BUDDHA HOME

 PHẬT PHÁP

 

 

GIỚI LUẬT LUYỆN TÂM

 

 

HAI MƯƠI HAI GIỚI HUẤN

 

[Hành các Oai Nghi Du Già vì một Cơ Sự

San bằng Trơœ Ngại bằng Một Môn

Có hai Hạnh Sự: Nhập Hành và Hậu Hành

Chịu đựng Caœ Hai, mỗi khi Đối Kiến

Đề phòng Caœ Hai như tự hộ thân

Luyện Ba Đức khó

Thực hành Ba Nhơn chánh

Thuần thục Ba thứ Bất Suy

Tam Nghiệp Thanh Tịnh

Đối Caœnh Không Tư Vị

Thâm Luyện và bao trùm Vạn Pháp là Quan Yếu

Lúc nào cũng tham quán Trường Hợp đặc thù

Không tin cậy Ngoại Caœnh

Tu Chánh Môn đời này

Không được Diễn Nghĩa một cách sai lầm

Không được Bất Chừng

Dũng mãnh Luyện Tu

Phá mê lầm bằng Hai Món: Điều Nghiên và Thâm Cứu

Không được Khoa Trương

Không được sanh Hận

Không được lay động

Không cầu lòng Tri Ân.]

 

 

[Hành các Oai Nghi Du Già vì một Cơ Sự]

 

Điều này có nghĩa là mọi sinh hoạt thường nhật cuœa chúng ta phaœi có chuœ ý mang lại lợi lạc cho chúng sinh. Thể theo văn mạch, Du Già là Tam Nghiệp: Thân, Ngữ và Ý, như: ăn, uống, nguœ, thức, làm việc, chuyện trò, giaœi trí, tu học, cầu nguyện, thiền định. Các nghiệp hạnh ơœ trên phaœi có động cơ càng thanh khiết và thiện lợi càng tốt, nhất là phaœi có chuœ ý làm lợi ích cho chúng sinh. Phần nhiều nghiệp tạo có tánh vô ký, nhưng chúng ta có thể tích cực hóa bằng cách hồi hướng caœ thaœy cho chúng sinh.

Chúng ta có thể ví dụ về Du Già Ẩm Thực. Có ba cách thực hành môn này. Chúng ta có thể chọn môn nào hợp căn cơ nhất. Môn đầu, có đề cập trong Tỳ Nại Da Kinh, là ta nên coi ẩm thực như y dược phòng bệnh và chữa các bệnh đói khát. Theo đó, mỗi khi ăn uống, chúng ta không được tham lam mà nên xem ẩm thực như thuốc thang phòng bệnh.

Phương pháp thứ nhì, được diễn giaœi trong các Kinh Đại Thừa là ta nên thọ ẩm thực với động cơ Bồ Đề Tâm và tư duy: “Để độ sinh ta phaœi chứng đắc Bồ Đề. Vì thân mạng này là căn cứ toàn haœo cho mục tiêu, ta phaœi nuôi nấng bổ dưỡng nó”. Và như thế, mọi hành vi ẩm thực cuœa chúng ta đều chỉ vì lợi ích cho chúng sinh mà thôi.

Lối thứ ba có giaœng giaœi trong các Kinh Mật (Tantra). Vì lòng thương xót chúng sinh vô bờ bến, chúng ta nên tự quán thân là Mật Tông Phật, như Heruka (Huyết Ẩm), Vajrayogini (Phạt Chiết La Du Già Ni), Yamantaka (Diêm Mạn Đức Già), Guhyasamaja (Bí Hội), hoặc Hevajra (Không Trí Kim Cang; Tây Tạng có là nghĩa là “Ồ, Kim Cang Bất Diệt!”). Và khi chúng ta sắp ăn uống, chúng ta nên biến ẩm thực thành Hương Mật và nên xem vật thực chúng ta đang dùng là cúng dường Quán Tự Thân. Một phương pháp Mật Tông khác nữa là triệu thỉnh tất caœ chư Phật, chư Bồ Tát và toàn thể Thánh Chúng xuất hiện dưới dạng Thuœ Hộ Thần và thỉnh mời chư vị nhập tâm cùng ta đồng nhất, rồi cúng dường thánh thực.

Các Hiển Kinh và Mật Kinh Đại Thừa giaœng giaœi Du Già Ẩm Thực được thực hành với ý nguyện làm lợi chúng sinh. Phật giáo đồ đều có thệ hứa cúng dường ngụm ẩm thực đầu tiên cho Tam Baœo — Phật, Pháp, Tăng. Trước khi ăn uống chúng ta phaœi tụng bài Cúng Dường, đoạn áp dụng một trong ba phương pháp đã diễn giaœi ơœ trên. Nếu tất caœ hành trì cuœa chúng ta đều có ý lợi sinh, việc nào chúng ta làm cũng sẽ có ý nghĩa lớn lao.

 

[San bằng Trơœ Ngại bằng Một Môn]

 

“Một Môn” là nói đến bộ môn Thọ Nhận và Bố Thí. Những người hành trì Luyện Tâm nên dựa vào phương pháp này để tiêu trừ các chướng, như trơœ ngại do người, quyœ thần cùng các loài, bệnh hoạn cùng lậu hoặc trầm trọng gây ra. Trước tiên, chúng ta phát bi lực hướng đến vô lượng chúng sinh đang chịu gian nan cùng cực còn hơn caœ chúng ta. Đoạn, chúng ta chân thành quyết định gánh hết chúng sinh khổ, thiền quán Thọ Nhận và Bố Thí như đã mô taœ ơœ trước. Lúc mãn thiền, chúng ta hồi hướng thiện hạnh: “Nhờ vào lực tu trì này về đaœm nhận khổ đau cuœa mình và cuœa người, nguyện cho tất caœ chúng sinh đều hoàn toàn thoát khổ”. Đây là phương pháp vô thượng để chuyển nghịch caœnh thành tu đạo, và đồng thời nâng cao lòng Từ Bi. Khi chúng ta đã chứng nghiệm môn này, chúng ta sẽ có khaœ năng thương xót ngay caœ quyœ ma hung ác.

