BUDDHA HOME

 PHẬT PHÁP

 

 

SỞ DĨ PHẬT RA ĐỜI, ĐỂ VÌ NÓI PHẬT TUỆ

 

Thích Chân Tịnh

 

 

 

Chư Phật sở dĩ thị hiện ra đời chỉ vì một mục đích là muốn cứu vớt chúng sinh ra khoœi sông mê bể khổ. Thế gian có 8 vạn 4 ngàn thứ phiền não ràng buộc thì Phật có 8 vạn 4 ngàn pháp môn đối trị.

Tất caœ pháp môn dù thuận dù nghịch, dù mật dù hiển, rút lại đều giúp chúng sinh đạt đến Trí Tuệ Rốt Ráo Niết Bàn.

Muốn đạt đến Trí Tuệ Rốt Ráo Niết Bàn thì phaœi nhận ra là mình vốn sẵn có trí tuệ đó, tu tập để sống với trí tuệ đó từng phần cho đến khi hoàn toàn lúc nào cũng chỉ có trí tuệ đó vắng lặng chiếu soi, chiếu soi mà vẫn vắng lặng. Nói theo từ ngữ nhà Phật là tịch mà chiếu, chiếu mà tịch.

Tất caœ loài hữu tình nói chung, và loài người như chúng ta, nói riêng, đều có sẵn Trí Tuệ Rốt Ráo Niết Bàn; nhưng hầu hết đều không biết hoặc lãng quên rồi suốt đời chạy theo hoàn caœnh bên ngoài nên không những bị lưœa phiền não thiêu đốt mà còn tạo nên nhiều nghiệp ác phaœi bị vướng vào bánh xe luân hồi để đền traœ quaœ báo không lúc nào thoát ra được.

Vậy Trí Tuệ Rốt Ráo Niết Bàn ấy là gì?

Chính là cái chiếu soi mà chúng ta dùng để nghe để nhìn vậy. Hàng ngày, chúng ta đều dùng cái chiếu soi ấy rọi vào óc rồi xuyên qua 6 cái cưœa là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý để tiếp xúc với cuộc đời.

Bên ngoài có thiên hình vạn trạng nhưng có thể rút lại trong 6 chữ là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Chữ "pháp" ơœ đây có nghĩa là sự và vật tức là đối tượng cuœa cái ý. Sáu món này còn gọi là trần hay là caœnh bên ngoài và cái chiếu soi bên trong cuœa chúng ta được gọi là tâm. Tâm cuœa chúng ta luôn luôn chạy theo, nắm bắt trần caœnh. Khốn một nỗi là trần caœnh luôn luôn thay đổi, từng giờ từng phút từng giây từng sát na, không một lúc nào ơœ yên một trạng thái, nói theo từ ngữ trong chùa gọi là niệm niệm sinh diệt. Thế mà đáng thương thay cho chúng ta!

Chúng ta luôn luôn nghĩ rằng sự vật ơœ đời là thường còn không hề biến đổi, ông A hôm qua với ông A hôm nay là một, bà B năm ngoái với bà B ngày mai vẫn như nhau! Rồi chúng ta chạy theo người thân, người thù, người yêu, người ghét; chúng ta chạy theo tiếng khen, tiếng chê; chúng ta cố nắm bắt và cố bắt cho thực nhiều tiền cuœa, vật chất. Khi chưa được chúng ta khổ vì mong cầu; khi được rồi chúng ta lại khổ vì sợ mất; và rốt cuộc khi mất chúng ta lại khổ vì thương tiếc!

Suốt đời không lúc nào chúng ta được vui. Còn cái chiếu soi bên trong cuœa chúng ta khi chúng ta mới sinh ra đời nó vẫn thế, bây giờ vẫn thế và ngày mai hay một trăm năm nữa nó vẫn thế. Nó không có hình thù, tướng mạo, nó không tự nhận nó là ai, là ta, hay là người, nó không vui cũng không buồn, nó không nhơ cũng không sạch. Nó ơœ trong tôi hay ơœ trong quý vị, ơœ trong các bậc thánh nhân hay ơœ trong Phật không có gì khác nhau. Cho nên nó còn được gọi là chân tâm hay Phật tính hay ông chuœ hay trí tuệ Bát Nhã, v.v.

