BUDDHA HOME

 PHẬT PHÁP

 

 

CÁCH PHỐI HỢP CÁC KHÓA TU THƯỜNG NHẬT

 

 

[Chỉ Huấn Yếu Lược Này

Sẽ được Ứng Dụng với Ngũ Lực.

Ngũ Lực là Pháp Môn Quan Yếu Nhất

Cuœa Giáo Lý Đại Thừa về Chuyển Thức]

 

Ngũ Lực là: Động Lực, Tập Lực, Bạch Chuœng Lực, Huœy Lực và Nguyện Lực.

Ý nghĩa các hàng trên cuœa Chánh Văn là chúng ta nên phối hợp Ngũ Lực vào các khóa tu hằng ngày. Vì tính chất phi thường cuœa phương pháp này, tất caœ cách hành trì Dharma cuœa ta sẽ đơm bông kết trái.

Có hai thời, khi mà Ngũ Lực phaœi được thực hành:

1. Trước khi chết

2. Lúc chết

 

THÍCH DỤNG NGŨ LỰC TRƯỚC KHI CHẾT

Rất cần thiết phaœi tu luyện hai Tâm Bồ Đề cùng với Ngũ Lực, thích dụng Ngũ Lực cho mỗi bộ môn chuyên biệt, chẳng hạn như Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã và Ngã Hoán Caœi. Bằng cách học hoœi cách thích dụng Ngũ Lực vào bất cứ bộ môn nào trong hai bộ môn thực hành, chúng ta sẽ có thể thích dụng Ngũ Lực vào những bộ môn khác.

Để chỉ toœ cách thích dụng Ngũ Lực trước khi chết, cách thực hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã cùng một số bộ môn khác sẽ được đem ra làm ví dụ.

 

Trước khi Chết, Động Lực được Thích Dụng

Vào việc Thực Hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã

 

Thể theo văn mạch, Nguyên Động Lực, hay ý định, có nghĩa là có trọng nguyện thực hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã và đi đến caœ quyết kiên cố: “Từ nay trơœ đi, ta quyết thực hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã một cách thành thật và cần mẫn.” Nếu ta có nguyên động lực mạnh mẽ như thế, ta sẽ thích dụng sự cố gắng đầy năng lực và kiên định vào việc tu tập, và bằng lối thực hành như thế, ta sẽ chắc chắn đạt được vị chứng Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã. Có gắng sức điều chi cũng nên, ngay caœ việc mà trước đây có veœ ngoài sức tươœng tượng cuœa ta. Vì sự gắng sức còn tùy ơœ sự thúc đẩy, cho nên Động Lực thuộc về quan yếu hàng đầu.

Lúc nào ta cũng phaœi rán nhớ lại ước vọng muốn thực hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã. Mỗi ngày khi vừa thức dậy, ta phaœi lập quyết tâm thù thắng: “Vì ta đã lập quyết tâm thực hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã, ta phaœi rán trì niệm tâm ấy cho hai mươi tư giờ kế đến”.

Đại để, điều gì ta làm đều tùy nơi quyết ý muốn hay không. Khi ta đã sắt đá quyết định: dậy sớm lúc tinh mai, ta sẽ có khaœ năng làm như vậy. Do đó, trước khi đi nghỉ, ta nên sắt đá lập tâm thực hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã. Kế ta phaœi tồn tại chuœ tâm đó ngay caœ khi đang nguœ. Lại nữa, vào buổi sáng, nếu ta sắt đá quyết chí thực tập Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã, ta sẽ có thể làm được như vậy trong suốt caœ một ngày. Đấy là phương thức thích dụng Động Lực vào việc tu trì Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã.

 

Trước khi Chết, Tập Lực được Thích Dụng

Vào việc Thực Hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã

 

Thích dụng Tập Lực về phần Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã có nghĩa là làm cho tâm tánh ta quen thuộc với cách tu. Trước tiên, chúng ta trau giồi Tập Lực như đã được giaœi thích ơœ trên, kế đến chúng ta thực hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã caœ trong các Thiền Khóa lẫn những lúc ngoài Thiền Khóa, cho đến khi chúng ta thành tựu được thực nghiệm bất biến. Để thể hiện điều đó, chúng ta nên hồi tươœng và suy tư những phương thức phát triển tâm Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã thật nhiều lần, cho đến khi chúng ta hoàn toàn quen thuộc với chúng. Điều đó cũng y như học cách nhaœy múa. Để mơœ đầu, ta thấy rất khó học từng bước và ta thấy khá vụng về, nhưng sau khi luyện tập đều đặn ta thấy quen thuộc sành soœi và kinh nghiệm phát triển một cách giaœn dị tự nhiên. Để đạt đến trình độ thâm uyên trong bộ môn Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã, cũng như trong mọi sinh hoạt khác, chúng ta cần phaœi có caœ Động Lực lẫn Tập Lực.

