BUDDHA HOME

 PHẬT PHÁP

 

horizontal rule

 

NHÂN QUẢ XUẤT THẾ GIAN

Thiện Bửu

 

 

Thời Đức Phật tại thế, có một thanh niên thuộc gia đình giàu có ơœ tại một thị trấn. Vì quá mê say một cô đào hát, mà anh ta đã boœ nhà đi theo gánh hát, chấp nhận lang thang khắp nơi chỉ vì muốn được gần gũi cô đào hát đó.

Vì không biết ca hát cũng không có chút tài năng gì cho đoàn hát, nên ngoài việc giữ con lo việc nhà, anh phaœi chăn ngựa, cắt coœ cho ngựa ăn, phụ khuân vác và làm các việc lặt vặt cho đoàn hát. Vì thế cho nên vợ anh thường trêu chọc anh bằng cách mỗi khi nựng nịu con thường nói đùa với con là: "Con là con cuœa một người cha vô tích sự." Những lần đầu bị vợ trêu chọc như vậy anh đều boœ qua, nhưng thét rồi tự ái nổi lên, anh bèn đến xin ông chuœ đoàn hát cho anh được luyện tập môn xiệc. Anh cố gắng tập luyện ngày đêm không ngừng nghỉ, không chán naœn, để mong trơœ thành một diễn viên có hạng. Thời gian sau anh trơœ thành một diễn viên xuất sắc, từ ông chuœ đoàn hát đến bạn bè và vợ anh đều hết sức ngạc nhiên và nể phục anh. Từ đó đoàn hát mỗi ngày mỗi thêm phát triển.

Thời gian thắm thoát qua mau, sau những năm tháng đoàn hát lưu diễn khắp nơi, nay trơœ lại trình diễn ơœ thị trấn cũ. Trong một đêm trình diễn qua sự quảng cáo suốt tuần qua, thiên hạ kéo nhau đến rất đông để xem tài nghệ biểu diễn cuœa anh bằng 2 màn leo lên cây sào cao đến 20 thước để nhào lộn. Anh đã được khán giaœ vỗ tay hoan nghinh nhiệt liệt thì ngay lúc ấy Đức Phật từ xa đi tới. Bằng một âm thanh như chuông đồng ngân vang khắp mười phương, Đức Thế Tôn hướng về phía anh đang trình diễn để đọc một bài kệ ngắn. Liền sau đó nhiệm mầu thay anh chứng quaœ A-La-Hán. Từ trên cây sào cao 20 thước, anh bay xuống và quỳ mọp đaœnh lễ dưới chân Phật không ngừng nghỉ. Anh vừa đaœnh lễ Phật vừa tha thiết cầu xin Phật cho anh được xuất gia.

Người vợ cuœa anh thấy vậy rất xúc động và caœm phục anh, nên vợ anh liền quỳ mọp đaœnh lễ dưới chân Phật, tha thiết cầu xin Phật cho xuất gia và cũng chứng quaœ A-La-Hán.

Chư vị Tỳ kheo đều ngạc nhiên không hiểu tại sao một người mê gái boœ nhà ra đi, lang bạt giang hồ đó đây theo đoàn hát làm tài tưœ như thế mà chỉ nghe có mỗi một bài kệ ngắn cuœa Đức Phật thì liền chứng quaœ A-La-Hán? Quý Thầy liền đem điều thắc mắc trình thưa Phật. Đức Phật kể lại nhân duyên đời quá khứ đã bị tái sanh che giấu. Thuơœ quá khứ, 2 nam nữ nói trên cũng là đôi vợ chồng. Trong một lần phát tâm cúng dường 1 vị A-La-Hán họ đã nguyện:

"Nguyện cho chúng con được dự vào quaœ vị mà Ngài đã chứng." Vị A-La-Hán chỉ mỉm cười rồi từ giã ra đi. Ngài mỉm cười vì Ngài biết họ sẽ thành tựu lời nguyện ấy.

Cũng ngay khi đó, người vợ chợt buộc miệng với chồng:

— Ngài cười trông đẹp như tài tưœ phaœi không anh?

Người chồng hùa theo vợ:

— Ờ hén!

Chỉ vì họa theo hai chữ "Ờ hén" với vợ, mà qua nhiều đời quá khứ, người chồng cứ boœ nhà theo vợ làm tài tưœ trong các đoàn hát. Thế nhưng cũng từ công đức cung kính cúng dường các bậc xuất gia Chân Tu Đạo Hạnh lại có thêm lời nguyện chân thành, cho nên nay họ chứng Thánh quaœ. Hầu hết trong các Kinh điển Phật đều nói rõ những việc tương tự.

Chúng ta phaœi ý tứ để hiểu rằng khi traœ lời về nhân duyên chứng ngộ cuœa 1 vị A-La-Hán, Đức Phật không baœo vì lý do họ đã tu theo pháp môn nầy hay pháp môn nọ, Đức Phật chỉ rõ là vì họ đã cung kính cúng dường một bậc Thánh giác ngộ thời quá khứ. Một sự cung kính cúng dường với tấm lòng chân thành tha thiết dâng lên các bậc Chân Tu Đạo Hạnh mới là cao caœ. Kính trọng bậc Thánh là NHÂN, được dự vào dòng Thánh là QUAŒ. Cầu xin tất caœ chúng ta đều có trí tuệ bát nhã nầy.

Dĩ nhiên lòng kính trọng bậc xuất gia Chân Tu Đức Hạnh là GỐC, nhưng thể hiện sự kính trọng đó qua 4 việc sau đây mới là cần thiết cuœa hàng Phật Tưœ tại gia chúng ta:

— Đaœnh lễ

— Cúng dường

— Tán thán

— Làm theo lời dạy.

Thực hành trọn vẹn 4 việc nêu trên thì chính chúng ta bày toœ niềm cung kính đối với bậc Thánh giác ngộ và do đó sẽ kết thành Quaœ Báo Xuất Thế Gian. Tất caœ chúng ta đều ưu tư lo sợ mình đi lầm đường trong thời mạt thế vàng thau lẫn lộn nầy khó phân biệt đâu là Chánh đâu là Tà, nhưng "đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, mà chỉ khó vì lòng mình ngại núi e sông."

Một đoạn về những lời sách tấn cuœa quốc sư Đại Đăng (1282-1337):

— Chưa thấu rõ Lý Nhân Duyên sẽ đưa đến họa sụp đổ toàn thể Chánh Pháp. Đó chỉ toàn là quyến thuộc cuœa nhà Ma, dầu tôi có lìa thế gian nầy bao lâu, họ vẫn không thể gọi là con cháu trong Đạo cuœa tôi được.

Trái lại, dầu chỉ có một người thôi, dầu sống ơœ những nơi heœo lánh rừng núi, kết coœ làm Am, ăn rễ cây mọc trong nồi đất sứt meœ, mà nếu người ấy nhứt tâm quán tươœng đến chỗ cốt yếu cuœa chính mình, thì đó là người duy nhứt hằng ngày thân thiết đối diện với tôi và biết đền đáp ơn nặng, không ai dám coi thường người nầy. Hãy tinh tấn, hãy tinh tấn!