Vì chúng ta maœi chạy theo cái sinh diệt, sống với cái sinh diệt nên chúng ta cũng bị sinh diệt. Còn những bậc thánh nhân hay Phật là những đấng luôn luôn sống với cái chiếu soi, không bao giờ để cái chiếu soi chạy theo trần caœnh nên lúc nào trí tuệ cũng soi chiếu mười phương và luôn luôn tự tại.

Mục đích Phật thị hiện ra đời là để chỉ cho chúng ta nhận ra và sống với cái chiếu soi ấy, cái Phật tính ấy. Nếu sống được một phần thì chúng ta bớt khổ được vui một phần, nếu sống hoàn toàn với Phật tính thì chúng ta hoàn toàn thoát khổ được vui và đó là caœnh giới Niết Bàn.

Thế nào gọi là sống với Phật tính được một phần?

Đó là khi tiếp xúc với cuộc đời, nói một cách khác là khi sáu căn cuœa chúng ta tiếp xúc với sáu trần caœnh, chúng ta vẫn giữ cho tâm cuœa chúng ta đứng lặng được lúc ấy, tâm cuœa chúng ta không chạy theo caœnh, nói theo danh từ trong chùa là "tâm không đến với caœnh". Thí dụ như khi có ai chưœi mắng ta. Tai chúng ta nghe, biết là nghe, nhưng tâm đứng lặng biết là nghe tiếng ấy, và tiếng chỉ là tiếng bình đẳng như tất caœ tiếng khác, tâm không chạy theo tiếng bị nghe để phân biệt đó là tiếng chưœi hay tiếng khen. Nếu khơœi tâm phân biệt tức là tâm đã bị động. Rồi từ chỗ phân biệt đến chỗ khơœi thêm tâm phaœn ứng là một tầng động thứ hai. Từ chỗ có tâm phaœn ứng đến phát sinh caœm thọ vui buồn và rồi phát sinh hành động là những tràng phiêu lưu vào cuộc đời aœo hóa và bị luật nhân quaœ chi phối.

Tương tự như vậy khi chúng ta thấy, ngưœi, nếm, đụng chạm, suy nghĩ, tươœng nhớ sự vật, v.v. nếu chúng ta để tâm chạy theo nắm bắt những cái bị nhìn, bị ngưœi, bị nếm, bị đụng chạm, được tươœng nhớ đến là chúng ta phiêu lưu vào mê hồn trận không biết đường lối ra!

Khi đến chùa, quý vị đã từng nghe câu "phiền não tức bồ đề" hoặc trong baœn văn sám hối trước khi tụng kinh Pháp Hoa có đoạn như sau: "Vì thế, trong trí bồ đề mà thấy không thanh tịnh; trong caœnh giaœi thoát mà sinh ràng buộc; nay mới toœ ngộ nay mới chừa boœ ăn năn, v.v."

Thực thế, nếu lúc nào cũng sống với cái chiếu soi, với Phật tính, với ông chuœ, với cái gốc, thì lúc nào cũng là bồ đề, cũng là giaœi thoát, cũng là thanh tịnh. Trái lại, nếu để tâm chạy theo caœnh, dính mắc với caœnh, thì lúc nào cũng là phiền não, cũng là ràng buộc, cũng là không thanh tịnh.

Phiền não hay bồ đề, giaœi thoát hay ràng buộc cách nhau không đầy gang tấc, chưa đến khoaœng một khaœy móng tay vì chỉ do tốc độ cuœa tâm, tùy thuộc vị trí cuœa tâm. Tâm ơœ gốc hay ơœ ngọn, ơœ chỗ chiếu soi hay chạy theo trần caœnh. Giaœn dị có thế thôi!

Tuy tâm vắng lặng chiếu soi có veœ như bất động nhưng người tu không phaœi là không làm gì hết, không có nghĩa là để mặc cuộc đời trôi chaœy! Người đã sống với cái tâm chiếu soi nên nhìn sự vật đúng như thực nó là vậy nên rất sáng suốt, tiếng nhà chùa gọi là chính kiến.

Vì nhìn thấy sự vật đúng như thực nên thấy người đời mê lầm khổ cực mà sinh tâm thương xót. Vì thương xót (là có tâm Bi) nên muốn đem niềm vui đến cho tất caœ người vật mà mình có nhân duyên gặp gỡ tức là có tâm Từ.