 

Trước khi Chết, Bạch Chuœng Lực được Thích Dụng

Vào việc Thực Hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã

 

“Bạch ” có nghĩa là Thiện, Đức, Chánh; còn “Chuœng” là nói đến việc gieo trồng Công Đức (punya sambhara). Cũng giống như canh tác mùa màng phaœi nhắm hạt giống và điều kiện thuận lợi, vậy chứng đạt và tăng triển caœm nghiệm thuần nhất về Dharma đều còn tùy vào việc gieo trồng công đức. Trong đa số phương tiện giúp tăng gia việc gieo trồng công đức, có một món đặc biệt quan trọng là sáu phép Tư Lương trong thời khóa hằng ngày. Sáu phép Tư Lương gồm có phép Cúng Dường. Đây là cách có công hiệu vô cùng để tích trữ phước đức. Khi cúng dường chư Phật và chư Bồ Tát, hoặc là ta có thể quán tươœng chư vị ơœ trước mặt, hoặc là an vị biểu trưng sắc thân cuœa Phật như tượng thờ hoặc aœnh thờ và coi đó là hiện thân cuœa tất caœ những bậc đã giác ngộ. Trước caœnh quán chư Phật chư Bồ Tát hoặc các biểu tượng cuœa Đại Chúng, chúng ta có thể thiết trí các vật thực cúng dường—thanh tịnh thuœy, hoa, hương, đăng, ẩm thực và kỹ Nhạc—hoặc, chúng ta có thể tươœng tượng ra những vật chất ấy và quán tươœng cúng dường, thấy rằng các vật thể đều hoàn toàn thanh tịnh. Chúng ta cũng có thể cúng dường dăm ba miếng đầu tiên cuœa bất cứ món gì ta ăn, ta uống, cho tất caœ chư Phật và chư Bồ Tát với lời nguyện như sau:

 

Đaœnh lễ Phật Baœo, Vộ Thượng Thế Tôn,

Đaœnh lễ Pháp Baœo, Vô Thượng Hộ Niệm,

Đaœnh lễ Tăng Baœo, Vô Thượng Tri Hữu,

Đaœnh lễ Đại Chúng, Vô Thượng Đẳng Tam Baœo,

Đệ tưœ thành tâm cúng dường.

 

Sau khi đã cúng dường như thế, chúng ta có thể ngồi lại hươœng thọ ẩm thực. Chúng ta cũng có thể dùng nội tâm cúng dường những thú tiêu khiển cuœa trần thế, như trang viên và công viên, sơn thanh thuœy tú, muôn hoa, giang hà, ngọc ngà, vàng bạc và đuœ thứ món sơn hào haœi vị. Chúng ta nên xem tất caœ mọi món trần tục mà chúng sinh hữu tình đang hươœng thụ đều thanh tịnh, cúng dường tất caœ những món đó cho các bậc đã giác ngộ và tươœng tượng chư vị đều hoan hyœ thọ nhận. Một hình thức cúng dường khác nữa, là cúng dường Mạn Đà La (mandala), mà ta phaœi rán cúng một ngày ba lần, sáp nhập tất caœ các môn cúng dường vào một. Khi cúng dường ta có thể gợi lại lòng tốt cuœa chúng sinh hữu tình, hướng về họ mà phát lòng thương xót và cúng dường chư Phật chư Bồ Tát, thỉnh nguyện rằng muôn loài do đó mà được lợi ích. Bằng cách thực hành các phương pháp như chí tâm cúng dường Thánh Chúng và liên tục bố thí vì Từ Bi, việc tích trữ phước đức cuœa ta sẽ gia tăng và ước vọng tu chứng Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã sẽ tự nhiên chu toàn.

Đức Phật đã nói:

 

Những ai đã cụ túc phước đức

Có thể mãn nguyện mọi ước vọng

Nhờ loại trừ ác chứơng cuœa Ma Vương (Mara),

Họ dễ chứng đắc Thánh Giác quaœ vị.