 

[Có hai Hạnh Sự: Nhập Hành và Hậu Hành]

 

Khi nào chúng ta bắt vào các sinh hoạt tâm linh—tư duy, thiền quán, nghiên cứu Dharma, tịnh hóa bất thiện hoặc gieo trồng phước đức—đều có hai điều quan trọng phaœi làm: lập động cơ tiên khơœi và kết thúc bằng sự hồi hướng. Lúc sơ tu, chúng ta nên phát động cơ tinh thuần và quyết định kiên cố thực hiện thiện hạnh chuyên biệt ấy. Sau khi hoàn tất việc làm, chúng ta nên coi nó có đáp ứng bổn ý cuœa chúng ta hay không. Nếu có, chúng ta nên thích ý và hồi hướng tất caœ công đức vào việc chứng giác. Nếu không, chúng ta phaœi tái lập quyết định thành tựu lần kế.

Thời gian giữa động cơ và hồi hướng, chúng ta cần nương nơi sự lưu tâm sắc bén và mẫn tiệp. Để làm rõ ý, chúng ta lấy trọn một ngày ra làm thí dụ. Lúc thức dậy, với động cơ thuần khiết, chúng ta phaœi quyết định hành một ít pháp môn tu tập cho ngày ấy. Từ đó cho đến lúc đi nghỉ, chúng ta phaœi nhờ sự lưu tâm và mẫn tiệp để thực hiện ý này. Lúc nguœ nghỉ, chúng ta nên xem xét chúng ta đã thành đạt ra sao. Nếu chúng ta thành tựu mỹ mãn, chúng ta có thể hoan hyœ hồi hướng, còn nếu trọn ngày ác nghiệp và ác ý chiếm ưu thế, chúng ta phaœi làm lễ thanh tẩy. Ngày nào cũng làm như thế chắc chắn sẽ giúp chúng ta thành tựu tu học.

 

[Chịu đựng Caœ Hai, mỗi khi Đối Kiến]

 

“Caœ Hai” ơœ đây là nói đến tình trạng lành hoặc tệ mà chúng ta phaœi kinh qua caœ đời. Chúng ta phaœi chấp nhận caœ tốt lẫn xấu, làm thế không tình caœnh nào có thể chướng ngại việc tu tập. Các caœnh huống khác nhau đó gồm có trong số các đối caœnh cuœa Bát Phong (tám ngọn gió), như: Lợi (được) và Suy (mất), Xưng (khen) và Cơ (chê), Huœy (dìm) và Dự (tưng), Khổ (hoạn nạn) và Lạc (vui sướng). Gọi là Bát Phong bơœi vì người trần tục thường quan tâm đến tám ngọn gió lay động đó, muốn được đàng này và muốn tránh đàng kia. Quan tâm lo lắng như thế gieo khó khăn cho hành giaœ Dharma. Nếu chúng ta quan tâm thái quá về Lợi và Suy, gặp khi phát đạt về mặt tiền tài, chúng ta sẽ trơœ nên tán loạn và chỉ lo mài miệt trong cuộc truy hoan làm tổn thất việc hành Dharma và gặp khi chúng ta trơœ nên nghèo khó, chúng ta sẽ caœm thấy sầu não lo miếng cơm manh áo, rồi lại làm phương hại đến việc tu tập. Nếu chúng ta quan tâm thái quá về Xưng (khen) và Cơ (chê), khi nào được người ta ca tụng, chúng ta sẽ trơœ nên kiêu hãnh thấy mình ơœ trên đầu trên cổ thiên hạ, còn gặp khi bị phê bình chỉ trích thì chúng ta bực tức khổ sơœ vô cùng. Nếu chúng ta quan tâm thái quá về Dự (tưng), khi đạt được danh vọng chúng ta sẽ không để tâm đến các hành giaœ đồng tu, ý chừng thấy mình còn cao tay ấn hơn Thiện Tri Thức, còn gặp khi bị Huœy (dìm) chúng ta mới thấy cái đen đuœi cuœa leo thang danh vọng. Nếu chúng ta quan tâm thái quá về Khổ và Sướng, khi nào được vui sướng chúng ta sẽ caœm thấy yêu đời bồng bột rồi đeo Samsara (Luân Hồi Sinh Tưœ) cứng như keo hồ, còn khi gặp chuyện không may chúng ta sẽ mất caœ tín tâm nơi Dharma. Trường hợp nào kể trên cũng là chướng ngại cho việc thực tập Dharma.

