BUDDHA HOME

 PHẬT PHÁP

 

 

TRẮC LƯỢNG THẮNG LỢI TRONG PHÁP LUYỆN TÂM

 

 

[Chư Pháp cô đọng trong một Mục Đích.

Chuœ trì Chánh Chứng trong hai Biểu Chứng.

Thường tin cậy ơœ Hyœ Tâm độc nhất.

Dấu Hiệu thuần luyện là Đaœo Ngược.

Dấu thuần luyện là có Năm Dấu Hiệu Vĩ Đại.

Người điêu luyện là Người có thể tu tập caœ khi bị xao lãng.]

 

Có sáu dấu hiệu biểu lộ tấn bộ trong việc Luyện Tâm, hiếm chỉ bơœi sáu hàng Chánh Văn ơœ trên.

 

[Chư Pháp súc tích trong một Chuœ Đích.]

 

Dharma có thể được chia thành nhiều ngành và có nhiều trình độ tu tập. Phật Pháp có thể phân thành Tiểu Thừa (Hinayana) và Đại Thừa (Mahayana), và nội trong Đại Thừa, thành Khế Kinh (Sutra) và Kinh Mật (Tantra). Nội trong các tổng Chi này, còn có nhiều Chi nhánh khác nữa. Mặc dù có vô lượng Pháp môn, nhưng nhất thiết pháp môn đều có chung một vị, bơœi vì tất caœ đều dạy phương pháp chế phục tâm bất trị.

Tâm ta nay giống như một dã tượng — khó điều khiển và khó thuần hóa. Do tánh bất kham này khống chế, ta đương đầu nhiều khó khăn và vấn đề. Nếu ta kỹ luật và định tịnh tâm phóng đãng, ta sẽ được tự chuœ và do đó được tự tại vô ngại. Một khi ta bắt đầu chế tâm, ác ý vẫn có thể khơœi, nhưng chúng sẽ không áp lực được ta và sẽ không khiến ta tạo ác nghiệp được, là căn baœn cuœa mọi vấn đề. Có tự chuœ như thế, ta sẽ luôn luôn được thanh tịnh tịch tĩnh. Dưới bất luận hoàn caœnh nào ta chạm trán, tâm ta vẫn vững như bàn thạch. Sau khi được an bình và ổn định nhờ chế tâm, ta có thể đạt được an bằng giaœi thoát rốt ráo và đắc chứng quaœ vị tối thắng là Phật quaœ.

Nếu công trình Luyện Tâm cuœa ta có hiệu quaœ là làm tâm ta trơœ nên an bình hơn và dễ chế ngự, đây là dấu hiệu thắng lợi cuœa tu chứng. Nói cách khác đi, nếu ta tự xưng là hành giaœ Lojong mà tâm ta càng ngày càng trơœ nên bất trị, điều này biểu lộ cách hành trì cuœa ta không chính xác. Cách hành trì Luyện Tâm đúng pháp đòi hoœi thiện xaœo.

 

[Chuœ trì Chánh Chứng trong hai Biểu Chứng]

 

 Hai biểu chứng là tham chiếu nội tướng và ngoại tướng cuœa sự tấn phát. Nếu ngoại nghiệp cuœa Thân và Ngữ được tịch tĩnh và điều chế, khách bàng quan sẽ thấy những dấu hiệu đó là bằng chứng hiển nhiên ta là hành giaœ thành thật gioœi giang. Song le, nội tướng cuœa sự tấn phát lại quan trọng hơn hết. Chúng được nói đến trong baœn Chánh Văn là “Chánh Chứng”. Nội tướng là dấu hiệu ta đã kiềm chế và khắc phục các ác ý như ngã ái và chấp ngã.

Rất có thể ta biểu dương sự chế tâm nhưng đó chỉ là ngoại diện không gồm có nội chứng. Để biểu thị điều ấy, Nagarjuna (Long Thọ), trong quyển “Lá Thư Tri Thức” (bShes spring), đã dùng trái xoài làm loại suy: trái xoài ngó thấy voœ chín muồi bề ngoài nhưng cơm xoài phía trong còn sống. Tương tợ như thế, một người có thể có veœ rất điềm tĩnh và kiềm chế ơœ bề ngoài nhưng nội tâm thì bất trị. Vì thế, dấu hiệu tấn phát bề ngoài và hữu tướng thì không cụ túc và mối quan tâm hàng đầu cuœa chúng ta là việc ức chế tâm.

 

[Thường tin cậy ơœ Hyœ Tâm độc nhất.]

 

Trắc lượng đã luyện tâm thuần thục là ta luôn luôn có veœ bình tĩnh và vui sướng. Trước khi tâm ta được tôi luyện, nó cứ thay đổi theo caœnh ngộ. Khi được thời thì ta thấy hạnh phúc, lúc thời mạt thì ta thấy bất hạnh. Tâm ta dễ lay động cho đến nổi nó đổi thay trong chốc lát, khi thì vui sướng và phấn khơœi, khi thì chán naœn và ngã lòng. Người có tâm ức chế luôn caœm thấy vui sướng và an tĩnh dưới bất cứ trạng huống nào. Một số học giaœ và nhà tu Thiền đã gọi luyện tâm là “thành trì cưœa ngõ cuœa mọi lạc phúc”. Có nhiều nơi đô hội trên thế gian có tiếng cung hiến những caœnh phồn vinh hào phóng cuœa lạc thú và tiêu khiển, nhưng “đô thị” đem lại chân lạc phúc bền vững là Luyện Tâm. Qua cách trì luyện tâm, nếu ta luôn luôn có hyœ ngay caœ khi cùng mạt, ấy là dấu hiệu chứng toœ ta đã thành tựu pháp Lojong.