 

Trước khi Chết, Huœy Lực được Thích Dụng

Vào việc Thực Hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã

 

Trong việc phát triển môn Luyện Tâm (Lojong) có caœ nội lẫn ngoại chướng. Nội chướng là chấp ngã, ngã ái, giaœi đãi, tà kiến cùng các mối mê muội khác, cũng như những tập khí (vasana) cuœa ác nghiệp tiền tạo. Ngoại chướng gồm có: chẳng tìm được minh sư dẫn dắt, không có cơ hội thực tập Dharma, chết yểu và thiếu những thứ cần thiết căn baœn cho sự sống.

Để thành đạt bất cứ tu chứng nào về Dharma, ta phaœi sưœ dụng Huœy Lực, sự ứng dụng tất caœ nỗ lực vào việc tiêu huœy nội và ngoại chướng, nhất là chướng ngại làm caœn trơœ những tu chứng chuyên biệt. Mỗi trình vị tu chứng đều có chướng ngại riêng. Chẳng hạn, thiếu tín tâm ơœ Thiện Tri Thức làm trơœ ngại sự thể hiện tin cậy Thiện Tri Thức, và chấp thân này là thường còn làm trơœ ngại sự nhận thức xác thân là vô thường.

Chúng ta thấy rất khó thực hành Đồng Đẳng và Ngã Hoán Caœi cũng tại vì tâm ái ngã cuœa chúng ta. Sân hận ăn sâu vào tận cỗi rễ tâm tư ta và ta thiếu Từ Bi và Từ Ái. Do đó, chúng ta thấy khó phát triển sự thể hiện Bồ Đề Tâm (Bodhichitta). Xu hướng nặng về tà kiến khiến cho ta khó giaœi Không và sự rối bời điên đaœo làm cho ta khó bước tới thanh tịnh đại định (ting nge ‘dzin). Để loại trừ những chướng ngại làm vỡ kế hoạch tu tập, chúng ta cần phaœi đem Huœy Lực ra ứng dụng. Để gặt hái và cuœng cố kinh nghiệm Bình Đẳng Tự và Tha Ngã, chúng ta phaœi thích dụng mọi nỗ lực kiên trì trong những phương pháp nhằm tẩy hóa ác nghiệp và giúp loại trừ tánh ngã ái.

Trước khi Chết, Nguyện Lực được Thích Dụng

Vào việc Thực Hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã

 

Chúng ta nên bắt đầu thực hành phép Luyện Tâm bằng những bài nguyện đặc biệt giúp vào việc thể chứng pháp môn đó và chúng ta nên kết thúc mỗi khóa thiền bằng cách hồi hướng công đức đã thâu lượm cho việc thể chứng pháp môn đó. Chẳng hạn, nếu chúng ta sắp sưœa quán Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã, chúng ta thỉnh cầu các đấng giác ngộ nhiều lần nhờ sức gia hộ vào việc tu chứng pháp môn đó. Sau khi hoàn tất thiền quán, chúng ta nguyện hồi hướng công đức vào việc thể chứng Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã. Chúng ta ứng dụng như thế đối với tất caœ khóa tu Luyện Tâm.

Nhờ thực hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã chung với Ngữ Lực, nhất định ta sẽ thành tựu những thể chứng thù thắng. Khi ta hiểu cách ứng dụng Ngũ Lực vào pháp môn quán Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã, ta cũng có thể ứng dụng chúng cho tất caœ pháp môn tu học khác.

Để tự cổ võ khi tu môn này, chúng ta nên xét trường hợp cuœa một vị sư thuộc phái Kadampa, Geshe Ben Gungyal, về sự thường niệm mà Ngài đã sưœ dụng khi quán Luyện Tâm. Từ sáng cho đến chiều tối, Ngài để ý theo dõi chặt chẽ chính tâm địa mình, kiểm xem các tư niệm dấy lên là thiện hay bất thiện. Nếu có ác ý nào khơœi lên, Ngài đặt một maœnh đá đen lên khoaœng đất trước mặt và khi nào tâm sinh thiện ý, Ngài để một viên đá trắng. Khi ngày đã mãn, Ngài gom đá lại đếm. Nếu đếm thấy nhiều đá trắng hơn đen, Ngài sẽ lung bàn tay mặt mãnh liệt, tán thán và tự xưng tụng bằng tước hiệu: “Ngài Giáo Sư” (Geshe). Tuy nhiên, khi nào đá đen chiếm ưu thế, Ngài sẽ tự sưœa phạt: “Đồ gian giaœo! Đồ vô dụng! Đồ lang băm! Thằng ta không sợ chết sao? Không phaœi thứ mặt dày mày dạn cớ sao tâm địa ngươi bất chánh?” Rồi thì Ngài tự yêu sách hứa không được tái phạm hành vi tư tươœng ác hại.