Hành giaœ thuần thục sẽ lợi dụng caœnh ngộ lợi hại để phát triển đường tu thay vì để chúng quan ngại việc trì pháp. Nếu họ trơœ nên giàu có họ sẽ dùng tài saœn vào việc vun trồng Công Đức bằng cách giúp đỡ người khác, và do lòng Từ Ái thúc đẩy họ thực hành Đàn Na (Bố Thí) rộng rãi. Còn nếu vì nghèo khó, họ sẽ xem đây là cơ hội ngàn vàng để làm phong phú Giới (Shila), Định (Samadhi), Huệ (Prajna), vân vân. Điều này giúp họ tăng cường môn tu gánh vác khổ đau giùm người khác, xem sự phong phú nội tâm nhờ tu luyện quan yếu hơn cuœa caœi trần tục. Bằng cách nhắm Trí Tuệ theo hướng đó, hành giaœ tinh luyện Tu Tâm sẽ không lay động khi tám ngọn gió đó nổi lên (Bát Phong Xuy Bất Động), và điềm nhiên toại lòng dầu bần cùng hay sang caœ, khen hay chê, được nể vì hay bị khinh thị. Dầu gặp caœnh ngộ thế nào tâm họ vẫn thẳng một lèo mà quaœy gánh.

 

[Đề phòng Caœ Hai như Tự Hộ Thân]

 

Chữ “Caœ Hai” là tham chiếu hai bộ Thệ Hứa: Chung Hứa và Riêng Hứa. Riêng Hứa là Mười Tám Thệ Hứa Luyện Tâm. Còn các Thệ Hứa kia mà ta thọ lãnh là Chung Hứa. Đối với các hành giaœ Dharma, Thệ Hứa là quan trọng hàng đầu và phaœi được phòng hộ cẩn thận như tự hộ thân mạng. Để gặt hái các tu chứng Dharma, chúng ta phaœi vượt mọi lỗi lầm và cách tốt nhất để thể hiện là giữ đúng các Thệ Hứa.

Có hai Thệ Hứa căn baœn cho mỗi Phật tưœ. Căn Baœn Thứ Nhất là Quy Y Tam Baœo: Phật (Buddha), Pháp (Dharma) và Tăng (Sangha); và Căn Baœn Thứ Hai là boœ Ý Tác Hại. Có mười hai Thệ Hứa Quy Y và thêm nhiều Thệ Hứa khác đều gồm trong số Pratimoksha (Giới Bổn), Bồ Tát Giới và Mật Tông Phật Giáo Giới (Tantra). Những ai đã từng thệ nguyện phaœi thật cẩn trọng trong việc trì giữ.

Đức Phật không chế những Thệ Hứa để trừng giới. Các bậc từ thân khôn ngoan muốn đời sống tương lai con cái được đaœm baœo mới đặt ra lề luật khuôn xưœ hầu tránh những va chạm hàng ngày. Nếu con cái ngoan ngoãn vâng lời, chúng sẽ ít có vấn đề khó khăn thường gặp và được sống đời vui sướng. Nói chung bậc làm cha mẹ chỉ lo cho con sung sướng đời này, nhưng chánh ý cuœa Đức Phật là để độ chúng sinh thoát trầm luân khổ haœi và được hươœng Bồ Đề Tối Lạc. Do bơœi Từ Bi, ngài đã giaœng giaœi nhiều Pháp Môn và chế những Thệ Hứa, nếu thành thật trì giữ, sẽ vượt thoát Luân Hồi Khổ Haœi và dẫn đến nguồn vui Toàn Giác.

 

[Luyện Ba Đức Khó]

 

Ba đức khó là ba điều mà chúng ta thấy khó làm; nghĩa là, Nhận Diện các Hoặc Lậu, Vượt Qua các Hoặc Lậu bằng Phổ Khưœ, và Nhổ Tận Gốc Rễ các Lậu Hoặc.

Có thể rất khó nhận diện các lậu hoặc. Sân hận là hiển nhiên hơn hết nhưng vẫn còn nhiều lậu hoặc khác, như tham dục, thì đúng là tế vi. Tham dễ bị nhầm lẫn là Từ Ái hoặc Từ Bi. Có thể khó mà phân biệt giữa Từ Ái và Tham Ái, và giữa Muốn và Tham Muốn. Muốn, không nhất thiết là một lậu hoặc. Chẳng hạn, Đức Phật muốn giaœng dạy Dharma và muốn tế độ lợi lạc muôn loài, nhưng Đức Phật không có tánh tham muốn. Ngay caœ những ước muốn riêng tư cuœa chúng ta, như muốn ăn uống hay muốn gặp bạn bè, đều không nhất thiết là tham muốn. Cái Muốn trơœ thành Tham Muốn chỉ khi nào sự an tâm bị quấy nhiễu. Chúng ta nói đến “yêu thương”, nhưng vì thứ “yêu thương” này thường mang lại những phiền lụy chồng chất, đuœ nói rõ tính chất “yêu thương” đó đúng là Tham Muốn. Thương yêu chân thật không bao giờ có rắc rối phiền hà mà chỉ toàn hạnh phúc. Điều ấy vô cùng vi tế và chỉ có thể nhận chân một khi đã caœm nghiệm.

Một trong những lậu hoặc vi tế nhất và khó nhận chân nhất là mê muội chấp ngã mà gần như không thể nhận ra trừ phi chúng ta đã được tôi luyện về Dharma. Có nhiều người thông minh khéo léo, nhưng nếu họ không tu học Dharma, họ sẽ không hiểu được mê tâm là gì. Có hai loại chấp ngã: chấp Nhân Ngã và chấp Pháp Ngã. Chấp ngã có nhiều trình độ từ thô cho đến tế. Chấp Nhân Ngã là có tự tánh thì vi tế hơn chấp Nhân Ngã là Hữu Ngã và có thực tướng. Điều cốt yếu phaœi tuân theo sự chỉ giáo cuœa một minh sư mới có thể hội được hai loại khác nhau. Tất caœ chúng sinh hữu tình, gồm caœ những côn trùng bé nhất, đều chấp ngã nhưng chỉ có những ai hội được tánh chấp ngã mới có thể tri nhận nó là vọng thức. Muốn hiểu được như thế chỉ có cách là nghiên cứu học hoœi những kinh sách thuần Pháp và các giáo lý.