Nếu cúng dường cho một bậc giác ngộ mà chúng ta biết rõ đó là bậc giác ngộ, thì sẽ caœm quaœ báo đời đời sung mãn lại thêm có được chuœng tưœ giác ngộ gieo vào tiềm thức và lớn lên dần dần. Đến khi phước đuœ, gặp duyên tu tập sẽ có sơœ đắc.

Nếu cúng dường cho bậc giác ngộ, nhưng chúng ta không biết rõ đó là một bậc giác ngộ, thì chỉ caœm quaœ báo đời đời sung mãn thuộc hữu vi mà thôi.

Khi chân thành ca ngợi ai về điều tốt cuœa họ, chúng ta sẽ caœm quaœ báo được điều tốt y như thế.

Khi chúng ta tán thán công hạnh, tán thán sự tự tại trí tuệ cuœa Phật, Bồ tát, A la hán, khiến cho người khác nghe mà sanh lòng kính ngưỡng tôn thờ, thì chúng ta sẽ caœm quaœ báo có được đầy đuœ công hạnh, trí tuệ giaœi thoát cuœa Thánh. Ngược lại, nếu chúng ta thường chê bai người nầy còn phiền não, người kia hay nổi sân... cũng sẽ caœm quaœ báo không vượt khoœi phiền não. Vì thế cho nên nếu chúng ta là hàng Phật tưœ chân chính, thì chớ nên chê bai nhạo báng những chỗ dơœ cuœa người khác.

Điều tối ư quan trọng là nếu chúng ta công kích nhầm một bậc Thánh mà lại không biết Sám Hối, không khẩn thiết gây tạo công đức, thì sẽ bị đọa địa ngục. Nếu được ra khoœi địa ngục, còn phaœi làm phàm phu vài trăm kiếp. Ngưỡng mong tất caœ hàng tại gia chúng ta luôn sáng suốt và rốt ráo các phần nêu trên.

Nhân Quaœ Xuất Thế Gian có 2 loại: Tích cực và Tiêu cực.

Nhân Quaœ Tích cực là tôn kính bậc giaœi thoát và giúp đỡ mọi người được giaœi thoát.

Nhân Quaœ Tiêu cực là không gây cái Nhân cuœa thế tục, thì dĩ nhiên cái Quaœ cuœa thế tục không còn nữa.

Những gì gọi là Nhân Thế Tục và phaœi làm cách nào dừng lại?

— Làm loạn tâm người bằng ái dục. Nếu chúng ta đem yêu thương ái dục mà quyến luyến ràng buộc người khác, khiến cho người đó vì chúng ta mà phaœi ưu tư mộng mơ thương nhớ, boœ ăn boœ nguœ, ray rứt, thì sẽ caœm quaœ báo chính cái tâm cuœa mình bị loạn động.

— Làm loạn tâm người bằng thù oán. Nếu chúng ta đem thù hận tranh chấp giành giựt với người khác, khiến cho họ phaœi lo sợ tính toán chống đỡ không yên, thì chúng ta sẽ caœm quaœ báo bất an cho chính mình.

— Làm loạn tâm người bằng nghệ thuật. Nếu chúng ta đem các môn nghệ thuật khêu gợi tình ái si mê điên đaœo hận thù khúc mắc éo le... trong cuộc sống để gây nên sự bận tâm chú ý đê mê cho người, thì chúng ta sẽ caœm quaœ báo tâm bất an.

— Làm loạn tâm người bằng sự ồn ào. Nếu sự có mặt cuœa chúng ta gây nên quá ồn ào rộn rịp, khiến người bị tâm tán loạn chi phối, thì chúng ta sẽ caœm quaœ báo bất an. Chúng ta phaœi hết sức cẩn thận đừng gây ồn ào huyên náo với bất cứ môi trường nào ơœ xung quanh mình, nhất là tại chùa, tại các thánh địa. Hãy tập sống thầm lặng, càng ít nói càng hay, giaœm thiểu tối đa sự quấy rầy người khác, đều rất tốt cho mình.

Có người cho rằng tập sống thầm lặng ít nói sẽ gây nên sự hiểu lầm oán trách cuœa người khác cho mình thế nầy thế nọ, thì xin hãy boœ qua đừng bận nghĩ đến. Chúng ta hãy thành tâm theo gương cuœa các bậc Cao Tăng, chúng tôi xin nhấn mạnh Cao Tăng, là điều tối thượng cho mình. Để tâm làm gì đối với thường tình thế gian đầy khổ đau phiền não nầy.

— Mơ mộng dự tính việc tương lai. Luân hồi được nối tiếp vì có sức mạnh cuœa nghiệp thức thúc đẩy không ngừng nghỉ. Chúng ta cứ mãi nhớ tiếc thời quá khứ, thời vàng son quá khứ, chúng ta không bằng lòng với cái sống hiện tại. Chúng ta cứ mãi mơ mộng dự tính tương lai, đuœ thứ việc cho tương lai, khiến cho chuœng tưœ luân hồi sanh sôi nẩy nơœ. Cái tâm niệm cố hữu cuœa hầu hết trong chúng ta, đặc biệt nhất là đang sống ơœ xứ người, là mộng mơ toan tính hão huyền quyết "làm lại cuộc đời theo thế tục" cho baœn thân mình chưa đuœ, mà phaœi cho caœ gia đình chồng vợ con cháu xa xôi đến tận các đời sau, những năm những tháng sắp tới v.v... mà mình đã quên mất hoặc vô minh vì tất caœ những thứ đó đều là chuœng tưœ thế gian.

Chúng ta luôn luôn nhớ rằng bậc giaœi thoát cất chân đi còn không có niệm phaœi đến. Chúng ta hãy thành tâm tự mình cố gắng tập cái sống thường ngày làm sao không còn ai phaœi bận tâm vì mình, không luyến ái không sợ hãi không hận thù vì mình, không phân tâm lo âu thương nhớ cho mình.

Xin hãy theo gương cuœa các bậc Cao Tăng: "Vào rừng không khua lá. Vào nước không gợn sóng." Chúng ta hãy buông xaœ tất caœ. Có được như thế thì những nghiệp caœm quá khứ sẽ dần dần hết, đồng thời không gieo nghiệp Nhân hiện tại và dĩ nhiên cái Quaœ thế tục không còn trổ ra thêm nữa. Chúng ta hãy cẩn thận suy nghĩ kỹ những gì mình vừa nói ra điều gì vì người nghe sẽ phải suy nghĩ những gì mình vừa nói ra. Chúng ta hẳn luôn luôn nhớ "lời nói là đọi máu, trước khi nói phaœi uốn lưỡi baœy lần."

— Mỗi khi đến Chùa lễ Phật, nghe Pháp v.v... xin đừng bao giờ mang chuyện thế tục vào trong Chùa, xin đừng đòi hoœi thầy Trụ Trì hay Tăng, Ni trụ xứ phaœi tiếp đãi niềm nơœ, phaœi hầu trà nước, phaœi thoœa mãn các đòi hoœi cuœa mình... Xin đừng chê bai phê bình chư Tăng chư Ni chân chính đức hạnh. Chúng ta cũng cần phaœi biết rõ đâu là chánh, đâu là tà, để cho sự hộ trì Tam Baœo cuœa chúng ta tròn đầy phước báu.