Nếu ta nghiêm chính muốn thuần hóa tâm buông lung cuœa mình và làm được điều gì đó có ý nghĩa cho đời mình, ta nên thực hành hạnh tu y như trên.

 

 

ỨNG DỤNG NGŨ LỰC LÚC LÂM CHUNG

Trong Chánh Văn có đề cập việc thực hành Ngũ Lực là phương pháp thiết yếu về chuyển thức đối với hành giaœ Đại Thừa. Đó là nói đến việc thực hành Ngũ Lực lúc chết. Pháp tu chánh cuœa hành giaœ Đại Thừa là phát triển lòng Từ bi, Bồ Đề Tâm và chánh kiến về tánh Không. Nếu những môn này được thực dụng cùng với Ngũ Lực lúc lâm chung, hành giaœ Đại Thừa sẽ có khaœ năng chuyển thức vãng sinh đến Tịnh Độ cuœa một vị Phật.

 

• Động Lực Thích Dụng Lúc Lâm Chung

Khi cái chết gần kề, ta cần phát triển một động lực đặc thù quyết định sẽ tái sinh ơœ đâu. Vào lúc đó, ta nên suy tư: “Để hộ niệm các loài hữu tình và giúp họ, ta sẽ vãng sinh về Tịnh Độ cuœa một Đức Phật”. Hoặc “Ta nguyện tái sinh làm người bẩm phú viên mãn”. Hoặc bất cứ điều gì ta đã quyết định. Với tâm niệm như thế, ta nên trì tâm Từ Bi và Từ Ái đối với người khác cho đến hơi thơœ cuối cùng. Nếu ta thành thật thực hành như thế, năng lực phát triển động cơ thù thắng như thế nhất định sẽ khiến ta tái sinh nơi ta nguyện ước. Vào kiếp kế ta sẽ thành tựu năng lực thù thắng hộ niệm muôn loài, phát Bồ Đề Tâm và chứng các pháp môn Đại Thừa khác.

 

• Tập Lực Thích Dụng Lúc Lâm Chung

Bất cứ trạng huống nào gây ra cái chết, hoặc là bị tai nạn hoặc bệnh hoạn, ta nên chuyển những thứ ấy thành nguyên do dẫn đến sự tu tập Thọ Nhận và Bố Thí và phát lòng Từ Bi, Từ Ái và Trí Tuệ Chứng Không. Khi cái chết sắp xaœy ra, thay vì để mặc sự đau đớn và các khó khăn khác làm trơœ ngại công tu, ta nên chuyển những thứ ấy thành nguyên do làm ta thêm quen thuộc với thiện ý như Từ Ái và Từ Bi và ta nên tiếp tục làm quen với những thiện ý đó cho đến lúc trút hơi thơœ cuối cùng. Được như thế, ta sẽ mang theo bộ môn Lojong sang kiếp kế đây mà không có chi suy thoái.

 

Bạch Chuœng Lực Thích Dụng Lúc Lâm Chung

Không ai biết lúc nào mình sẽ chết, để chuẩn bị cho các đời vị lai, ta phaœi tu tập nhiều món thiện hạnh. Khi có điềm triệu cái chết sắp đến, ta nên chuyên tâm cố gắng tăng gia việc tích trữ công đức và tịnh hóa ác nghiệp bằng cách tu trì sáu phép Tư Lương và cúng dường chư Phật và chư Bồ Tát.

Khi ta gần trút hơi thơœ, ta không nên lo ngại về các vật sơœ hữu phaœi boœ lại phía sau, mà nên như khách du lịch đi nghỉ hè caœm thấy vui thích, không có chi vướng bận với đồ đạc boœ lại nhà. Trong lúc vẫn còn kịp, ta nên dùng cơ hội đó để thâu lượm công đức bằng cách phân phát cuœa caœi. Ta nên dùng tiền bạc và tài saœn để thâu lượm công đức bằng cách cúng dường đoàn thể Tăng Già và các cơ quan từ thiện và dùng vào việc chẩn tế. Làm như thế, ta sẽ không còn trìu mến mắc dính cuœa caœi vật chất lúc chết.

