BUDDHA HOME

 PHẬT PHÁP

 

 

CHUYỂN NGHỊCH C NH THÀNH ĐẠO GIÁC

 

Trong đời ngũ trược ác thế, nghịch chướng đầy dẫy, do đó chúng ta cần có phương kế chuyển nan tình thành nhân duyên vào đạo hầu mang lại thanh tịnh an vui. Trừ phi ta chuyển hóa những nghịch caœnh, sẽ vô cùng khó khăn để duy trì sự an bình trong tâm rất cần thiết để hoàn tất việc tu học. Có nhiều tình caœnh, thuận lợi và bất thuận lợi, có thể làm trơœ ngại và xen vào việc tu học cuœa ta. Chẳng hạn, có người hết dạ hành trì Dharma bỗng nhiên trơœ nên giầu có, hoàn toàn bị chuyện đời chi phối và không còn thiết tha gì với đạo pháp nữa. Những chướng ngại như thế có thể va phaœi bơœi cá nhân hay cộng đồng tu học.

Thoạt tiên, mặc dù đoàn thể tăng già có thể rất nghèo, các vị tăng đều hoan hyœ tu học và chung sống trong bình an và dung hòa. Về sau, khi cộng đồng tu học trơœ nên khấm khá, các vị tăng thấy mình bận rộn đuœ thứ và bị việc đời chi phối, thế là việc tu học thuần khiết mau chóng suy đồi. Đàng này cuœa caœi gây khó khăn nếu không dùng làm trợ duyên tấn tu, còn đàng nọ nếu thiếu tài chính và tiện nghi cũng gây trơœ ngại cho tăng đoàn và cá thể. Túng thiếu vất vaœ làm thối chí ngã lòng và làm mọi người boœ hẳn hành trì Dharma. Vì những nguy cơ đó, chúng ta đừng bao giờ để vấn đề vật chất xen vào hành trì tâm linh. Chúng ta cần phaœi chuyển hóa bất cứ tình caœnh nào ta đương đầu, dầu tốt hay xấu, thành con đường tu học bằng cách chuyển tất caœ mọi hành động vào hướng thiện lợi. Lối tu này vô cùng trọng yếu. Những ai đạt được thắng lợi lối đó sẽ không bao giờ phaœi kinh qua bồn chồn lo lắng hoặc naœn chí, mà sẽ có thể an trụ tịch tĩnh dưới mọi trạng huống.

Có hai cách chuyển nghịch caœnh thành đạo Giác Ngộ:

1. Chuyển nghịch caœnh thành con đường tu bằng cách chọn một hệ tươœng đặc thù

2. Chuyển nghịch caœnh thành con đường tu qua việc thực hành các dự bị

 

CHUYỂN NGHỊCH CAŒNH THÀNH TU ĐẠO BẰNG CÁCH CHỌN MỘT HỆ TƯƠŒNG ĐẶC THÙ

 

[Khi cái Bao Dung và Nội Dung tràn đầy Ác Pháp,

Chuyển Nghịch Caœnh thành Giác Đạo.

Áp dụng Thiền Quán dưới mọi caœnh huống khi gặp.]

 

“Cái Bao Dung” là tham chiếu thế giới, và “Nội Dung” là chỉ sinh vật lưu trú trong nó. Hàng chữ: “Khi cái bao dung và nội dung tràn đầy ác pháp”, có ý nói thế giới và cư dân tràn đầy quaœ báo cuœa ác nghiệp, nghịch caœnh và phiền não. Nếu xứ nào bị đại nạn, như hồng thuœy hay địa chấn, gây ra biết bao khổ nạn, xứ ấy được xem như tràn đầy nghiệp quaœ ác báo bơœi vì khổ nạn xaœy ra là ác báo cuœa cộng nghiệp do cư dân nơi đó làm ra. Điều này không khác đối với các tệ caœnh khác trên thế giới. Nạn đói, hạn hán, vân vân, đều là quaœ cuœa ác nghiệp do những người hiện bị nạn chung lưng tạo ra. Nếu gia đình ta gặp nhiều tai ruœi, như cháy nhà hay những dự định ôm ấp bao đời chưa được đáp ứng, đều là do ác nghiệp mà chúng ta đã tổng tạo trong quá khứ. Nếu ta phát cơn bệnh trầm kha, hay gặp những vấn đề rắc rối đau đầu, hay vô cùng bất hạnh, coi như ta bị “lấp” đầy quaœ chín cuœa mầm ác gieo trong quá khứ. Một cách tương tợ, khi ta bị tổn thất hay sa sút tiền tài danh vọng, đó là chúng ta đang traœ quaœ làm nghiệp ác. Đây là lúc ta phaœi chuyển những thời cùng mạt tận thành con đường đạo pháp. Dù ơœ hoàn caœnh thuận hay nghịch, chúng ta áp dụng các phép thiền thích dụng, chẳng hạn như Quán từ bi, Bồ Đề Tâm và phép Thọ Chịu và Bố Thí.