Nếu sự hiện diện cuœa chúng ta có nhân cách và lời nói khiến cho mọi người hân hoan an ổn, sẽ caœm quaœ báo tâm được an.

Chúng ta thường nghe thấy các Thầy thuyết pháp luôn luôn khéo léo để cho người nghe nhận thức được giáo pháp cao siêu mầu nhiệm cuœa Phật, không để ai quá kính trọng mình. Các Thầy không hề tác ý, tránh mọi người xem mình như thánh. Các Thầy luôn luôn nhún nhường khiêm cung từ tốn bày cái dơœ cuœa mình để tích phước. Chúng ta thường hay nghe các Thầy mỗi khi thuyết pháp có những lời nói dịu dàng hết sức "từ tốn dễ thương," không hề toœ rằng mình hay mình tài gioœi, chẳng hạn như:

"Tôi có được xem Kinh thấy Phật nói như thế nầy..."

"Sư phụ chúng tôi có dạy chúng tôi rằng..."

Các bậc chân tu thạc học đạo cao đức caœ thì luôn luôn là như vậy, cho nên chúng ta phaœi cố gắng làm sao để chạy theo các Thầy mà bồi dưỡng công hạnh tu tập và hộ trì Tam Baœo.

Chúng ta đều biết rõ ái dục là điều chướng ngăn giaœi thoát ghê gớm nhất. Tự mình không đắm nhiễm ái dục thì cũng cần phaœi nên khuyên baœo mọi người đừng đắm nhiễm ái dục. Đừng bao giờ dại dột làm mai mối tác hợp ái dục cho người khác. Bất đắc dĩ phaœi tham dự hay chứng kiến việc hôn nhân cuœa người khác, dù chỉ hoan hỉ rất ít thì cái tâm ái dục vẫn còn, hà huống mơœ miệng khuyến khích người khác lập gia đình. Tuy nhiên, để không bị mắc quaœ báo, chúng ta đừng có ý nghĩ lời nói hành vi toœ veœ chê bai khinh khi người đang vướng mắc ái dục.

ĐƠN GIAŒN

Hãy tự tạo cho mỗi chúng ta một đời sống đơn giaœn, tức là đời sống giaœi thoát. Mỗi người chúng ta hãy tự tạo cho mình một đời sống đơn giaœn và khuyên giúp mọi người có đời sống đơn giaœn. Đừng bao giờ bày chuyện chỉ vẽ khiến cho đời sống mọi người trơœ nên bận rộn phức tạp lo lắng, để khoœi phaœi bị mắc quaœ báo không yên tâm. Chúng ta thường hay nghe người đời nói "phú quí sanh lễ nghĩa," hoặc "đa kim ngân phá luật lệ," hoặc "có tiền mua tiên cũng được" v.v... Nhờ phước tích lũy nhiều kiếp, nay được giàu có dư ăn dư để, thì chúng ta chớ nên tham đắm boœn seœn keo kiết, mà phaœi đem số tiền cuœa đó cứu giúp đời, cúng dường Tam Baœo, ấn tống Kinh sách Phật, xây cất tu bổ Chùa, giúp đỡ các học Tăng, giúp đỡ thiên tai bão lụt, cứu giúp treœ em mồ côi keœ tật nguyền bịnh hoạn nan y, tu bổ đường sá cầu cống, xây cất bệnh viện trường học v.v... Riêng việc cúng dường Tam Baœo, tất caœ chúng ta đều nhận thức 4 điều quan trọng theo thứ tự như sau:

— Ấn tống Kinh sách Phật. Chúng ta không nên tự mình ấn tống bất cứ loại Kinh sách nào, cũng không nên ấn tống Kinh sách rồi đem phân phát cho mọi người tại các cưœa hàng buôn bán các chợ búa hoặc ngay caœ tại các Chùa, vì lý do tại sao chúng ta phaœi tránh để phước báu được tăng trươœng thì chắc chắn chúng ta đều hiểu rõ. Chúng ta phaœi cầu xin bậc Cao Tăng trực tiếp lo liệu và tùy nghi ấn tống. Ngưỡng mong sự thành tâm thiện ý về việc ấn tống Kinh sách Phật nêu trên trơœ thành một truyền thống cao đẹp bất di dịch trong hàng Phật tưœ chúng ta.

— Nuôi dưỡng học Tăng tại các Phật Học Viện.

— Cúng dường Sư Trươœng.

— Xây cất hay tu bổ Chùa.

Hãy buông xaœ tất caœ mọi tham đắm ham muốn vật chất cuœa thế gian tự tạo cho mình một Đời Sống Đơn Giaœn. Đời sống đơn giaœn là đời sống giaœi thoát.

Thời Đức Phật còn tại thế thì Phật pháp ơœ trong thời kỳ Chánh Pháp. Sơœ dĩ nói là Chánh Pháp là vì bơœi đời sống cuœa Đức Phật và cuœa Tăng đoàn vô cùng đơn giaœn. Mỗi vị chỉ có 3 Y và 1 Bát, đi khất thực, mỗi ngày chỉ ăn 1 bữa, không có kho đụn, không có bếp núc để giữ thức ăn qua đêm. Đức Từ Phụ và Tăng đoàn ơœ trong rừng vắng, nghỉ ngơi ơœ dưới cội cây, chỉ chuyên chú từng giây từng phút về tu tập. Nhờ thế cho nên có rất nhiều vị Tăng chứng được Thánh quaœ cao thượng. Nhờ những ân đức cao dày đó cuœa Đức Từ Phụ và cuœa chư Thánh mà ngày nay đã traœi qua hơn 25 thế kyœ, tất caœ chúng ta khắp năm châu bốn biển mới còn thừa hươœng được trọn vẹn cái Gia Tài Vô Giá Miên Viễn. Chúng ta đã mất hết tất caœ cuœa cõi đời vô thường nầy và đang phaœi chấp nhận một cuộc sống lưu vong nơi xứ người, nhưng chúng ta khẳng định xác quyết và thệ nguyện cái Gia Tài Vô Giá cuœa Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni để lại cho chúng ta vẫn miên viễn trường tồn bất luận thời gian và không gian. Với biết bao mối caœm hoài thương kính Phật ăn sâu vào tâm huyết không taœ xiết cuœa mỗi người trong chúng ta, xin hãy cùng nhau phát nguyện tinh tấn tu học, thệ nguyện baœo vệ Chánh pháp hộ trì Tam Baœo cho đến hơi thơœ cuối cùng.

