lý "Tỉnh Thức". Gần đây chương trình "60 Minutes" cuœa đài truyền hình CBS cho biết là hiên nay ơœ Hoa Kỳ có hơn 2 triệu người Mỹ theo Phật Giáo hay chịu aœnh hươœng cuœa Phật Giáo, chưa kể tới những tín đồ Phật Giáo gốc Á Châu như Trung Hoa, Nhật Baœn, Việt Nam, Đại Hàn v.v... Đài truyền hình NBC cũng cho biết riêng ơœ Los Angeles có khoaœng 300 trung tâm Phật Giáo (Buddhist Centers), Boston có khoaœng 50 v.v... Đặc biệt là ơœ nước Ý, thuœ phuœ vững chắc cuœa Gia Tô Giáo, hiên nay đã có nhiều chục ngàn người theo Phật Giáo, và số người theo Phật Giáo càng ngày càng gia tăng khiến cho Tòa Thánh Vatican phaœi lo ngại. Tuần báo Newsweek, số ngày 22 tháng 8, 1994 cho biết: trong số báo bán nguyệt san "Văn Minh Gia Tô" do dòng Tên phát hành, Tòa Thánh đã phaœi đưa ra những lời đe dọa dứt phép thông công giáo dân nào đi theo Phật giáo. Tuy nhiên, một số giới chức trong giáo hội muốn được uyển chuyển khi xét đến biện pháp dứt phép thông công những người nổi tiếng như cầu thuœ bóng tròn Baggio dù rằng Baggio thường nhắc đến Đức Phật trong cuộc tranh giaœi túc cầu quốc tế. (The Vatican is apparently worried too many Italians are falling away to the Eastern faith... The current issue of Catholic Civilization, a biweekly published by the Jesuit order, warns that "embracing Buddhism is apostasy" and thus ground for excommunication. Still, some church leaders want wiggle room when it comes to excommunicating pop stars like Baggio, even if he did mention Buddha often during the World Cup.) Trong cuốn How The Swans Came To The Lake, Rick Fields viết về lịch sưœ phát triển cuœa Phật Giáo ơœ Hoa Kỳ với sự đóng góp cuœa Đức Dalai Lama, Tam Tạng Pháp Sư Tuyên Hóa ơœ Vạn Phật Trấn, Talmage, California, Cố Hòa Thượng Thích Thiên Ân ơœ San Francisco và Los Angeles (Công cuộc cuœa Hòa Thượng Thích Thiên Ân đang được các quý Hòa Thượng Thích Đức Niệm ơœ Phật Học Viện Quốc Tế, North Hills, CA., và Thích Mãn Giác ơœ Chùa Việt Nam, Los Angeles, CA., tiếp nối), và cuœa Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh trong nhiều cộng đồng trên khắp thế giới.
Các xã hội Âu Mỹ thường được coi là thành tri cuœa Ki Tô Giáo vì ý thức hệ Ki Tô đã là chuœ lực tinh thần cuœa Tây phương trong 2000 năm nay. Nếu cái chuœ lực tinh thần này đáp ứng những khao khát tinh thần cuœa người Tây phương thì không có lý do gì người Tây phương lại đi theo một tôn giáo khác mà từ trước tới nay họ thường được nhồi vào đầu óc là yếm thế, mê tín, dị đoan, bán khai. Cho nên, có lẽ chúng ta cũng nên tìm hiểu là tại sao tâm thức người Tây phương ngày nay lại mơœ ra để tiếp nhận những tư tươœng Phật Giáo, về giáo lý cũng như là các phương pháp hành trì. Đã có rất nhiều nhân vật có tên tuổi trên thế giới đưa ra những nhận xét trung thực về những tính chất nhân baœn, tự do, khai phóng, giaœi thoát, và khoa học cuœa Phật Giáo. (Xin đọc cuốn Great Personalities on Buddhism cuœa K. Sri Dhammananda). Sau đây tôi chỉ trích dẫn vài tài liệu mà tôi cho là đã giaœi thích được cái nguyên nhân mà người Tây phương ngày nay nhận thấy Phật Giáo là tôn giáo có thể đáp ứng những khát vọng tâm linh cuœa họ:
Trong cuốn Phật Giáo và Tây Phương: Sự Hội Nhập cuœa Phật Giáo Vào Xã Hội Tây Phương (Buddhism and The West: The Integration of Buddhism into Western Society), Sangharakshita giaœi thích như sau:
"Trong 2500 năm lịch sưœ, bất cứ tới đâu thì Phật Giáo cũng nhập vào nền văn hóa địa phương một cách phong phú và sinh động. Đối với Phật Giáo thì điều này có nghĩa là Phật Giáo có những dạng bày toœ ý kiến và truyền thông mới cũng như những phương pháp truyền đạo khác biệt nhau một cách đáng kể. Phật Giáo đã mang tới những lý tưởng mới, ý tươœng mới, lối sống đạo đức mới, và đời sống xã hội, văn hóa, nghệ thuật mới meœ—thường là một sự biến đổi tận gốc.