Có tâm Từ, có tâm Bi nên hành giaœ làm được những việc khó làm, nhẫn được những việc khó nhẫn, huống chi là làm những việc thường ngày trong bổn phận như làm cha mẹ, vợ chồng, con cháu, anh chị em, bè bạn, chuœ nhân, người làm công, công dân, v.v.

Tóm lại, người tu theo đạo Phật là người sống với Phật tính, sống với cái chiếu soi, không để tâm chạy theo caœnh, nhưng vẫn thấy nghe hay biết tất caœ cái gì cuœa cuộc đời mà mình tiếp xúc một cách rất như thực. Nhưng không phaœn ứng theo thói thường, theo chấp ta, chấp người, vì quyền lợi cuœa ta trước hết. Trái lại, người Phật tưœ hành động theo sự hướng dẫn cuœa Trí Tuệ, cuœa tâm Bi, tâm Từ đem lại lợi ích cho tất caœ mọi người mọi vật không phân biệt thân thù, yêu ghét.

Sau đây chúng ta hãy coi lại vài đoạn phim trong những năm đức Phật còn tại thế và trên đường hoằng truyền chính pháp, những caœnh thuận cũng như caœnh nghịch đã đến với ngài, chúng ta sẽ thấy hình aœnh và thái độ cuœa bậc thánh nhân, bậc đã hoàn toàn sống với cái chiếu soi, đã đầy đuœ tâm Từ và tâm Bi như thế nào.

Như trường hợp một người Bà La Môn dùng 500 lời ác mắng Phật giữa đám đông, mặt Phật không đổi sắc cũng không có tâm khác. Cũng người Bà La Môn ấy lúc tâm phục, lại dùng 500 thứ lời tốt khen Phật mà Phật cũng không có sắc vui mừng! Tâm cũng không thích! Với sự khen chê, tâm và sắc mặt không thay đổi!

Lại như khi người con gái Bà La Môn tên Chiên Giá giaœ có thai vu báng cho Phật, Phật không có sắc thẹn; khi sự thật được phơi bày, Phật không có sắc vui.

Khi chuyển pháp luân, âm thanh ca ngợi vang dậy mười phương, tâm Phật cũng không cao. Khi ngoại đạo giết người tên là Tôn Đà Lợi boœ vào sau Tịnh Xá, tiếng xấu lan tràn, tâm Phật cũng không thấp.

Nước A La Tỳ gió lạnh, lại nhiều gai góc, Phật nằm ngồi trên đó cũng không lấy làm khổ. Khi ơœ trên trời, trong vườn hoan hỉ, nhân mùa hạ an cư, ngồi trên đá "kiếm bà" nhu nhuyễn mát meœ như duyên thiên uyển cũng không lấy làm vui sướng. Nhận đồ ăn trời do Đại Thiên vương dâng cúng không lấy làm ngon; ơœ nước Tỳ Lan Nhã ăn lúa ngựa chẳng lấy làm buồn. Các đại quốc vương cúng dàng đồ quý chẳng cho là được; vào xóm Tát La, đem bát không ra chẳng cho là mất. Đề Bà Đạt Đa ơœ núi Kỳ Xà Quật đẩy đá hại, Phật cũng không sợ! Lúc ấy, La hầu La lấy tâm cung kính ca ngợi, Phật cũng không yêu. A Xà Thế xua voi say hại, Phật cũng không sợ. Chiết phục voi rồi, người thành Vương Xá càng thêm cung kính, mang hương hoa, anh lạc ra cúng dàng, Phật cũng không vui. . .

Các thái độ được mô taœ trên đây không phaœi là sự lấy nghị lực đè nén xúc động về tâm cũng như về thân mà là trạng thái thiền định rất sâu cuœa bậc đại thánh chúa, lúc nào cũng trụ nơi không chỗ trụ, lúc nào trí tuệ cũng hằng chiếu soi khắp 10 phương, không một maœy may khơœi niệm phân biệt mà tâm đại từ bi vẫn không boœ sót một chúng sinh nào.

Đó là trạng thái trí tuệ rốt ráo Niết Bàn, trạng thái đấng Thiên Nhân sư đã đạt được và muốn cho tất caœ chúng sinh như chúng ta cũng đều sẽ đạt được. Đó là baœn hoài cuœa Phật, đã được minh định trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện:

 

"Sở dĩ Phật ra đời

Để vì nói Phật tuệ ..."