Khó mà nhận ra các hoặc lậu, mà vượt qua chúng lại càng khó khăn hơn. Tu luyện một số vốn Dharma, chúng ta học cách nhận diện các lậu hoặc nhưng đòi hoœi thật nhiều tập luyện mới ức chế được chúng. Mặc dù tạm thời chúng ta có thể biết cách khắc phục chúng, nhưng rất khó ngăn sự tái phát cuœa chúng.

Chỉ giáo cuœa Lojong khuyến khích chúng ta nên tu luyện ba điểm khó khăn đó. Trước tiên, chúng ta cần nhận diện các lậu hoặc thật chính xác, kế chúng ta cần áp dụng các đối lực để khắc phục chúng. Cuối cùng, chúng ta cần loại trừ toàn thể lậu hoặc và các Huân Tập (vasana) cuœa chúng bằng phép quán Không.

 

[Thực hành Ba Nhơn chánh]

 

Có ba nhơn chánh cốt yếu cho việc tựu thành tu tập Dharma: Ước muốn tu tập Dharma, tín nhiệm Thiện Tri Thức giaœng dạy Dharma và hội đuœ điều kiện tu tập. Không có ba nhơn này, rất chắc chắn chúng ta sẽ gặp đầy trơœ ngại trong việc tu tập.

Hiển nhiên là nếu chúng ta không muốn tu học Dharma, chúng ta sẽ không để ý đến nó. Để khơœi lên ý muốn tu học Dharma, chúng ta cần quen biết với những lợi ích do Dharma đem lại và sự tin chắc là chúng ta có khaœ năng tu tập. Trong đời sống hàng ngày, nếu chúng ta thấy món gì cho là hữu ích, chúng ta tìm cách để có nó cho được. Một cách tương tợ, nếu chúng ta nhận biết những lợi điểm do tu tập Dharma đem lại, chúng ta sẽ tự nhiên phát huy ý muốn tu tập Dharma. Do đó, điều cốt yếu là phaœi tư duy những lợi ích đó.

Chúng ta cũng cần tìm học bậc Thiện Tri Thức cao minh. Không có sự chỉ giáo đúng đắn, thế nào cũng có lầm lỗi và khó mà tu chứng những quaœ vị rốt ráo. Thiện Tri Thức sẽ uœng hộ và khuyến khích việc tu học và Ngài hoặc Bà sẽ giaœng minh thâm ý cuœa giáo lý một cách chính xác và chỉ chúng ta cách tu tập đúng. Theo cách đó, Tuệ Nhãn cuœa chúng ta sẽ được khai mơœ để nhìn vào đài gương Dharma và bước vào con đường dẫn đến caœnh giới Giaœi Thoát.

Nhơn chánh thứ ba là hội đuœ điều kiện trong ngoài để tu. Điều kiện bên trong thì quan trọng hơn. Chúng là lòng thành tín nơi Dharma và hiểu cách tu tập Dharma đúng đắn và xaœo diệu. Điều kiện bên ngoài là đầy đuœ ẩm thực, y áo và nơi ăn chốn ơœ. Những ai muốn nhập thất cần phaœi có điều kiện nội tâm thích nghi và điều kiện đặc thù bên ngoài.

 

[Thuần thục Ba thứ Bất Suy]

 

“Ba Món Bất Suy” là nói đến tín tâm nơi Dharma, nỗ lực hành trì Dharma và sự liễu nghĩa Dharma. Cốt yếu là đừng để ba món này suy đồi. Thay vì, chúng ta sẽ tăng trươœng mỗi phương diện từng ngày và từng năm.

Nếu tín tâm mất hoặc suy đồi, chúng ta sẽ boœ ý nguyện hành trì Dharma. Đấy là trơœ ngại lớn nhất trong sự mưu cầu thanh tịnh bình an, caœ nhất thời lẫn tối hậu. Không có tín tâm nơi Dharma, chúng ta sẽ không có năng lực học hoœi và thiền quán. Vì lẽ đó, vô cùng quan trọng đừng bao giờ để tín tâm nơi Dharma và Thiện Tri Thức suy đồi.

Cũng rất hệ trọng đừng cho nỗ lực hành trì Dharma đi đến chỗ suy vi. Nếu trơœ nên giaœi đãi, chúng ta sẽ không bao giờ đạt được kết quaœ nào trong việc tu trì Dharma. Bằng cách hạ thuœ công phu liên miên, chúng ta có thể đạt được mọi điều ước nguyện.

Điều quan trọng là đừng để sự lưu tâm thoái hóa. Tấât caœ liễu tri và caœm nghiệm về Dharma mà ta có không được quên mất mà phaœi gia tăng trì niệm. Sự chú tâm chính là nguồn mạch cuœa Thiền và Định (ting nge ‘dzin). Nếu để mất sự chú tâm, tất caœ tri kiến về Dharma cuœa ta bị quên đi và sức Định sẽ mất.

Điều quan yếu đặc biệt là hành giaœ Luyện Tâm phaœi caœi tiến và nâng cao tín tâm nơi giáo lý và nơi Thiện Tri Thức. Chúng ta phaœi nỗ lực liên tục tu tập không được biếng nhác và phaœi luôn luôn trì niệm kiến giaœi và kinh nghiệm về Dharma, nhất là bộ môn Lojong.