Ngày nay Phật Giáo đang đi tới Tây phương, và căn cứ trên cách chấp hành nghiêm chỉnh những nguyên tắc và thực hành Phật Giáo cuœa những người Tây phương thì chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa là lịch sưœ sẽ lại tái diễn. Phật Giáo đang tiến tới sự hội nhập vào các xã hội Tây phương.
(Wherever Buddhism has traveled during its 2500 year history it has entered into a rich and dynamic relationship with its host cultures. For Buddhism this has meant new forms of expression and communication as well as considerable differences in emphasis and approach. To its surrounding societies have come new ideals, new ideas, new ethical standards, fresh social, cultural, artistic life—indeed, rarely anything less than radical transformation.
Now Buddhism is coming to the West, and judging from the seriousness with which many Westerners are taking to its principles and practices, there can be no doubt that history is going to repeat itself. Buddhism is about to become integrated into Western society).
Năm 1994, Stephen Batchelor xuất baœn cuốn Sự Thức Tỉnh Cuœa Tây Phương (The Awakening of the West) viết về sự phát triển cuœa Phật Giáo ơœ Tây phương. Cuốn sách được giới thiệu như sau:
"Cuốn Sự Tỉnh Thức Cuœa Tây Phương là một cuốn viết rất hay về lịch sưœ tiếp xúc cuœa Phật Giáo với Tây phương trong 2000 năm qua—một cuốn sưœ biên về những cơ hội boœ lỡ, sự kiêu căng văn hóa, thaœm kịch chính trị, và những giấc mộng không thành. Từ thời đại đế Alexandre, các vua chúa và giáo hoàng Tây phương đã mong moœi kiếm được quyền lực bằng cách chinh phục Á Châu. Qua nhiều thời kỳ họ đã phái từng đợt sứ giaœ và các nhà truyền giáo tới Á Châu để tiếp xúc với những người "ngoại đạo", nhưng tâm thức hẹp hòi cuœa người Tây phương đã làm cho những người này chẳng biết được bao nhiêu về Phật Giáo.
Ngày nay Phật Giáo được coi như là một tôn giáo phát triển nhanh nhất và là một trong những phong trào tinh thần có aœnh hươœng nhiều nhất ơœ Tây phương."
(The Awakening of the West is a beautifully written history of the Encounter of Buddhism with the West during the past 2000 years—a chronicle of missed opportunities, cultural arrogance, political tragedy, and unfulfilled dreams. Since the time of Alexander the Great, European kings and popes longed for the power to be gained through the conquest of Asia. They sent periodic streams of envoys and missionaries to establish contact with the "infidels", but the European’s narrow-mindedness prevented them from learning much at all about Buddhism.
Buddhism is said to be the fastest growing religion and one of the most influential spiritual movements in the West).
Nhưng rõ ràng hơn caœ có lẽ là sự phân tích sau đây cuœa George Dennis O’Brien, Giáo sư Triết, Viện trươœng Viện đại học Rochester, trong cuốn Thần (God) và Đường Xe Lưœa ơœ New Haven. Và Tại Sao Caœ Hai Đều Chẳng Làm Được Cái Gì Tốt Đẹp (God and the New Haven Railway. And Why Neither One IS Doing very Well):
"Bất cứ Ki Tô Giáo có thể là cái gì khác, có veœ như là ơœ ngoài mặt rõ ràng đó là một tôn giáo thuyết giáo về sự cứu rỗi và một đấng cứu rỗi. Trước khi chúng ta caœm thấy chán ngấy với ý tươœng này, điều quan trọng là chúng ta phaœi nhớ rằng hầu hết những chuœ lực tinh thần lớn khác, không những là không thuyết giáo về sự cứu rỗi mà trong vài trường hợp, còn thực sự khinh ghét ý tươœng này. Hồi Giáo là một trường hợp điển hình. Hồi Giáo có nghĩa là Tuân Phục; chẳng có Thần nào ngoài Allah và thế là xong chuyện. Người theo Hồi Giáo thấy rằng cái khái niệm Ki Tô về một đấng cứu rỗi đã làm hạ phẩm giá cuœa caœ đấng cứu rỗi lẫn người được cứu rỗi. Thần có thể hoàn thành những mục đích Thần muốn cho nhân loại, mà không cần tới những quay cuồng siêu hình phức tạp, và sự yœ lại vào một đấng cứu rỗi sẽ làm giaœm giá trị cuœa tinh thần độc lập và chịu đựng cuœa những người mà Thần dự định nhận làm khách hàng cuœa Thần. Con người hãy đứng vững trên hai bàn chân cuœa mình và tiến tới sự giaœi thoát cho chính mình.