Vài người bị trói buộc dính cứng vào xác thân họ và rất sợ phaœi rời boœ nó. Nếu, ngoài những ác nghiệp chồng chất, ta còn trước chặt cái thân này lúc chết, ta sẽ có cơ tái sinh vào đường dữ.

Vào thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, có lần người ta thấy thi thể một người đàn bà nằm trên bờ biển và trong đầu bà ta có một con trùng lớn. Thỉnh thoaœng con trùng chui ra khoœi một lỗ mũi, rồi lại chui trơœ vào lỗ bên kia. Con trùng không lìa xác chết một maœy, vì nó không muốn rời boœ tổ ấm. Vài người cố dời nó khoœi xác chết, nhưng nó vẫn chai lì tìm về. Thái độ quái dị cuœa con trùng làm ngơ ngẩn nhiều người, vì thế họ tìm đến Đức Phật nhờ giaœi chỗ khó hiểu. Đức Phật giaœng giaœi rằng người đàn bà nằm chết trên bờ biển đó, trước đây đã tạo nghiệp ác và nay bị quaœ báo tái sinh làm con trùng. Thêm vào đó, lúc chết bà ta luyến tiếc sợ lìa xác thân, chính vì thế bà ta tái sinh làm con trùng trơœ về ơœ xác cũ. Đoạn, Đức Phật dạy cho những người tìm đến về sự quan hệ giữa Nghiệp và Quaœ và khuyên họ nên lìa boœ chấp trước thân xác lúc chết.

Một ví dụ điển hình khác có liên quan đến một người đàn ông sống gần tu viện đầu tiên cuœa tôi ơœ Tây Tạng. Anh ta dành dụm được một số đồng tiền bạc và để baœo tồn, anh ta đem giấu tất caœ trong một ấm chè. Về sau anh ta bị chứng đột quỵ làm đớ lưỡi. Lúc nằm dài chờ chết, anh ta cứ thều thào mãi tiếng “ấm chè” với người đồng bạn, người này lại hiểu lầm là anh ta muốn một tách chè và không nghĩ gì về nó nữa. Sau khi anh ta chết, nhà cửa bị đem bán, còn cuœa caœi taœn mác. Người ta tìm thấy ấm chè cuœa anh ta, bên trong có những đồng tiền bạc mà anh ta đã giấu, nhưng cũng có một con rắn nhoœ nằm cuộn giữa các đồng tiền. Người ta đập vỡ ấm chè bằng đất sét và rán dời con rắn đi, nhưng nó trơœ nên hung hăng lồng lộn và chống cự dữ dội không muốn lìa các đồng tiền. Có một vị Lạt Ma vĩ đại có thần thông đã giaœi nghĩa cho mọi người hiểu con rắn đó chính là hậu thân cuœa người chuœ các đồng tiền. Người đồng bạn hầu cận bên người đàn ông sắp chết lúc đó mới vỡ lẽ lý do vì sao anh ta cứ đòi ấm chè.

Trước khi chúng ta lìa đời, rất quan yếu để dùng cuœa caœi vào việc tích trữ công đức bằng cách cúng dường Thánh Chúng và đoàn thể Tăng Già và thực hành bố thí những keœ nghèo khó. Cũng rất thiết yếu cố loại trừ mọi tham đắm cuœa caœi vật chất, nhất là luyến tiếc baœn thân. Làm như thế, ta mới có thể ra đi với một tâm trạng an lành. Đó là cách thích dụng Bạch Chuœng Lực vào việc chuẩn bị cho giờ phút lâm chung.

 

• Huœy Lực Thích Dụng Lúc Lâm Chung

Chướng ngại chính làm ta không được vãng sinh về Tịnh Độ cuœa một Đức Phật , như Keajra, Tịnh Độ cuœa Vajrayogini (Phạt Chiết La Du Già Ni), hoặc Sukhavati, Tịnh Độ cuœa Amitabha (A Di Đà), hoặc vào cõi Người, đều là do ngu si mê muội lúc lâm chung. Ác nghiệp tiền tạo cũng khiến ta không được sinh vào những cõi giới cao quý. Do đó, ta phaœi thanh tẩy những bất thiện nghiệp trước khi chết, và vào lúc lâm chung, phaœi cậy vào những phép tu đối trị si mê lầm lạc. Lúc đó là lúc rất thiết yếu phaœi ngăn chặn mọi lậu phiền não, như sân hận, ganh ghét và chấp trước đừng cho dấy lên và rán giữ cho tâm được an vui tịch tĩnh.