Khi đức Phật nhập diệt, Y Bát được truyền lại cho tôn giaœ Đại Ca Diếp để Ngài kế thừa sự nghiệp cuœa đức Phật, giữ gìn Phật pháp tồn tại lâu dài về sau. Đây là một bài học có ý nghĩa sâu xa và vô cùng vĩ đại. Tôn giaœ đại Ca Diếp là vị tu theo hạnh đầu đà khắc khổ, Ngài sống đơn giaœn tột độ. Chỉ có những người biết sống đơn giaœn mới có thể giữ gìn được Chánh pháp. Phaœi chăng câu nói nầy như một bài chú? Hầu như hằng ngày chúng ta hồi tươœng nhớ đến đời sống đơn giaœn cuœa đức Thế Tôn và cuœa chư Thánh chư Tăng thời đó, thì chúng ta thấy lòng mình nao nao hoài caœm bùi ngùi xúc động và sùng mộ vô biên. Chúng ta luôn tự trách mình bạc phước sanh ra trong thời mạt pháp đaœo điên, nhân tâm ly tán, thế giới loạn ly, chiến tranh liên tục, mạnh được yếu thua, lòng người tráo trơœ, đạo đức suy đồi, đói rách lầm than, tà ma ngoại đạo cấu xé giành giựt giết hại lẫn nhau, lại còn phaœi cam chịu tha hương lưu lạc... Cầu xin tất caœ chúng ta cùng nhau tâm nguyện sống một cuộc đời Đơn Giaœn, thành tâm khuyến khích ca ngợi tán thán đời sống đơn giaœn cho tất caœ mọi người.

HỘ GIỚI

Người tu Phật có xứng đáng với giá trị cao caœ cuœa mình là nhờ có Trì Giới. Người giữ giới đúng đắn sẽ được yên tâm niệm Phật, thiền quán, không bị dày vò hối hận bất an. Người tu Phật phaœi biết rõ Giới Luật là thọ mạng cuœa Phật pháp. Giới Luật còn gọi là Ba La Đề Mộc Xoa (Pratimoksha) có nghĩa là Biệt Giaœi Thoát. từ nơi trí tuệ giác ngộ sâu xa mà đức Phật chế giới. Vì thế cho nên Giới Luật đã tự có tính cách giaœi thoát. Chúng ta hết sức cố gắng giữ giới cho chính mình và giúp mọi người giữ giới. Nếu thấy người khác có mầm mống phạm giới, chưa kể phá giới, thì hãy vì thương họ mà khéo léo ngăn caœn, đừng để họ lún sâu vào tội lỗi rất nguy hại cho họ. Nếu chúng ta làm được như vậy, về sau nếu chúng ta chớm sai lầm thì sẽ có bạn bè nhắc nhơœ kéo lại. Còn nếu chúng ta thấy người khác đang đi dần vào sai trái tội lỗi mà nhận thấy mình có thể ngăn caœn được cho người đó nhưng lại không ngăn caœn, thì về sau nếu chúng ta sai sót lỗi lầm sẽ không có ai chỉ baœo giùm. Phần đông trong hàng tại gia chúng ta thường hay né tránh vị nể, sợ mích lòng sợ oán thù mặc dầu thấy rõ bạn bè cuœa mình có nhiều lầm lỗi sai trái càng ngày càng lún sâu. Xin tạc dạ ghi tâm "Giới Luật là Thọ Mạng cuœa Phật Pháp." Bằng như ngược lại thì đó là "Dã tràng xe cát" mặc dầu mỗi ngày có hàng bao lần lần chuỗi niệm Phật tụng kinh hay tọa thiền!

Thời đức Phật tại thế, có 1 vị Tỳ kheo bỗng nhiên hoàn tục, không phaœi 1 lần mà là đến 7 lần. Trong lần thứ 7 thì vị Tỳ kheo đó xuất gia trơœ lại rồi về sau chứng quaœ A la hán. Khi được hoœi về nguyên do tại sao có sự lạ kỳ như vậy, thì đức Phật baœo vì thời quá khứ cuœa vị Tỳ kheo đó không những đã không ngăn caœn mà còn đồng ý cho một huynh đệ cuœa mình muốn trơœ lại thế tục. Do đó, vị Tỳ kheo ấy phaœi caœm quaœ báo ra đời (tức hoàn tục) đến 7 lần. Trình bày câu chuyện trên, chúng tôi rất mong trong hàng tại gia chúng ta nếu có gặp phaœi trường hợp như trên, thì chớ nên làm ngơ boœ qua mà phaœi hết lòng khuyên giaœi khuyến khích cho những vị nào đã xuất gia chớ nên hoàn tục. Ngày xưa vị Tỳ kheo nêu trên hoàn tục rồi xuất gia trơœ lại và chứng quaœ A la hán thời đức Phật tại thế, còn ngày nay thì sao?

Giới có 2 mục đích chính yếu:

— Giữ cho mình trong sạch.

— Khiến cho người khác không nghi ngờ.

Nếu những ai toœ sự nghi ngờ sự tu hành cuœa một vị xuất gia, thì tâm Bồ Đề cuœa vị ấy có phần sứt meœ, chưa nói tới nhiều vấn đề khác. Do đó, người giữ giới trong sạch là đã có tư lợi và lợi tha, khiến cho những người khác kính tin Tam Baœo, hộ trì Tam Baœo và Bồ Đề tâm cuœa họ tăng trươœng. Như thế người giữ giới sẽ được quaœ báo có uy đức trang nghiêm, danh thơm đồn khắp, mọi người tôn kính, Chánh pháp rạng rỡ, đạo nghiệp cuœa vị ấy chóng viên thành.

Đối với những người không đuœ sức giữ giới trọn vẹn, nếu chúng ta không có được cái duyên sách tấn họ, thì chúng ta không nên rêu rao tội lỗi cuœa họ cho mọi người khác biết, vì sẽ caœm quaœ báo phạm lỗi như họ. Mong trong hàng tại gia chúng ta hãy lưu tâm việc nầy, chỉ nên lặng lẽ lánh xa là tốt nhất.

GẦN GŨI THIỆN TRI THỨC

Người có thật tâm cầu giaœi thoát ra khoœi Tam Giới, đoạn sạch vô minh, giác ngộ viên mãn thì phaœi làm sao? Là phaœi gần gũi bậc chân sư thiện hữu để cầu xin học hoœi. Chúng tôi xin nhấn mạnh là chỉ có bậc chân sư thiện hữu mà thôi. Chúng ta phaœi đoạn diệt cái tâm ngã mạn tự cao tự đại, tự cho mình học cao hiểu rộng bằng cao chức trọng trên thế gian phàm phu nầy, tự cho mình có đuœ trí tuệ tự tu chẳng cần Thầy, chẳng cần ai hết. Thậm chí cũng chẳng cần quy y Tam Baœo! Chúng ta có thể tài gioœi rất nhiều vấn đề, thông thạo khoa học kỹ thuật kinh bang tế thế v.v... nhưng đó chỉ là việc cuœa thế gian, còn đối với việc tu hành cao sâu thì chúng ta tỉ như con nai tơ, u mê ngu ngốc cố chấp ngã mạn... Không chịu thân cận các bậc chân sư chân tu thạc học đạo cao đức caœ để xin học hoœi tu tập, thì tỉ như những sai trái lỗi lầm đó chất đầy caœ hư không!