Đức Phật không phaœi là một đấng cứu rỗi, Người là Đấng Giác Ngộ. Người đã chứng được những chân lý về nhân sinh, và Người đã đưa ra Tám Thánh Đạo để hướng dẫn con người đạt tới cùng sự giác ngộ như Người và do đó thoát khoœi khổ đau...
Để sống đạo hạnh và tiến tới Giác Ngộ, con người cần những đạo sư chứ không cần tới các đấng cứu rỗi. Sự khác biệt thật là quan trọng. Xét về toàn diện, những tôn giáo đạo đức hay giác ngộ thì hợp với xu hướng cuœa người Mỹ ngày nay hơn. Những tôn giáo này có hai lợi thế rõ rệt so với những tôn giáo dựa theo Thánh Kinh. Trước hết là những tôn giáo này có veœ như là những con đường tâm linh tự lực. Điều này hợp với tinh thần độc lập và tự tin cuœa người Mỹ. Tuy rằng các sư phụ đạo cao đức trọng rất là đáng quý trong các tôn giáo này, nhưng họ cũng có thể được để qua một bên, và con người có thể tự học lấy. Người ta không thể tự cứu trong tôn giáo dựa vào Thánh Kinh. Lợi thế thứ nhì cuœa các tôn giáo giác ngộ và đạo đức là những tôn giáo này có thể dẹp boœ phần lớn cái mưu toan thần học. Nếu thực sự có các Thần—và trong Phật Giáo có veœ như là không hề có—thì vai trò cuœa các Thần hoặc là những đạo sư hữu ích (nhưng có thể boœ qua), hoặc là những lý tươœng hay những nhân vật gương mẫu. Chân lý nằm trong giáo lý chứ không nằm trong người vừa là đạo sư vừa là đấng cứu rỗi.
Người Mỹ ưa tin rằng họ là những người tự lập. Nặng về chuœ nghĩa cá nhân, làm việc chăm chỉ, và sự khôn ngoan cuœa dân Yankee đã kết với nhau để biến một lục địa thô sơ thành một nơi phú cường và thoaœi mái vĩnh cưœu. Nhà thuyết giáo khuyến nhắc người nông phu ơœ New England về hoa mầu đồng áng cuœa họ một cách thành kính rằng: "Hãy coi, Con và thần đã hoàn thành công việc như thế nào?" Người nông phu traœ lời, "Cha nên nhìn thấy tình trạng đồng áng nếu chỉ có mình Thần làm việc ơœ ngoài đó". Nếu câu chuyện bóng bẩy về sự "tự lập" này thực sự định nghĩa một cá tính thì người Mỹ sẽ không cần tới người ngoài hay một đấng cứu rỗi bên ngoài."
(Whatever else Christianity may be, it seems on its face clearly to be a religion which preaches salvation and a savior. Before one becomes instantly bored with that idea, it is important to note that most other significant spiritual contenders not only don’t preach salvation, in some cases they positively dislike it. Islam is a case in point. Islam means "surrender"; there is no God but Allah and there you are! Muslims find the Chritian notion of a savior demeaning both to the saver and the saved. God can accomplish his ends for humanity without complex metaphysical gyrations, and dependence on a savior would devalue the moral independence and fortitude of the intended clients. Human folks ought to stand on their own two bare feet and get on with saving themselves.
Buddha is not a savior. He is the Enlightened One. He has seen the truths of human life, and he offers the Noble Eightfold Path as a guide to similar enlightenment and release from suffering...
For enlightenment and morality one needs teachers, not saviors. The distinction is crucial. On the whole, religions of morality or enlightenment are much more palatable to contemporary American taste. They have two distinct advantages over the Biblical tradition. In the first place they appear to be do-it-yourself spiritualities. This conforms to an American taste for independence and self-reliance. Although great teachers are valuable in these traditions, they are also dispensable, and one can be self-taught. One cannot be self-saved in the Biblical story. The second advantage of religions of enlightenment and morality is that they can dispense of most theological machinery. If there are Gods at all—and in Buddhism there appear to be none—then their role in either as helpful (but dispensable) teachers or as ideals and examplars. The truth is in the teaching, not in the teacher-savior.