 

[Tam Nghiệp Thanh Tịnh]

 

Giới Huấn này khuyên ta nên hành thiện qua ba “Cưœa” cuœa Thân, Ngữ và Ý. Ba cưœa này bất khaœ phân thiện nghiệp vào mọi thời. Thiện nghiệp về Thân như cúng dường, lạy nằm sấp trên đất, giúp đỡ những keœ cùng khó, trông nom người bệnh, tô vẽ aœnh thờ Phật, sao chép Kinh Phật, tham thiền tư thế baœy điểm cuœa Tỳ Lô Giá Na (Vairochana) và có ý thức tránh những bất thiện nghiệp về Thân: giết hại, du đạo (trộm cướp) và tà dâm, sau khi đã hiểu suốt những hiểm độc cuœa chúng. Trong số những môn tu cấp cao đẳng cuœa Chân Ngôn Tông, quán tự thân là Phật Thân là một thí dụ về thiện thân nghiệp.

Thiện nghiệp về Ngữ gồm có giaœng dạy Giáo Pháp, tụng Kinh, niệm Chân Ngôn (Mantra) và có ý khuyến thiện. Nếu ta hát một bài ca du dương làm người khác lâng lâng quên hết buồn phiền, dầu là ngắn nguœi thôi, cũng là thiện khẩu nghiệp. Nghiệp Khẩu Vô Thượng là việc giaœng dạy Giáo Pháp. Bằng cách giaœng dạy Dharma, ta giúp người khác tăng trươœng Trí Tuệ và Trí Tuệ là điều quý báu nhất mà ta có thể cống hiến. Cuœa caœi vật chất, dù phong phú đến đâu, cũng chỉ hươœng được trong thời gian ngắn nguœi, nhưng người có Trí Tuệ có thể cần cầu Huệ Trí lúc nào cũng được, đem lại lợi ích cho họ không những ơœ đời này mà còn ơœ các đời sau. Vì thế, tính theo trị giá lâu dài, giaœng dạy Giáo Pháp có lợi ích hơn giúp đỡ về vật chất.

Có vô lượng thiện nghiệp về Tâm, như mười một Tâm Sơœ thiện, Tín, vân vân, và sự từ boœ những ý nghiệp bất thiện: Tham Lam, Tà Kiến và Ý Tác Hại.

 

[Đối caœnh Không Tư Vị]

 

Đối tượng cuœa phép Luyện Tâm không những chỉ có chúng sinh hữu tình mà còn gồm caœ các vật vô tri vô giác như Tứ Đại và vô số saœn vật cuœa Tứ Đại. Tứ Đại là Thổ Đại (Đất), Hoœa Đại (Lưœa), Thuœy Đại (Nước) và Phong Đại (Gió), cùng bốn loại saœn vật cuœa Tứ Đại là Sắc, Hương, Vị và Xúc. Mỗi món này đều có phương diện xấu tốt khác nhau và toàn thể các món có thể là đối tượng cho việc Luyện Tâm. Chẳng hạn, các hình tướng làm thích ý và khó ưa có thể dùng làm đối tượng Luyện Tâm. Chúng ta nên luyện tâm thế nào mà sự gớm ghiếc không nổi dậy khi thấy hình sắc đáng ghét và thế nào mà tham luyến không khơœi lên khi thấy hình sắc đầy thú vị.

Các hoàn caœnh khơœi lên lệ thuộc nơi các Đại và saœn vật cuœa chúng, dầu tốt hay xấu, có thể dùng làm đối tượng Luyện Tâm. Chẳng hạn, do tùy thuộc các Đại chúng ta có thể caœm nghiệm hoàn caœnh tốt như môi trường tốt đẹp nơi mà thời tiết rất dễ chịu và dễ trị các thứ bệnh. Chúng ta có thể chấp nhận những hoàn caœnh thoaœi mái như thế trong khi vẫn lưu tâm đừng để bị tán loạn hoặc để chúng quấy nhiễu. Chúng ta không cho phép những hoàn caœnh thuận tiện ấy làm gián đoạn việc tu tập Dharma. Tốt hơn, chúng ta cần nhớ rằng caœnh huống thuận lợi này là kết quaœ tích lũy công đức ơœ đời trước, và nay được đem ra thụ hươœng và chẳng bao lâu sẽ kiệt quệ nguồn công đức. Do đó, muốn có một vị lai lạc hươœng, chúng ta cần phaœi tích trữ thêm công đức. Biết thế, chúng ta phaœi phấn đấu gia công thêm nữa trong các tu tập tích lũy công đức.

Có thể vì bất hạnh chúng ta phaœi sống ơœ nơi rất khác xa đất đai thanh tịnh nơi mà điều kiện sinh sống thiếu thốn và bất tiện và có nhiều hiểm họa như địa chấn thường xaœy ra. Trong trường hợp này, chúng ta nên tri nhận tình caœnh bất tiện đó là kết quaœ những bất thiện nghiệp trong quá khứ và là dấu hiệu khuyên ta cần tu những pháp môn chuyên biệt để tẩy hóa ác nghiệp. Tư duy như thế, chúng ta phaœi nỗ lực trong bất cứ phương pháp nào để tẩy hóa.

Ngoài việc ứng dụng các phương pháp gieo trồng công đức và tẩy hóa ác nghiệp, chúng ta còn phaœi chuyển những tình caœnh nào mà chúng ta đương đầu, dầu tốt hay xấu, thành con đường tâm linh bằng cách thực hành Thọ Nhận và Bố Thí.