Tất caœ chúng ta đều đang thấy rất rõ suốt 21 năm trôi qua, vì cộng nghiệp do chính chúng ta gây nên mà ngày nay chúng ta còn đang phaœi traœ một cái giá quá đắt. Xin đừng bao giờ nghĩ rằng thoát nạn nương thân ơœ xứ người rồi hí hơœn tự cho là "tây phương cực lạc!" Nếu chúng ta không chịu tu tỉnh ăn năn sám hối chừa boœ hết các lỗi lầm sai trái, thì chúng ta vẫn còn phaœi traœ QUAŒ, traœ dài dài cho đến các thế hệ mai sau, không phaœi chỉ riêng gì cho người tu Phật. Vì hoàn caœnh đặc biệt nên được sự trợ cấp, thì xin hiểu rằng số tiền trợ cấp đó là do tiền thuế cuœa dân chúng đi làm cực khổ đóng góp vào.

Con người hễ càng hiểu biết nhiều thì càng sanh ngã mạn. Không hiểu biết thì từ sai lạc sanh ra bệnh hoạn hoặc rẽ qua đường tà. Có sức tinh tấn thì hay nổi sân. Không tinh tấn thì thành giaœi đãi. Ráng giữ giới lại trơœ thành chấp tướng. Không ráng giữ giới thì phạm sai lầm đọa lạc. Không rõ lý duyên hợp thì chấp có. Không thấu đáo Nhân Quaœ thì chấp không... Vô số những khúc mắc tế nhị trên đường tu mà nếu không chịu thân cận các bậc Thiện Tri Thức thì rất khó vượt qua nổi.

Những người thường hay thân cận Thiện Tri Thức, đến khi làm thầy thì có rất đông đaœo đệ tưœ tụ hội.

Dầu rằng chúng ta đang tu tập chưa đuœ trình độ giáo hóa chúng sanh, thì hãy làm một viên gạch nối liền để làm sao những lời dạy cuœa bậc Thiện Tri Thức được truyền bá khắp cho mọi người và cho mọi người biết để họ tìm đến Thiện Tri Thức đó thì công đức rất to lớn.

Đối với bậc Thiện Tri Thức tức là những vị Minh Sư chân tu đạo đức cao caœ, thì hàng tại gia chúng ta hãy tuân phục vô điều kiện, gạt boœ các ý kiến cuœa mình, chỉ biết vâng lời dạy baœo không chút chống trái. Xin hãy tỉnh thức mà dành caœ cuộc đời tu học cuœa mình cho vị Minh Sư Thiện Tri Thức đó. Dầu cho vị ấy có hiện nghịch hạnh thì chúng ta vẫn một lòng cung kính trọn vẹn. Hãy theo gương sáng ngời cuœa Thánh sư Milarepa thừa sự Sư Phụ Marpa, Ngài trọn lòng ôn nhu nhẫn nại và cung kính sư phụ cuœa Ngài để rồi cuối cùng Ngài trơœ thành bậc kế thừa giáo pháp danh thơm đồn khắp. Muốn thoát ra khoœi nhà lưœa Tam Giới thì hãy thành tâm thực hành như trên.

 

PHÁP THÍ

Pháp thí là một công đức quan trọng hàng đầu trong Chánh Pháp cuœa đức Thế Tôn. Pháp thí là do tự mình đã thông đạt giáo pháp rồi nói lại cho người khác nghe, hoặc thuật lại lời dạy cuœa bậc giác ngộ, hoặc đưa Kinh Sách Phật cho người xem, hoặc đưa các băng cassette hay video giaœng pháp cuœa các bậc Minh Sư cho người xem v.v... đều gọi là Pháp thí.

Những người được mình giúp đỡ nghe được giáo pháp nên boœ Ác theo Thiện, giaœm bớt si mê, tăng trươœng trí tuệ, giaœm bớt ác nghiệp thêm phước duyên, được công đức tăng trươœng. Nhờ đó, từ cái sống nầy sang cái sống khác đều ít khổ, nhiều an vui lợi lạc cho đến khi hoàn toàn giaœi thoát.

Vì tầm mức Pháp thí rất quan trọng có lợi ích lâu dài lớn lao như thế, cho nên người hành pháp thì được công đức vô lượng không kể xiết. Giúp đỡ cho người hiểu Nhân Quaœ mà lìa boœ việc ác làm việc thiện, thì chính mình caœm quaœ báo có trí tuệ nhiều phước lạc cho caœ thân tâm. Giúp được mọi người sáng toœ lý Tứ Đế, thông suốt lẽ nhân duyên giaœ hợp, rõ baœn chất vô thường giaœ tạm cuœa vạn hữu, giác ngộ được pháp thân, thì chính mình sẽ caœm quaœ báo tăng tiến thiền định, đạo nghiệp chóng thành.

— Vì mây che nên trăng không hiện.

— Vì kiết sưœ che nên Phật tánh không lộ bày.

— Kiết sưœ tan vỡ thì Phật tánh toœa hào quang.

— Kiết sưœ là QUAŒ, si mê và tội lỗi là NHÂN.

Kiết sưœ còn gọi là Kết sưœ. Kết là mối thắt buộc. Sưœ là mối sai khiến. Kết sưœ là dùng để gọi các phiền não, chúng nó trói lây và sai khiến chúng sanh. Thông thường chúng ta xem trong tâm không thấy kiết sưœ nầy ơœ đâu, còn những vị đốn ngộ thì giây phút ấy thấy rõ kiết sưœ tan vỡ. Có khi kiết sưœ ấy moœng dần và moœng dần, thì đây gọi là tiệm tu tiệm ngộ (lần lần tiến triển đường tu đi đến giác ngộ giaœi thoát).

Trường hợp những người đã từng có sơœ đắc đời quá khứ, đời nầy cách ấm tạm bị che, sau một thời gian dụng công hoặc nghe một nhân duyên nào thích hợp, thì kiết sưœ liền tan vỡ. Đây gọi là đốn ngộ (giác ngộ tức khắc). Vì chúng sanh căn tánh khác nhau, không ai giống ai, có chậm (độn) có lanh (lợi), nên đức Phật tùy tiện mà dạy baœo, Ngài dùng Tiệm giáo, Đốn giáo hoặc Viên giáo tùy theo. Tiệm giáo là pháp môn dạy lần lần. Đốn giáo là pháp môn dạy cho thành công tức khắc, không chần chờ. Viên giáo là pháp môn tròn trịa đầy đuœ, đưa ngay vào quaœ Phật. Về Tiệm giáo thì trước hết Ngài dạy chỗ dễ chỗ cạn, rồi lần lần Ngài dạy tới chỗ khó chỗ sâu. Chính lúc đầu, Ngài dạy về thừa Thinh Văn, kế lần lên thừa Duyên Giác, sau rốt thì Ngài dạy thừa Bồ Tát. Thuyết pháp lần lượt từ chỗ dễ đến chỗ khó đặng tiện bề dìu dắt người ta tu học, ấy là Tiệm Giáo vậy. Ngày nay chúng ta thấy các bậc Cao Tăng đều dìu dắt chúng ta tu học viên đốn từng bước y theo Phật dạy nêu trên.