 

• Nguyện Lực Thích Dụng Lúc Lâm Chung

Khi ta nhận ra điềm triệu báo chết, ta nên bày toœ ý nguyện qua việc cầu thỉnh và hồi hướng tới tất caœ chư Phật, chư Bồ Tát cùng toàn thể Thánh Chúng. Chúng ta quán tươœng chư Phật, chư Bồ Tát cùng toàn thể Thánh Chúng trên không gian trước mặt và với caœ tín tâm rộng lớn, liên tục cầu thỉnh như sau:

 

Xin được ban sự gia hộ đặng con được tái sinh nơi cao quý hoặc đến Tịnh Độ cuœa một Đức Phật hoặc được sinh vào caœnh Người. Nhờ liên tục hành trì môn Luyện Tâm, nguyện cho con sớm chứng quaœ vị Phật.

 

Nếu hành vi tư tươœng ta luôn luôn ác lậu, thật không có chi rất đặc biệt để đáng gọi là Người, mặc dù ta có thân xác cuœa một con người, nhưng hành vi cưœ chỉ cuœa ta không khác chi cách cư xưœ cuœa loài thú. Như Shantideva đã nói, không chấp nhận quan điểm một người có thể sống lâu nếu người đó chỉ tạo những nghiệp bất chánh. Một con người như thế không thể ý thức rõ ràng ý nghĩa làm người. Vì thế, khi cầu cho được sinh với nhân tướng, chúng ta phaœi cầu tướng có đuœ baœy đức tính tốt: (1) Địa vị cao, (2) Có tướng mạo đẹp mắt, (3) Vô cùng giàu có, (4) Rất có quyền lực, (5) Đại Trí Tuệ, (6) Mạnh khoœe dồi dào, (7) Trường thọ.

Có thân người có đuœ baœy đặc điểm trên, nhất là Trí Tuệ, chúng ta mới có thể hành trì Dharma. Khi chết, nếu ta cầu nguyện được sinh ra có thân người và quán niệm ước vọng này suốt quá trình lìa đời, dứt khoát ta sẽ được sinh làm người có thiên tư viên mãn. Vô số nghiệp mà ta đã tạo, thiện, ác và vô ký đã để lại huân tập (xông ướp) trong tâm ta. Vào lúc lâm chung, chúng ta cầu chư Phật đáp ứng mọi nguyện vọng, khuynh hướng do thiện hạnh để lại sẽ chín muồi, làm cho chúng ta tái sinh làm người có đuœ thiên tư hoặc được tái sinh vào caœnh giới chư Thiên. Vì lẽ đó, rất thiết yếu phaœi trau giồi thiện ý tích cực vào lúc lâm chung.

Chúng ta phaœi chuẩn bị cho các đời sau. Cũng y như suốt caœ đời ta dầu khi còn treœ hay lúc về già, ta đều muốn sung sướng, ta cũng phaœi cầu cho được sung sướng trong các đời sau. Khoaœng thời gian các đời vị lai thì vô cùng lâu dài so với khoaœng đời hiện tại. Sự kiện làm cho thấy các đời vị lai cuœa ta còn quan trọng hơn caœ cuộc đời hiện tại. Chúng ta không nên nhận định rằng đời tương lai là viển vông xa vời. Chúng ta có thể thấy mình sắp sưœa bước sang thế giới khác ngày hôm nay. Nếu chúng ta chắc bụng rằng thế giới bên kia là chuyện rất xa vời chưa đến, làm thế chúng ta sẽ trơœ nên thaœnh thơi và vô tư lự, nhưng ngày nào trong đời chúng ta cũng nghe có người chết bất đắc kỳ tưœ, nào là đau tim, các chứng đột quỵ, tai nạn xe cộ, vân vân. Đời người rất bấp bênh.

Nhận thức được tầm quan trọng cuœa các kiếp sắp đến, chúng ta nên ứng dụng Ngũ Lực vào lúc lìa đời. Không có kinh nghiệm Dharma trước, điều này rất khó khăn. Vì lẽ đó, từ nay trơœ đi chúng ta phaœi hoàn toàn quen thuộc với việc tu tập Dharma và tạo các thiện nghiệp ngõ hầu chúng ta có thể biến cái chết thành con đường tu hành.

 

 

 

Trở về trang Mục Lục của 7 Ðiểm Luyện Tâm