 

[Thâm Luyện và bao trùm Vạn Pháp là Quan Yếu]

 

Giới Huấn này khuyên ta rằng: rất quan yếu ơœ chỗ chẳng những phaœi làm theo lời dạy cuœa Đức Phật mà ta còn phaœi hiểu rõ thâm ý cao xa cuœa lời dạy và nhơn đó có kinh nghiệm tâm linh thâm thúy. Giới huấn này cũng khuyên ta khi Luyện Tâm nên có cái nhìn bao trùm vạn vật bằng nhận xét chư pháp là hư aœo và trống rỗng tự thể.

 

[Lúc nào cũng tham quán Trường Hợp đặc thù]

 

Có những trường hợp đặc thù cần có sự thích dụng đặc biệt cuœa bộ môn Luyện Tâm. Ta thường thấy khó thương xót những ai coi như có may mắn hơn chính ta hoặc đối với những ai có ý hại hoặc thách đố ta về mặt nào đó. Trong trường hợp đó, ta nên chuyên quán về những vấn đề đang nhiễu nhương hạng người này và cố phát triển lòng Từ Bi đối với họ. Nếu có người nào mà ta luôn luôn có veœ thù giận, ta nên tạo một đặc điểm thiền quán về toœ lòng kham nhẫn với hạng người ấy.

Trong lúc tạm ngưng quán, ta nên niệm tươœng lòng Từ Bi, tánh Kham nhẫn và các thiện ý khác mà ta đã phát sinh trong suốt Thiền Khóa và rán đem những điều ấy ra thực hành.

 

[Không nương tựa Ngoại Caœnh]

 

Khi thực hành Luyện Tâm, ta nên nương tựa sức mạnh nội tâm hơn là ngoại caœnh. Ta không cần phaœi đợi cho có hoàn caœnh tốt hơn mới chịu bắt vào tu tập, bơœi vì lúc nào ta cũng có thể chuyển tình trạng xấu hay tốt thành con đường dẫn đến giaœi thoát và Giác Ngộ. Nếu ta luôn đòi hoœi phaœi có điều kiện toàn haœo thì sẽ không bao giờ có dịp tu học Dharma và thiền quán bơœi vì ta sẽ vô cùng bận rộn cố lo thoœa mãn những ước vọng không đáy. Chẳng hạn, ta có thể có bạn đời rất vừa ý nhưng vì tánh bất toại cuœa ta, ta vẫn quanh quẩn tìm người khác. Hoặc ta có thể có xe hơi tốt rồi, vậy mà vẫn còn muốn kiểu xe nào lớn hơn và đắt tiền hơn. Lại nữa, công ăn việc làm hiện tại cuœa ta tốt lành lắm rồi, vậy mà chưa mãn nguyện ta vẫn còn đòi cho có cái tốt hơn. Nếu ta cứ đuổi bắt theo dục vọng sẽ không còn bao nhiêu thời gian nữa để hành trì Dharma.

 

[Ứng Dụng Chánh Môn đời này]

 

Lúc này ta có Thân Mạng Báu nhưng không biết chắc thân này còn sống được bao lâu. Ta nên tư duy: “Thật là thaœm trạng lớn lao nếu ta phung phí cơ hội hiếm có này, vì thế ta sẽ cố làm cho nó có nhiều ý nghĩa”. Thật vô ý nghĩa nếu ta chỉ mãi lo cuœa caœi vật chất. Dẫu cho ta có trơœ nên giàu có đi nữa, ta vẫn phaœi traœi qua những khổ đau cuœa Sinh Tưœ Luân Hồi (Samsara). Có nhiều người giàu có mà vẫn gian nan vất vaœ và có nhiều lo âu. Ta nên tư duy:

Chuœ định lớn nhất cuœa thân này là cung ứng phương tiện để đi đến Giaœi Thoát và Giác Ngộ Viên Mãn. Con đường duy nhất để thành tựu hai điều này là tu trì Dharma. Trong số các Pháp Môn tu tập, Pháp Môn Vô Thượng là Luyện Tâm. Vì thế, ta phaœi thực tập Luyện Tâm ngay bây giờ.

 

[Không được Diễn Nghĩa một cách sai lầm]

 

Ý nghĩa cuœa Giới Huấn này là để tránh sáu thái độ sai lầm: Kham nhẫn bất chánh, Nguyện vọng bất chánh, Kinh nghiệm bất chánh, Từ bi bất chánh, Lợi ích bất chánh và Hoan hyœ bất chánh.

Kham nhẫn bất chánh là kham nhẫn hướng sai đối tượng. Chẳng hạn, sau khi hiểu sai thật nghĩa cuœa nhẫn nhục, ta trơœ nên nóng naœy với những khó khăn xaœy ra đang khi làm việc thiện, nhưng lại nhẫn nại với những khó khăn xaœy ra đang khi làm việc bất thiện. Kham nhẫn chơn thật là kham nhẫn đối với keœ thù bên ngoài, không phaœi vì keœ thù bên trong là các lậu hoặc.

Nguyện vọng bất chánh là nguyện vọng hướng sai đối tượng. Chẳng hạn, ta có thể khâm phục và muốn được như những người giàu sang quyền quý và chỉ lo đắm mình trong chuyện đời trầm luân mà không có ý tu hành gì caœ, mà chỉ vì người nào đó nghèo khổ xấu xí mà ta không muốn được giống như thế dầu cho người đó là một hành giaœ tu hành thuần khiết.

