MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ ĐẠO PHẬT
Cư sĩ Đông Phương Mai Lý Cang
Nếu chân lý tuyệt đối cuœa con người là sự caœm nhận được qua mọi nguyên nhân đau khổ cuœa muôn loài trên mặt đất thì triết lý cuœa đạo Phật từ lâu quaœ là một hệ thống giáo dục tư tươœng thực tiễn nhằm đào tạo cá tính con người đi lần vào một thế giới hài hòa, an lạc, thái bình và hạnh phúc.
Thực vậy, như một lầu đài ánh sáng soi đường cho tất caœ chúng sinh không phân chia ranh giới, đạo Phật đã phá tan được những nghi ngờ và làm sáng toœ ý nghĩa cuœa chân lý tinh diệu được thể hiện trong mọi hành động phán đoán bằng trí tuệ cuœa con người. Đó là ý thức tư tươœng tự do cuœa Phật giáo đồ. Với quan niệm tôn giáo phaœi làm gì cho con người trong cuộc sống, đạo Phật thuœy chung không boœ lỡ mọi cơ hội để khuyên nhắc người Phật tưœ đừng vô tình mà đánh mất đi giá trị tinh thần căn baœn theo đạo cuœa mình bằng mọi sự mù quáng, mê tín thiếu ý thức tư tươœng tự do vốn là sức sống cần thiết cuœa mỗi cá nhân. Sự chọn lựa tự do trước khi quyết định ấy nếu là sáng suốt thì nó phaœi đương nhiên chấp nhận sự khám phá những bí ẩn cuœa cuộc đời như nguyên nhân cuœa sự khổ đau và hạnh phúc mà đức Phật—một con người thực tế đã vẹn- toàn giác ngộ về chân lý.
Ý nghĩa sâu xa thâm thúy đó đã được dịp chứng minh nền taœng triết lý cuœa đạo Phật vốn không phaœi là một lý thuyết siêu hình hay nghi thức, thiếu công dụng thực tế để đáp ứng với những nhu cầu khao khát cuœa chúng sanh. Ngược lại, nó đòi hoœi ơœ tín đồ phaœi có được một đức tính, thái độ gần như là điều kiện tiên quyết để bắt đầu sống theo đạo lý. Đó là lòng can đaœm. Phaœi can đaœm hứng nhận mọi trách nhiệm về quyền năng thươœng phạt cuœa cuộc đời là do chính mình tự tạo ra sự đau khổ hay hạnh phúc. Do vậy, những kết luận khẳng định nhất quyết cho rằng mọi khổ đau nầy là bơœi tội lỗi cuœa gia tiên để lại đều hoàn toàn có phần trái với ý thức hoán cải nhân duyên tạo lại nghiệp quaœ đúng theo trong triết lý cuœa Thích Ca Mâu Ni. Vì rằng người thực hành lý thuyết cuœa đạo Phật qua bao nhiêu năm nghiên cứu pháp điển nầy đều nhận thấy rõ ràng hơn ai hết là cái vòng xích nhân quaœ quay tròn khó mà phân biệt được đuôi đầu, lúc nào là nhân, lúc nào là quaœ ơœ cuộc đời sát na đầy tục lụy. Trong định luật vô thường cuœa vũ trụ, mọi sự vật ơœ trên cõi đời nầy tuy có khi tụ, khi tan, tuy nhiên, không phaœi vì thế mà mọi hành động đều trơœ nên vô phaœn ứng để rồi phát sinh ra những kết thúc và hậu quaœ có tầm giá trị khác nhau. Đối với những baœn tính xấu xa cuœa con người như tham, sân, si v.v... chung cuộc để rồi tất caœ cùng bị đắm chìm vào trầm mê bể khổ thì trong đời sống cuœa một thế hệ không biết có bao nhiêu trạng thái tâm hồn đã được dịp nẩy nơœ phát sinh khi phaœi suy nghĩ về mọi sự chênh lệch cuœa muôn loài chúng sanh.