Vì kiết sưœ là duyên hợp cuœa si mê và tội lỗi, còn gọi là vô minh và ác nghiệp; cho nên muốn phá trừ kiết sưœ thì phaœi mơœ sáng trí tuệ và chí tâm bồi tạo công đức. Chúng ta tán thán đức Phật là đấng Lưỡng Túc Tôn cũng bơœi vì đức Phật có đầy đuœ Phước và Huệ như vậy.

Để dặn dò lưu ý các Phật tưœ bước chân vào Phật đạo, mà nơi lá Phái Quy Y có in to 4 chữ: PHƯỚC HUỆ SONG TU. Trí tuệ và công đức đã đuœ thì Kiết Sưœ dù muốn hay không, cũng phaœi tan.

Tu Trí tuệ là thường quán sát các lẽ thật mà đức Phật đã khám phá rồi chỉ dạy lại cho chúng ta. Đó là những gì? Là quán sát nhân quaœ, quán lý Tứ Đế, quán lý 12 Nhân Duyên, quán thân bất tịnh, caœm thọ là khổ, tâm là vô thường, các pháp không tự tánh, quán các pháp đều là huyễn hóa như giấc mộng như aœo aœnh phù du, thấy rõ từng tâm niệm từ thô đến tế khơœi lên và biến mất.

Tu Phước là làm lợi ích cho chúng sanh, hoặc trong ngắn nguœi như giúp qua cơn đói rách lầm than cơ cực để sống được một thời gian bằng các bố thí tài vật, dùng sức lực đắp một đoạn đường loang lổ, an uœi người qua cơn buồn khổ, hoặc làm lợi ích lâu dài cho mọi người như:

— ấn tống phát hành Kinh Sách Phật.

— tô đắp tượng Phật, Bồ Tát cho người chiêm bái.

— độ người xuất gia thọ giới.

— trợ cấp cho học Tăng tại các Phật Học Viện.

— cúng dường Sư Trươœng và các bậc Minh Sư.

— xây cất tu bổ Chùa bất cứ ơœ nơi nào, và v.v...

Xưa vua Lương Võ Đế có hoœi Tổ Đạt Ma:

— Trẫm thường xây cất Chùa, in Kinh, độ Tăng, thì có công đức gì không? Tổ Đạt Ma nhìn thẳng vào vua Lương Võ Đế, chỉ traœ lời có một chữ: KHÔNG! Nhân tiện, xin được bình giaœi thêm: "Một tiếng hét vỡ tan trời đất!" Chữ "Không" cuœa Tổ khiến người sau hoang mang không ít và cũng luận giaœi khá nhiều. Người thì theo Lục Tổ chia đôi phước đức hữu vi và công đức tự tánh. Người thì cho nhân quaœ không liên quan tới vấn đề giaœi thoát... Lời ngắn gọn cuœa Tổ nghe hoœi liền đáp, mà nay đem ra giaœi hơi nhiều, thật là oan uổng! Chỉ vì thời tiết nhân duyên chưa đến, nên sau cái gạt ngang cuœa Tổ, kiết sưœ cuœa nhà vua không tan. Nếu thời tiết đã đến thì Tổ đã hất tay cuœa nhà vua khoœi chỗ bám chấp công và e ngài Huệ Khaœ không phaœi là Đệ Nhị Tổ Đông Độ.

Hành Pháp thì chính là cứu giúp người biết cách tu Huệ và tu Phước. Huệ và Phước đã đầy đuœ thì Tam Giới không ràng buộc được người đó, và dĩ nhiên công đức cuœa vị bố thí Pháp rất lớn.

KỈNH PHÁP

Giáo Lý là do từ kim khẩu cuœa đức Thế Tôn lưu xuất, đã khai ngộ vô số trời người và với trí nhớ tuyệt vời cuœa tôn giaœ A Nan, đã được truyền tụng ghi chép thành Kinh điển. Tôn kính đức Phật là Đại Chuœng Tưœ Giaœi Thoát thì tôn kính Pháp là điều không thể thiếu được.

Có keœ tu đến chỗ vô tâm, liền dám tuyên bố kinh điển ngôn ngữ không liên hệ đến việc tu tập và chỉ làm chướng ngại giaœi thoát! Lời nói nầy không khéo trơœ thành phỉ báng Phật, bơœi vì lời nói ấy đã phỉ báng Pháp cuœa Phật dạy. Tại sao cũng những lời lẽ đó mà đức Phật độ được chúng sanh giác ngộ mà bây giờ lại có keœ buông ra những lời lẽ đó là chướng ngại?

Chấp ngôn ngữ kinh điển là không biết cứu cánh, nhưng bác ngôn ngữ kinh điển lại là không biết phương tiện!

Những keœ bài bác ngôn ngữ văn tự, đâu có biết rằng chính những lời lẽ bài bác cuœa họ cũng là ngôn ngữ văn tự rồi! Vấn đề không phaœi lỗi tại ngôn ngữ mà là lỗi do cách dùng ngôn ngữ. Với những keœ có tâm tà thì ngôn ngữ cuœa họ trơœ thành phương tiện gieo rắc tai họa cho chính họ trước nhất rồi đến người sơ cơ. Xin tất caœ chúng ta phaœi cẩn trọng. Đối với những người hiền trí thì ngôn ngữ là phương tiện để khai ngộ chúng sanh, thành tựu Thánh Đạo. Điều mà những người có tâm chút ít thanh tịnh caœm nhận là dường như mọi ngôn ngữ văn tự kinh sách đều thừa thãi không dính dáng với tâm thể, và đôi khi các vị ấy còn thốt lên:

— "Ngôn ngữ văn tự chỉ nên vứt boœ!"

Những người ấy đâu có biết rằng những lời cuœa họ vừa thốt ra đó cũng đã là ngôn ngữ văn tự rồi, thưa quí độc giaœ!

Có nhận thức rõ ràng như trên thì chúng ta sẽ không rơi vào tà kiến chống báng kinh điển để rồi hậu quaœ là bị họa nặng nề boœ mất hạt giống thánh trí.

Trong nhiều kiếp quá khứ khi còn hành đạo Bồ Tát, đức Thế Tôn đã dâng caœ mạng sống cuœa Ngài để được nghe một bài kệ ngắn cuœa Chánh Pháp. Vậy thì Kỉnh Pháp là NHÂN, được Thánh Trí là QUAŒ. Pháp tuy có vẻ trừu tượng, nhưng đã được cụ thể hóa qua kinh sách giấy mực. Vì thế cho nên đối với Kinh Sách Phật thì chúng ta phaœi thận trọng đặt để nơi xứng đáng và còn phaœi giữ gìn cẩn thận mới được. Mỗi lần nghe thuyết Pháp, chúng ta hãy ngồi trong tư thế oai nghi nghiêm trang chỉnh túc, tâm ý phaœi chân thành chăm chú, tuyệt đối đừng bao giờ cười nói, đừng cưœ động mạnh co tay duỗi chân làm động tâm người khác đang chăm chú nghe giaœng.