 

[Dấu Hiệu thuần luyện là Đaœo Ngược.]

 

“Đaœo Ngược” là nói đến sự đaœo ngược hoàn toàn thái độ đã có. Điều này có thể trắc lượng trong các phép Luyện Tâm. Chẳng hạn, dấu hiệu ta đã tinh luyện sơ pháp về tín nhiệm Thiện Tri Thức là điều nghịch lại sự bất tín trước đây. Dấu hiệu thành tựu trong các phép quán về Nhân Mạng Báu, Chết và Vô Thường là đaœo ngược tham đắm dục lạc cuœa sinh tưœ luân hồi. Thành tựu thiền quán về Bồ Đề Tâm Ước Lệ là nghịch lại ái ngã và xaœo luyện về Bồ Đề Tâm Vô Thượng, hoặc tánh Không, là đaœo ngược cuœa mê muội ngã chấp. Theo cách đó, đaœo ngược những thái độ sai lầm là biểu lộ thành công trong việc tu tập Luyện Tâm.

 

[Dấu thuần luyện là có Năm Dấu Hiệu Vĩ Đại]

 

Nếu chúng ta thành tựu Luyện Tâm, chúng ta sẽ được “Dấu Hiệu Vĩ Đại” hay những đặc tính tương tợ Năm Vị Đại Nhân: (1) Đại Bồ Tát, (2) Đại Giới Thuœ, (3) Đại Khổ Hạnh, (4) Đại Thiện Hạnh, và (5) Đại Du Già Sư (Yogi).

Đại Bồ Đề Tát Đoœa là người đã tựu thành Tâm Bồ Đề, Đại Giới Thuœ là người có thể chuyên trì mọi giới điều, Đại Khổ Hạnh là người có khaœ năng chịu mọi gian khổ khó nhọc và biến chúng thành tu đạo. Đại Thiện Hạnh là người không thấy khó tạo các thiện nghiệp, và Đại Du Già là người đã thể chứng caœ Bồ Đề Tâm lẫn Chánh Kiến về Không.

 

[Người điêu luyện là Người có thể tu trì

ngay caœ khi Tâm Trí đang bị xao lãng.]

 

Có thể giaœi nghĩa thấu đáo điều này bằng ví dụ như sau. Trước khi luyện lòng Từ Bi, đôi khi chúng ta có thể caœm thấy thương xót chúng sinh, nhưng cũng có lúc chúng ta caœm thấy giận dữ và ganh ghét. Khi luyện lòng Từ Bi, chúng ta tập boœ giận dữ, ganh ghét và các ác tâm khác, nhưng cũng có lúc vì khinh suất, chúng ta quên việc tu luyện và giận dữ đột nhiên khơœi dậy. Khi chúng ta tiến sâu hơn trong việc tu luyện, cuối cùng sẽ tiến đến giai đoạn mà lòng Từ Bi quaœng đại cho đến nổi ngay caœ khi tạm thời bị rối trí, chúng ta vẫn có thể thắng lướt sân hận.

Khi chúng ta niệm quán sinh nhẫn, thông thường chúng ta sẽ không nổi giận ngay caœ khi bị ai mạ lÿ, nhưng nếu chúng ta bị chọc giận quá mức đến đổi chúng ta quên tu, chúng ta có thể phát khùng. Song le, khi chúng ta đã viên mãn việc tu luyện, chúng ta không cần phaœi ý thức nhắc nhơœ tri kiến Dharma, nếu đột nhiên sự việc trơœ nên khó khăn, mà chúng ta sẽ có khaœ năng thực hành kham nhẫn và chịu đựng một cách tự phát dưới mọi tình caœnh. Điều này cũng giống tay kÿ mã lão luyện không cần phaœi tập trung vào việc cỡi ngựa gì caœ. Dầu cho thần trí lơ đễnh đâu đâu, anh ta vẫn không bị ngã ngựa, trong khi một người tập sự phaœi không ngớt theo dõi những gì mình đang tập. Một cách tương tợ, chúng ta cần phaœi tu tập liên miên cho đến khi chúng ta có kinh nghiệm sâu rộng về Từ Bi. Chúng ta có thể áp dụng ví dụ ơœ trên về luyện từ bi và kham nhẫn vào tất caœ các môn tu tập khác. Mặc dù chúng ta có thể đã hoàn tất công việc giáo hóa đúng pháp, là những hành giaœ Dharma, vẫn còn có những “trình độ” cao hơn để tu học. Khi chúng ta tấn bước trong việc Luyện Tâm, mỗi giai đoạn mới đều giống như đạt được một “trình độ” cao hơn. Trước tiên, chúng ta đạt “cấp bậc” cuœa Bồ Tát sơ phát tâm và khi chúng ta đạt Tư Lương Đạo và Kiến Đạo, chúng ta thành đạt “trình độ” tu chứng thứ nhì và thứ ba. Khi chúng ta bước vào con đường thứ tư, Tu Đạo, chúng ta chứng đạt “trình độ” tu chứng thứ tư. Sau rốt, khi chúng ta chứng đạt Vô Học Đạo là chúng ta đã chứng được “cấp bậc” chung kết cuœa Viên Mãn Giác Ngộ. Lối loại suy này chỉ rõ chúng ta phaœi thăng tiến từng bước một trong phép Luyện Tâm cùng lúc với việc trì giữ mục tiêu chánh yếu và cuối cùng là quaœ vị Đại Giác.

 

 

 

Trở về trang Mục Lục của 7 Ðiểm Luyện Tâm