Chính đức Phật đã nghĩ ra ngay như vậy cho nên ngày đầu tiên sau bao năm ẩn mình vào núi Tuyết trơœ về triều nội, Ngài đã không quên long trọng nói về ý nghĩa cuœa một thông điệp mà kinh điển trong pháp Tứ Diệu Đế là những lời răn dạy đơn sơ, bình dị nhưng cũng lại là một kho báu triết lý cao siêu, hàm súc vô vàn ý nghĩa bao la vô cùng tận. Và ngày nay, chúng ta có thể nói chính do kinh pháp cuœa đạo Phật đã mang đến mọi niềm caœm khái cho loài người một khi sàng lọc được tâm thân để trơœ thành toàn thiện. Vaœ chăng, muốn thực hiện được điều nầy thì luân lý, triết học cuœa đạo Phật chỉ mong sao tín đồ trước hết phaœi có ý nguyện phát tâm để cho lòng trong sạch, tâm không còn bị động loạn hầu lắng chìm mọi lớp bụi thời gian và phân biệt u minh hai neœo chánh tà để làm lành, lánh dữ, biết sưœ dụng phương tiện phát triển tinh thần trên con đường tu học chánh pháp. Đi sâu vào quan niệm tự do khai phóng cuœa đạo Phật, người Phật tưœ thấy rằng giáo lý cuœa chúng ta hoàn toàn chấp nhận sự tôn trọng baœn năng sáng tạo cuœa mọi người trong cộng đồng nhân loại và lúc nào cũng mong muốn có những sự thoœa hợp, giaœi quyết thuận nhân sinh trong ý thức nhân quyền. Và nếu những ai còn nghi ngờ và muốn biết rõ hơn về quan niệm nầy cuœa đạo Phật ra sao thì hãy bình thaœn nhìn vào thực tế đặc tính căn baœn hiếu hòa, khoan dung và nhẫn nhục trong lời kinh kệ ơœ thiền môn hằng ngày ngay caœ từ việc tránh sát sanh, dưỡng sinh kiêng cữ đúng theo giới trai. Vì vậy, cho dù có được phê bình đến đâu đi nữa thì người ta cũng vẫn không sao phuœ nhận được tầm aœnh hươœng quan trọng cuœa giáo lý Thích Ca đã bén rễ, ăn sâu vào từng các tế bào trong đời sống dân gian cuœa con ngừơi từ hàng thế kyœ trôi qua. Cũng trong ý nghĩa đó, người ta nhận thấy rõ ràng là—ngoài những bậc hành giaœ có đạo hạnh và đạo lực cao—người Phật tưœ chính là người cầm chìa khóa để mơœ cưœa đi vào mái nhà hạnh phúc cuœa cá nhân mình miễn là tự chuœ được baœn ngã để tiến tới địa vị cuœa một kiến trúc sư cuœa tâm hồn và có thể làm đổi thay định mệnh trong cuộc sống. Chính phương pháp thiền định đã giúp ích rất nhiều cho người Phật tưœ lấy sự thanh tịnh chinh phục nội tâm trên con đường đi đến giác ngộ tìm chân lý. Và Niết Bàn do vậy mà cũng được mơœ ra cho những con người có tâm hồn hướng thượng dễ dàng tìm thấy ơœ bất cứ lúc nào.
Điểm độc đáo cuœa đạo Phật trong cuộc sống không phaœi vì được con người nể phục qua những lượng Hyœ Xaœ, đức Từ Bi mà chính vì trong lòng đặc tính căn baœn, nguyên thuœy cuœa nó đã có nhiều giá trị siêu việt, thách thức caœ khoa học vào những khái niệm cuœa định luật vô thường trong vật thể.
Do đó, ngoài những danh từ tôn xưng đức Phật trong tôn giáo, các nhà xã hội học, các sưœ gia trên thế giới hiện đại còn gọi Ngài là một nhà khoa học tiền bối, một nhà tâm lý học hoàn haœo cuœa thế gian xứng đáng để hướng dẫn Con Người làm một cuộc cách mạng tâm linh ơœ đời. Như vậy, tươœng không có một danh từ nào có thể gọi ra để cho đúng hết với ý nghĩa hơn là Bậc Đại Sư vượt lằn ranh cuœa cái mốc giới hạn thời điểm không gian vạn thế sư biểu. Lý do vì Ngài là một đấng đã vẹn toàn giác ngộ tìm ra chân lý tuyệt haœo để lại đời đời cho hậu thế. Hơn nữa, chính nhân vật cao quý đó, con người ung dung tự tại đó, nhà làm cách mạng có tầm cỡ đó mà lại lúc nào cũng chỉ muốn thành thật khiêm nhường khi nói "... các ngươi là Phật sẽ thành."