Xin nhấn mạnh điều quan trọng là người có lòng Kỉnh Pháp, thì sớm muộn rồi sẽ giác ngộ.

 

TÙY HYŒ

Chứng ngộ thánh quaœ là một điều lớn lao vĩ đại mà ai ai cũng cầu mong. Người chứng ngộ là chỗ cho trời người quy ngưỡng tán thán cúng dường, là ánh sáng rực rỡ muôn màu toœa chiếu trong đời cho mọi người quy hươœng. Quaœ vị cuœa bậc Thánh là tối thượng. Bậc đã chứng ngộ thì không còn thấy có địa vị hơn thua, nhưng đức độ cuœa quý Ngài tự nhiên vẫn khiến cho mọi người kính phục quy ngưỡng.

Điều chắc chắn trong hàng tại gia chúng ta là mong cầu được giaœi thoát chứng ngộ. Tuy nhiên, đa số trong chúng ta thường mắc cái bệnh hay quên rằng chứng ngộ là vô ngã. Ngược lại chúng ta mắc cái bệnh hay nhớ cứ xem chứng ngộ là một địa vị y như cuœa thế gian nầy. Khi thấy có "địa vị" liền sanh tâm tranh giành. Tận trong thâm tâm, chúng ta chỉ muốn có mỗi chính mình được chứng ngộ mà thôi, còn những người khác phaœi là đồ đệ! Bơœi do cái tâm bệnh nan y nầy, chúng ta không vui mừng khi được nghe có người tu hành tinh tấn, giới đức trọn vẹn, niệm Phật hay tọa thiền không mệt moœi v.v... Từ cái bệnh không vui nầy có thể đưa đến công kích chỉ trích biếm nhẽ sân si ngã mạn... làm sao cho giaœm bớt uy danh cuœa các vị ấy! Sự việc vô minh ngu dại u mê nầy làm cho ma vương nhaœy nhót vui mừng và lôi kéo chúng ta sa hầm sụp hố trầm luân trong vũng nhơ hết phương cứu chữa! Trong phần cuối cuœa kinh Hoa Nghiêm, nơi phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, đức Phổ Hiền tán dương Hạnh Tùy Hyœ Công Đức cuœa Ngài khuyên chúng ta thực hành thế mà chúng ta mắc cái "bệnh hay quên" sao được?

Nếu chúng ta không tùy hyœ công hạnh tu tập cuœa người khác, chúng ta sẽ bị caœm quaœ báo chỗ dụng công không kết quaœ, ác nghiệp hình thành tăng trươœng thêm lớn.

Chúng ta hãy luôn luôn hoan hyœ khi thấy có người tăng tiến công đức trong Phật Pháp, người nghiêm cẩn trì giới, người chuyên chú niệm Phật hay thiền quán, thuyết pháp lợi sanh, đa văn quaœng kiến, cho đến người được thành tựu đạo quaœ biện tài vô ngại khiến cho mọi người hướng về cung kính cúng dường.

Nếu thật sự có thành tâm thiện ý trên đường tu hành giaœi thoát với tất caœ mọi việc Tùy Hyœ như trên, chúng ta sẽ caœm quaœ báo công dụng tu hành đắc lực, ác nghiệp nhẹ dần, thiện căn lớn thêm mãi.

UŒNG HỘ

Tất caœ chúng ta đều hiểu rằng chính vì Giaœi Thoát là mục tiêu tối thượng, vì thế cho nên chúng ta luôn uœng hộ giúp đỡ nhường nhịn hy sinh cho mọi người có điều kiện có thuận duyên tiến tu an ổn.

Điều nêu trên chúng ta rất dễ thấy rõ trong Tăng Chúng cuœa một tự viện có đông người. Chúng ta thấy có khi một vị Tăng nầy nhận lấy công việc bận rộn để giúp cho vị Tăng khác được raœnh tay tu học, hoặc giúp đỡ vật dụng cần thiết cho sự tu học cuœa vị ấy; còn riêng mình thì chịu khó dụng công tu trong caœnh động. Trong những trường hợp như vậy, chúng ta thường thấy người Phật tưœ tại gia phát tâm uœng hộ giúp đỡ việc tu hành cuœa chư Tăng, cuœa bạn bè cư sĩ, thật vô cùng cao quí.

Tất caœ những việc như trên đều là công đức rất tốt trong Phật Pháp, đó là nhân lành Xuất Thế Gian. Nhường hay biếu các Kinh Sách Phật cho người xem, nhường công đức cho người có đạo tâm làm không dành hết cho mình... đều là uœng hộ người, thì sẽ được tăng trươœng nhiều thiện báo cho mình.

BỐ THÍ

Chúng ta hiểu sự bố thí là nhân lành thế gian, nhưng lại là công đức Xuất Thế Gian. Đó là Mật Hạnh cuœa Bồ Tát Đạo. ƠŒ đây chúng tôi xin đề cập đến quaœ báo Xuất Thế Gian.

Người giaœi thoát là người không còn chấp ngã và ngã sơœ hữu. Vậy bố thí chính là buông xaœ chấp ngã. Chúng ta coi nhẹ tài vật sơœ hữu hoặc buông xaœ để bố thí cho keœ khác, sẽ được thiện lợi to lớn, phiền não moœng nhẹ dễ dàng buông boœ các vọng tươœng tư kiến. Ngược lại, người còn boœn seœn keo kiết đam mê tham đắm tiền bạc cuœa caœi vật chất, ít khi bố thí hoặc bất đắc dĩ phaœi bố thí, thì chắc chắn khó có thể giaœi thoát khoœi chấp trước si mê. Chúng ta thấy hằng ngày những hạng người nầy nói rất hay, hứa hẹn rất nhiều, huênh hoang khoác lác về cúng dường về bố thí, nhưng thực tế họ không bao giờ thực hiện nổi hạnh cúng dường, hạnh bố thí, hoặc giaœ nếu có cúng dường bố thí thì phaœi có cái danh! Người còn boœn seœn keo kiết tham lam vô độ nên rất ít bố thí, rất ít cúng dường, hoặc năm thuơœ mười thì họ mới chịu boœ ra chút ít tiền cuœa bố thí hay cúng dường, thì đương nhiên cái công hạnh tu tập cuœa họ không thể nào tăng trươœng được, nếu không muốn nói là thụt lùi tan vỡ. Đức Thế Tôn đã dạy baœo cái hạnh bố thí là hạnh đứng hàng đầu trong Lục Hạnh Bồ Tát Đạo.

Chúng ta thấy rõ các bậc chân tu đức hạnh không hề chất chứa, mỗi khi có được món gì là các vị liền khơœi tâm bố thí cho người khác.

Như vậy buông xaœ tài vật là Nhân, còn buông xaœ vọng chấp là Quaœ. Chúng ta phaœi luôn ghi nhớ thực hành lời Phật dạy suốt cuộc đời tu tập cuœa mình: "Bố Thí Là Cánh Cưœa Đầu Tiên Để Đi Ra Khoœi Ngục Tù Tam Giới." Rất mong thay!