Kinh nghiệm bất chánh là do mê muội, ta gác boœ kinh nghiệm Hương Mật Dharma và thay vào đó là việc đeo đuổi những kinh nghiệm và lạc thú trần tục. Ta phaœi rán hươœng Pháp vị ngay bây giờ, lúc còn cơ hội. Khi ta đã tự quen thuộc với Dharma, ta sẽ khám phá nhiều cách tìm ra sự thuần lạc. Ta có thể caœm nghiệm hạnh phúc nhờ Thiền Định và Trí Tuệ, và nhờ Trì Giới, ta sẽ được lạc phúc thù thắng có từ thân tâm kiện toàn. Bằng cách hươœng lạc định lành lặn, ta có thể caœm nghiệm lạc phúc bền vững vô thượng, bất luận những tình caœnh bên ngoài có khó khăn đến đâu. Thay vì có những lạc hươœng thanh tịnh, ta chỉ lo kinh nghiệm lạc thú phàm tục, thì đây là kinh nghiệm bất chánh. Như Shantideva đã nói trong quyển “Chỉ Nam Bồ Tát Đạo” (Byang chub sems dpa’i spyod pa la ‘jug pa):

 

Sau khi đã từ chối niềm vui vô thượng cuœa Pháp Phật Nhiệm Mầu

Là nguồn lạc phúc vô biên

Vì sao ta tán loạn vì những duyên do gây ra đau đớn?

Sao ta có mối tiêu khiển và thuộc loại hão huyền như thế?

 

Từ bi bất chánh là từ bi hướng đến chư Phật hoặc Thánh Chúng, thay vì cho các loài hữu tình đang khổ đau. Mặc dù một số người đã chứng tu có thể có veœ rất tầm thường, nhưng họ không phaœi là đối tượng thích đáng cho lòng Từ Bi cuœa ta.

Lợi ích bất chánh là cố giúp người khác bằng thiện ý nhưng vô tình làm hại họ hơn là giúp họ. Có ý giúp đỡ bạn bè và bà con quyến thuộc là điều hoàn toàn tự nhiên, nhưng chỉ vì giúp họ mà làm họ tạo thêm nghiệp ác, bất cứ lợi ích nào họ nhận được chỉ có tính cách tạm bợ thôi. Nếu có một người bạn muốn tìm bắn keœ thù và ta là người cung cấp đạn dược súng ống, điều này có thể thoœa mãn tức tốc ý muốn cuœa người bạn, nhưng chắc chắn, cuối cùng điều ấy sẽ mang lại khổ đau cho người bạn. Để việc làm lợi ích người khác có hiệu quaœ, ta cần đại thiện xaœo. Đương thời, vì vô minh ta cố giúp người mà không chắc ta có thực sự giúp được họ hay không. Ta cần Trí Tuệ để phân biệt rõ giữa điều gì mang lại lợi ích tạm bợ và điều gì mang lại lợi ích tối hậu.

Hoan hyœ bất chánh là mừng vui khi thấy người khác tạo nghiệp ác, thay vì thấy họ làm nghiệp lành. Chẳng hạn, nếu ta khen ngợi người nào bắt được nhiều cá nhất trong cuộc thi đánh cá, hoặc khen ngợi người nào bắn được nhiều con thịt nhất trong cuộc săn thú, hoặc khen ngợi người đấu bò giết được con bò mộng; nếu ta đẹp lòng khi thấy nghịch quốc gặp khó khăn và thất bại, tất caœ việc làm này là thí dụ về Hoan hyœ bất chánh, theo đó ta tạo nghiệp ác rất nặng nề. Thay vì vậy, ta thấy vui mừng trong lạc hyœ và đức tính tốt cuœa người khác, sự thành công, việc tích lũy công đức và trí tuệ cuœa họ, vân vân, đó là ta đang tạo thiện nghiệp lớn lao.

 

[Không được Bất Chừng]

 

Khi hành trì Dharma, sự gắng sức mà ta áp dụng phaœi vững chắc và nhất trí. Nếu ta thực hành nhiệt liệt chỉ vài ngày rồi từ từ thờ ơ chểnh maœng, việc tu tập cuœa ta không có nhiều oai lực. Vững chãi, hành trì liên tục qua một thời kỳ dài hạn quan trọng hơn dồn nén nỗ lực trong thời gian ngắn nguœi. Đôi khi, ta thực tập một cách sốt sắng và đầy nghị lực chỉ một thời ngắn thôi, nhưng khi không đạt được thành quaœ, ta đâm ra thối chí và có thể đi đến chỗ boœ hết việc tu hành. Trông ngóng tu mau thành không lấy chi hứa hẹn thành công bơœi vì kỳ vọng trái lý là duyên do thất bại trong bất cứ loại tập luyện nào. Ta cần phaœi hành trì Dharma với nỗ lực bền bỉ và nhứt trí cho đến lúc chứng ngộ.

 

[Dõng mãnh Luyện Tu]

 

Để có kinh nghiệm và thực hiện Luyện Tâm, ta cần phaœi hết lòng hành trì mà không được chần chờ hay hoài nghi. Trước tiên, ta cần hiểu biết cách tu tập bằng cách thính Pháp và học hoœi giáo lý, đoạn ta phaœi liên tục hành trì một cách kiên định. Nhập thất dài hạn để luyện tâm, quyết hết mình vì đạo, sẽ hỗ trợ đắc lực việc thâm chứng Lojong.

 

[Phá mê lầm bằng Hai Món:

Điều Nghiên và Thâm Cứu]

 

Ta nên tư duy về tất caœ các nghiệp do Thân, Ngữ và Ý tạo tác và kiểm soát tất caœ một cách thận trọng. Làm như thế, ta sẽ có một nhận thức khúc chiết về những gì ta đang nghĩ ngợi, nói năng và tạo tác vào mọi thời. Với sự chú tâm như thế, ta sẽ tránh được sự chăm chú không thiết đáng và các tâm trạng mê mờ xui khiến ác nghiệp về Thân và Ngữ.