Đúng! Ngài là một người đầy tớ khiêm tốn và cao thượng nhất cuœa loài người. Và Ngài đã không ngần ngại vén màn u minh cuœa nghị trường thế gian để cho thấy cuộc thương lượng hay nói cho đúng hơn là cuộc tranh chấp giữa ánh sáng và bóng tối phaœi được phân minh thắng bại khi trí tuệ cuœa con người đã biết phán xét mọi tốc độ vận hành cuœa chánh pháp mà người ta không phaœi đơn thuần nhìn thấy để tin theo. Ngược lại, phaœi thực hành để nhìn nhận mọi kết quaœ cụ thể nhãn tiền... Thưœ nhìn lại nhiều sự kiện hóa thân cuœa đức Phật sau khi Ngài tịch diệt mà không phân biệt ơœ bất cứ quốc gia nào cho dù là ngay caœ Tây Tạng, Ấn Độ hoặc Trung Quốc v.v... Sự hóa thân ấy nếu không là do ơœ tấm lòng sùng kính vô vàn cuœa người Phật tưœ trước tấm gương trong sáng cuœa Đức Cao Dày thì cũng là do ơœ những sự ứng nghiệm linh thiêng cuœa kho tàng pháp điển đã được tìm thấy thực tế từ thuơœ sơ khai trí tuệ cuœa con người cách đây chừng hai mươi lăm thế kyœ cho đến ngay caœ thời kỳ văn minh tột độ hôm nay. Với mục đích toàn thiện là khuyên nhuœ con người hãy tự chế mọi khoái lạc trần gian để tìm về sinh lộ hạnh phúc, giáo lý nhà Phật đã nói đến rất nhiều về ý nghĩa cuœa "giọt sương tan trên ngọn coœ bồng" để gây ý thức caœnh tỉnh nhân sinh trước cuộc đời "Sắc Không" suy thịnh. Vì rằng cho dù nếu có sừng sững hiên ngang bốn mùa tuyết phuœ như rặng Hy Mã Lạp Sơn hay như cành liễu mềm đu đưa trước gió cũng đều thua với sức mạnh ý chí của con người. Ý chí đó là tấm lòng thuœy chung sùng đạo để tạ ơn bậc đại sư sáng lập mơœ khai chân lý cuœa ánh đạo vàng.
Chính đạo Phật đã giúp cho mọi sự liên hệ giữa con người trong cuộc sống được thăng bằng và thể hiện qua tinh thần hòa ái, riêng đối với cá nhân thì gột rưœa được những khổ đau, sợ hãi lo âu mất tính can đaœm, thoa dịu được những tâm hồn phiền muộn. Tác dụng cuœa tình thương và lòng từ bi, hyœ xaœ bao la vô bờ bến đó đã làm cho hầu hết mọi người dù có đạo hay không có đạo cũng đều ra sức đón chào với một niềm hân hoan tột độ và đồng thanh tôn kính đức Phật như là một bậc đại hiền tài, một vị lãnh tụ tôn giáo tối cao cuœa lịch sưœ nhân loại. Hơn thế nữa, sau khi tìm thấy được những ý nghĩa cuœa mục tiêu trên con đường Trung Đạo đi qua thì mọi người cân nhắc thêm rằng đây là một tôn giáo lâu đời có thành tích phát triển song hành với khoa học ơœ chiều sâu quá trình lịch sưœ. Một tôn giáo có khaœ năng phân tích baœn chất thực sự cuœa tâm thức con người như đạo Phật cho đến ngày hôm nay mà còn học thuyết ấy lại là một bức tường đồng lý luận sắc bén, chứng minh thì đuœ hiểu thế nào là cái giá trị thực tế cuœa một tôn giáo duy nhất trên quaœ địa cầu này đã và đang đứng trước mọi khái niệm phát minh cuœa khoa học hiện đại được kết luận coi như là hoàn haœo. Và như vậy, dù thật khó để mà đặt vấn đề phaœi lựa chọn giữa tôn giáo và khoa học để làm lẽ sống nhưng một khi trong nội dung cuœa lẽ đạo đã sẵn có khoa học tính rồi thì chắc chắn người tín đồ sẽ không bao giờ còn ngần ngại trước ngã hai đường. Họ sẽ đòi hoœi phaœi có một sự bổ sung trên căn baœn hợp lý để hầu xây dựng con người hướng tiến lần về một đời sống kiện toàn, cao caœ hơn.
Tóm lại, cứu cánh cuœa đạo Phật là nhằm mục đích giaœi thoát tối hậu con người ra khoœi màn vô minh đen tối để cùng hươœng mọi sự an lạc, hạnh phúc cuœa tâm hồn. Và nền taœng triết lý cuœa đạo Phật là một môi trường thuận tiện để mọi điều Thiện được dịp phát sinh không những cho mình mà còn giúp được người đời giaœm thiểu ít nhiều đau khổ. Tin mừng đó đã được người Phật tưœ chúng ta bây giờ chấp nhận trong tinh thần tự do cuœa trí tuệ sau những thì giờ gậm nhấm, suy tư bên cạnh lời kinh, câu kệ ơœ cưœa thiền.
Ngày nay, hầu hết Phật giáo đồ ơœ khắp các nơi trên thế giới đều có một trình độ khá cao về pháp điển. Vì thế, tính chất và ý nghĩa cuœa đạo Phật cũng đã được phơi bày một cách công khai và thành thực để cho tất caœ mọi người hiểu rằng, chúng ta là kết quaœ cuœa những gì mà chúng ta đã làm và sẽ là hậu quaœ cuœa những gì mà chúng ta đang hiện hữu.