TUÂN HÀNH LỜI DẠY

Trong tất caœ các công hạnh Xuất Thế Gian thì sự tuân hành y theo lời dạy cuœa bậc giác ngộ là điều quan trọng bậc nhất.

Xưa có một vị Bà La Môn từ thành Vương Xá đi ra gặp đức Phật giữa đường, ông ta ngạo mạn hoœi:

— Những đệ tưœ cuœa ông Cồ Đàm đều được Niết Bàn chăng?

Đức Phật ôn tồn đáp:

— Có người được, có người không.

— Cùng nghe chung lời dạy cuœa ông mà tại sao có người được người không?

— Nếu như có người gặp ông để hoœi thăm đường về Vương Xá, vậy ông sẽ đáp thế nào?

— Tôi sẽ baœo họ hãy đi thẳng tới, rồi rẽ sang bên phaœi đi đến hồ nước lớn, kế đó là vòng qua sẽ thấy thành Vương Xá.

— Nầy Bà La Môn, nếu người ấy nghe như vậy và làm đúng theo, thì sẽ đến được thành Vương Xá chăng?

— Dĩ nhiên là đến được.

— Nếu người ấy nghe như vậy nhưng lại không đi đúng theo chỉ dẫn, vậy người ấy sẽ đến được thành Vương Xá không?

— Không được, Cồ Đàm.

Đức Phật mới baœo:

— Cũng như vậy, nầy Bà La Môn, ta đã dạy cho họ con đường đến Niết Bàn, trước hết là hãy đi thẳng con đường Tinh Tấn, rẽ sang bên phaœi Đơn Giaœi, vòng qua hồ nước Trí Tuệ và sẽ đến được Niết Bàn. Tuy nhiên, có keœ làm đúng theo, có keœ không làm đúng theo, cho nên kết quaœ đã khác nhau.

Vị Bà La Môn ngạo mạn nầy nghe đức Phật ôn tồn giaœi đáp đến đây, liền lộ rõ nét mặt run rẩy xấu hổ rồi gầm đầu boœ đi!!!

Chúng ta thường mắc phaœi căn bệnh tự thị cho hiểu biết cuœa mình, chỉ làm theo điều mình suy nghĩ, không biết boœ đi tư kiến để tuân phục lời dạy cuœa bậc Chân Sư.

Nếu chúng ta không tuân phục một cách triệt để lời dạy cuœa bậc Chân Sư, chúng tôi nhấn mạnh bậc Chân Sư, thì dĩ nhiên chúng ta đã tự mình đánh mất lối về giaœi thoát. Thường xưa nay chúng ta thấy rất rõ bậc Chân Sư có mười đệ tưœ thì chỉ có hai hay ba là triệt để tuân hành đúng theo lời dạy cuœa Thầy. Nếu mỗi người trong chúng ta thành tâm chịu xét mình cho kỹ để triệt để tuân hành theo từng lời dạy cuœa Chân Sư, thì từ việc nhoœ như công việc hằng ngày, giới luật, tư cách, đối đáp v.v... cho đến việc lớn như tụng kinh niệm Phật, giáo pháp, thiền định, sám hối v.v... sẽ đem lại kết quaœ rất tốt trên đường tu hành.

Có nhiều vị, sau khi xem qua các bài về Nhân Quaœ Thế Gian và Nhân Quaœ Xuất Thế Gian nầy, sẽ hoœi rằng làm sao tìm được vị Chân Sư Đạo Đức Cao Caœ mà nương nhờ trong thời buổi vàng thau lẫn lộn ma chướng lộng hành yêu tinh quyœ quái hoạt đầu phá hại Chánh Pháp ơœ haœi ngoại nầy, thì chúng tôi xin traœ lời không phaœi chuœ đích cuœa bài này. Xin kính chúc những vị đó "Bồ Đề Tâm Kiên Cố, Trí Tánh Thường Minh" có đuœ duyên lành tìm ra được bậc Chân Sư.

Những lời dạy cuœa đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni là muôn đời minh viễn tiêu biểu cho chúng ta nhất tâm thệ nguyện làm y theo để đi đến vô thượng phạm hạnh. Đức Phật dạy chúng ta Tinh Tấn, lâu dần về sau chúng ta trơœ thành giaœi đãi. Đức Phật dạy chúng ta sống Đơn Giaœn, lâu dần về sau chúng ta sống đời phức tạp tự mình chuốc lấy biết bao khổ đau phiền não. Tùy theo căn cơ mỗi chúng sanh mà đức Phật chỉ dạy rất nhiều điều, thế mà chúng ta không chịu làm theo cho đúng. Cái bệnh nan y cuœa chúng ta là giaœ vờ tu cái bề ngoài, còn nội tâm thì trống rỗng! Đang phaœi sống ơœ haœi ngoại bị thu hút trong hoàn caœnh và môi trường vật chất sa đọa, làm cho đạo đức bị suy đồi, cho nên Giới Luật Là Thọ Mạng Cuœa Phật Pháp đang bị aœnh hươœng nặng nề. Tại sao? Thượng bất chánh, Hạ tất loạn! Do đó, nếu thật tâm muốn tìm bậc Chân Sư để nương nhờ, thì thiết nghĩ không mấy khó khăn.

Người đệ tưœ xuất sắc là người kỹ lưỡng để ý, triệt để tuân hành lời dạy cuœa Thầy từng li từng tí không sai sót. Nó cũng nói lên lòng tôn kính tin tươœng trọn vẹn cuœa người tu học đối với Thầy, thì thưa quý vị, chúng ta sẽ thành tựu tâm đắc cuœa Thầy.

Câu chuyện "Ông Già Chồn" nầy, khi quý vị đọc đến sẽ có người thắc mắc đặt vấn đề:

— Như vậy, do một chuyển ngữ cuœa Tổ Bá Trượng mà ông nầy được thoát chân chồn phaœi không? Chúng tôi xin thưa, cứ theo sách vơœ chứng minh và nghiên cứu kỹ thì có 2 cách nhìn.

— Nếu nhìn nông cạn, thì sẽ thấy dường như chỉ nhờ chuyển ngữ cuœa Tổ Bá Trượng mà ông ấy thoát thân chồn.

— Nếu nhìn suốt caœ quá khứ, thì sẽ thấy khác. Trước kia ông ấy là vị Tỳ kheo, đã từng kỉnh Phật trọng Pháp, ông làm các công đức trong Phật Pháp, thiền quán tư duy, nhưng chỉ vì trong cái Định ông không thấy đường đi cuœa Nhân Quaœ. Vì thế cho nên ông theo cái Định đó mà traœ lời sai. Quaœ báo làm chồn nay đã mãn, nhờ công đức quá khứ sống dậy nên khiến cho ông gặp được Tổ Bá Trượng là Duyên để ông thoát thân chồn. Khi công đức đã đến thì dầu không gặp Tổ Bá Trượng, ông ấy cũng gặp được vị chân tu khác khai thị cho ông.