Giới Huấn này cũng vạch ra hai giai đoạn thực tập Luyện Tâm: Phoœng và Chính Xác. Từ ngữ “Điều Nghiên” ngụ ý điều kiện tiên quyết phaœi liễu nghĩa phoœng hoặc xấp xỉ về chỉ huấn đó cuœa Luyện Tâm qua sự điều tra nghiên cứu. Từ ngữ “Thâm Cứu” biểu lộ ta phaœi caœm nghiệm sâu xa những chuœ đề trên nhờ vào Tư Duy và Thiền Quán. Theo cách đó, lần đầu ta hội đuœ điều kiện để tự miễn trừ những sai lầm thô thiển bằng Điều Nghiên và lần chót vượt thoát mọi sai lầm vi tế hơn bằng Thâm Cứu.

 

[Không được Khoa Trương]

 

Nếu Luyện Tâm là chánh môn, mối quan tâm cuœa hành giaœ là tìm cách tế độ và làm lợi ích người khác, nhưng có chuœ đích cao caœ như thế không làm ta cống cao khinh mạn và khoa trương trước mọi người về những gì ta đang làm. Ta có lý do độc nhất để tu trì Luyện Tâm là đắc đạo vì tất caœ chúng sinh. Đang khi ta đang hiến mình phụng sự người khác, không tí gì thiết đáng caœ để khoa trương.

 

[Không được sanh Hận]

 

Khi có ai cư xưœ làm ta bực mình, như giễu cợt, làm lờ hoặc lăng mạ, ta không nên phaœn ứng bằng căm thù và tức giận. Khi lưœa sân hận sắp bén, ta phaœi lập tức cân nhắc rường cột cuœa môn Luyện Tâm là Từ Bi và nhớ rằng sân hận là kỳ phùng địch thuœ cuœa Từ Bi, do lẽ đó không cho nó phát khơœi. Ta nên tri nhận người đang sỉ nhục ta không còn kềm chế được điều đang làm, bơœi vì anh ta hoàn toàn bị lậu hoặc chi phối và không có lối thoát. Thông thường, những ai không có tu tâm luyện tánh thấy ai nổi giận đaœ thương người nào đó liền đổ lỗi cho người nóng giận và nghĩ rằng anh ta làm sái. Tuy nhiên, những ai từng tu học Luyện Tâm đổ lỗi cho lậu hoặc, không đaœ động gì tới người có lậu hoặc. Như kinh điển đã ghi chép, chư Phật toœ lòng từ đến chúng sinh hữu tình thấy cách ăn ơœ ác đức cuœa họ là lầm lỗi cuœa lậu hoặc phiền não, chớ không phaœi chính do con người gây ra. Chư Phật không bao giờ từ boœ, kết án hay nổi xung với chúng sinh hữu tình nhưng vì biết rõ họ hoàn toàn bị mê tâm áp đaœo, chư Phật toœ lòng xót thương vô hạn. Đào luyện thái độ y như thế khi gặp ai giận ta là một trong những phương kế thâm thúy nhất để đem lại bình an cho baœn thân và người khác.

Nếu mỗi cá nhân hữu tình đều tu học Luyện Tâm, toàn thể mọi người sẽ chân thật yêu thương toàn thể mọi người. Nếu các quốc gia trên hoàn cầu gồm toàn những cá nhân có trái tim và máu huyết như thế, chúng ta sẽ không còn xâu xé nhau như súc vật, thì làm sao còn cơ sơœ để lắm chuyện chiến tranh. Không có tu luyện Dharma khó mà chuyển ác nghiệp kiết tập thành thiện nghiệp, nhưng ơœ đâu Thanh Tịnh Pháp (Dharma; Chos) thịnh vượng, ơœ đó có Đại Phúc Lợi. Có thể nói, để hòa bình và hạnh phúc chân thật tràn ngập bao la, hoa sen Phật Pháp phaœi trổ ngát caœ thế gian.

 

[Không được Lay Động]

 

Có một số người bỗng nhiên gặp vận may, họ phaœn ứng quá lố và rất sôi nổi, caœ cười và nhaœy múa tung tăng theo cách lối ngớ ngẩn, nhưng khi một mong manh ham muốn chẳng được thoœa họ trơœ nên sầu thaœm thái quá, thất vọng và tối tăm mặt mày rồi toàn thể hình hài diện mạo thay đổi. Giới Huấn này khuyên ta không nên để bị như thế. Bằng cách tu tập Luyện Tâm (Lojong), ta sẽ thấy an tâm vững vàng bất luận ơœ hoàn caœnh thế nào.

 

[Không cầu lòng Tri Ân]

 

Khi ta giúp đỡ người khác, đừng mong được đáp lễ traœ ơn. Có một số người nghĩ rằng nhờ giúp đỡ người khác họ sẽ được báo đền theo cách nào đó nhưng lối suy nghĩ như thế biến lòng tốt thành thứ giaœ mạo. Hành vi cuœa ta chỉ hướng đến việc làm lợi lạc chúng sinh và không có ý tư lợi. Tất caœ mọi pháp tu Luyện Tâm, từ những Khai Pháp cho chí Giới Huấn chung kết này, phaœi được thực hiện với sự thúc đẩy cuœa Bồ Đề Tâm.

 

 

Trở về trang Mục Lục của 7 Ðiểm Luyện Tâm