Americans like to believe they are self-made. Rugged individualist, hard work, and Yankee cunning have conspired to make a raw continent an everlasting "bread machine" of wealth and comfort. The preacher piously advised the New England farmer on his cultivated field: "What you and God have accomplished!" The farmer replied, "You should have seen it when only God was working the field." If this metaphor of "self-made" is truly a defining character, Americans will have no need for an outside maker or an external savior.
Vấn đề phát triển cuœa Phật Giáo vào các xã hội Tây phương là một vấn đề rộng lớn. Hẳn nhiên là tôi không thể nào trình bày một vấn đề rộng lớn như trên trong khuôn khổ một bài báo. Độc giaœ nào muốn tìm hiểu sự truyền bá Phật Giáo vào các xã hội Tây phương với đầy đuœ chi tiết hơn có thể tham khaœo vài cuốn sách điển hình sau đây: Buddhism in Europe cuœa Kosho Yamamoto, Zen Comes West cuœa Christmas Humphreys, Buddhism and the West: The Integration of Buddhism Into Western Society cuœa Sangharakshita, Buddhism in Australia cuœa Paul Croucher, How The Swans Came to the Lake cuœa Rick Fields, và The Awakening of the West cuœa Stephen Batchelor.
Nhưng không phaœi là Phật Giáo chỉ phát triển ơœ Tây phương, mà Phật Giáo cũng còn đang đi vào khắp nơi trên thế giới, thí dụ như Nga Sô, Trung Đông, Nam Mỹ, Nam Phi, Bắc Âu v.v... Và đây là một trong những nguyên nhân làm John Paul II lo ngại đến nỗi phaœi viết cuốn Bước Qua Ngưỡng Cưœa Hi Vọng để xuyên tạc và hạ thấp các tôn giáo khác, nhất là Phật Giáo, để duy trì niềm tin vào Gia Tô La Mã Giáo cuœa các dân tộc kém mơœ mang, dân trí còn tương đối thấp kém, do đó vẫn còn bị mê hoặc bơœi những mê tín, phép lạ, siêu nhiên không thể nào có, hoặc còn tuân phục vô điều kiện Tòa Thánh Vatican, đặt Tòa Thánh lên trên quyền lợi cuœa quốc gia dân tộc.
Qua bài phân tích trên, tôi hi vọng độc giaœ cũng nắm được phần nào các sự kiên liên quan đến thực chất cuœa Phật Giáo cũng như Ki Tô Giáo, và sự phát triển hiện nay cuœa Phật Giáo trong các xã hội Tây phương. Trước sự phát triển cuœa Phật Giáo vào các xã hội tân tiến Tây phương, và trước sự chấp nhận cuœa Tây phương đối với những giá trị tinh thần, nhân baœn cuœa Phật Giáo, người Việt Nam nên hãnh diện về cái "đạo dân tộc" cuœa mình. Đất nước cuœa chúng ta quaœ thật đã may mắn vì đã được thấm nhuần tinh thần Phật Giáo, một tinh thần chuœ lực xây dựng nước và giữ nước như đã được chứng minh trong nhiều giai đoạn thăng trầm cuœa lịch sưœ. Và do đó, chúng ta phaœi có bổn phận gìn giữ, phát huy tinh thần Phật Giáo trong mọi tầng lớp dân chúng, ơœ trong nước cũng như ơœ haœi ngoại, không nên vì một vài lợi ích vật chất phù du mà chạy theo những ý thức hệ huyền hoặc, phaœn khoa học, phaœn dân tộc, phaœn nhân loại. Chúng ta phaœi chứng toœ cho thế giới là người Việt Nam đã văn minh tiến bộ và cái gia tài tinh thần chúng ta đang hươœng thật là quý báu vì sau bao thế kyœ người Tây phương mới nhận ra được chân giá trị cuœa nó.
Ngoài ra chúng ta cũng còn có bổn phận phaœi góp phần truyền bá Phật Giáo vào các xã hội Tây phương để mang ánh sáng chân thực, hòa bình, vị tha, khoan dung v.v... cuœa Phật Giáo đến với những người Tây phương đang hoang mang về những giá trị tinh thần trong những xã hội cuœa họ. Tôi hi vọng chúng ta đều ý thức được cái nhiệm vụ vị tha cao đẹp này cũng như tầm quan trọng cuœa những hoạt động phục vụ Đạo Pháp cuœa mọi Phật tưœ trước ngưỡng cưœa cuœa Thế Kyœ 21.