Có hai cách chuyển nghịch caœnh thành tu đạo bằng cách chọn một hệ tươœng đặc thù:

1. Chuyển nghịch caœnh thành tu đạo bằng Phương Tiện

2. Chuyển nghịch caœnh thành tu đạo bằng Trí Tuệ

 

 

Chuyển Nghịch Caœnh thành Tu Đạo bằng Phương Tiện

Để chuyển nghịch caœnh bằng phương tiện, ta nên đổi thái độ đối với tai ương bằng cách hồi tươœng giáo lý về phương tiện. Chẳng hạn, khi tình hình đen đuœi làm ta nhuốm bệnh, nghèo túng, bạn bè hất huœi hay gặp tai nạn kinh khiếp, khi mà chúng ta bị boœ lơ, huœy báng, hay hành hạ thân thể, khi chúng ta bị đau đớn tâm can, buồn rầu, vân vân, chúng ta nên nhớ lại giáo lý Karma và lập tức nhận biết những caœnh gian khổ đó là do ác báo cuœa tiền nghiệp. Ta rán học hoœi từ trong nghịch caœnh và suy tư: “Nay ta phaœi chịu những tai ương như thế là nhắc cho ta nhớ: nếu ta muốn thoát khổ quaœ, ta phaœi lo thanh tẩy những nghiệp ác tiền tạo. Chính những bất hạnh này đã khuyến khích ta phaœi thanh tẩy ác pháp”. Kế đó, chúng ta áp dụng một trong những phương pháp giúp thanh tẩy nghiệp ác. Làm vậy, nghịch caœnh thay vì toàn gây tai ương, sẽ như là phương tiện để ta nới rộng đường tu trì.

Chúng ta cũng nên nhận thức rằng tất caœ những nghịch caœnh và khổ não mà ta traœi qua xaœy đến vì ta còn chìm đắm trong samsara (luân hồi). Nếu ta không bị sinh tưœ luân hồi, không có cớ gì ta phaœi chịu khổ. Khi khổ não trờ tới, chúng ta nên quan niệm đấy là bài học về sự độc hại cuœa Samsara, vì thế khuyên ta tìm đường giaœi thoát. Chẳng hạn, khi đau yếu ta nên suy nghĩ: “Vì ta bị luân hồi đọa lạc, nên ta bị bệnh. Ta phaœi tìm cách thoát khoœi Samsara càng sớm càng tốt”. Theo cách đó, chúng ta phát nguyện vũ bão quyết được giaœi thoát. Hễ còn chìm đắm trong sinh tưœ luân hồi, chúng ta vẫn còn bị bệnh, lão và tưœ, vì baœn chất cuœa luân hồi là khổ. Vì thế, khi nào khổ phát hiển chúng ta dùng nó làm động cơ lìa thoát vòng sinh tưœ. Sự quyết tâm giaœi thoát sinh tưœ luân hồi là ly thế. Sau khi chúng ta đã phát tâm ly thế, chúng ta bước vào tu đạo dẫn đến Giaœi Thoát.

ƠŒ những xứ nhiệt đới, vào mùa nóng, nhiều người dọn tới những vùng mát hơn để tránh nhiệt. Tương tợ như thế, khi thân tâm ta bị khổ vì Samsara, chúng ta phaœi phát nguyện vượt thoát Samsara. Nếu chúng ta dùng khổ để phát triển và củng cố tâm ly thế, khổ sẽ là nhà chỉ giáo lịch duyệt và là cớ để chứng tu. Bằng cách đó, chúng ta càng có cơ giaœm khinh đau đớn vì sự chú tâm đã rẽ sang giòng tích cực suy tươœng. Một vài hành giaœ thiện xaœo trong việc chuyển nghịch caœnh thành tu đạo cho đến nỗi họ lại còn hy vọng khổ đau cứ gia tăng để việc tu học càng toàn haœo.

Chỉ có tu tập Dharma, chúng ta mới có thể biến những tư duy như thế theo chiều lối tích cực. Những ai chưa kinh qua Dharma, gặp đại nạn chỉ có nước ngồi rầu, chán naœn, rồi đi tìm bạn bè an uœi. Tuy nhiên, nếu có Trí tuệ Dharma, khó khăn gian khổ trơœ thành những nguyên do để ly thế và những thiện ý. Thực ra, nếu chúng ta không gặp nghịch caœnh nào, chưa chắc chúng ta sẽ sinh tâm ly thế, bơœi vì rất khó tiến triển khát vọng tự do cho những ai đang sống trong vòng kiềm toœa cuœa lạc thú.

Chúng ta cũng có thể dùng nghịch caœnh làm phương cách tăng lớn lòng thương xót keœ khác. Khi ta đương đầu với khó khăn, ta phaœi nghĩ đến vô lượng chúng sinh đang chịu mọi thứ khổ, thường là đau đớn trầm trọng hơn cái khổ cuœa ta rất nhiều. Nghĩ như thế, caœm nghiệm khổ đau cuœa ta sẽ làm Từ Bi, ước nguyện cho chúng sinh hết khổ, trổi lên trong tim.

Khi sức từ bi tăng lên nó sẽ khiến ta muốn làm gì đó để cho chúng sinh thoát khổ. Về phương diện này, chúng ta có thể dùng pháp Thọ Chịu và Bố Thí. Chúng ta bắt đầu bằng cách quán tươœng vô số chúng sinh bệnh khổ vây bọc ta, với lòng Đại Từ Bi, chúng ta nhất quyết gánh hết khổ bệnh cuœa họ một cách hân hoan và sẵn lòng. Đoạn, chúng ta tham quán về Thọ Chịu và Bố Thí như đã dẫn giaœi. Làm vậy vừa giúp ta tinh luyện Đại Từ Bi vừa là cách phòng bệnh bơœi vì phát bi nguyện thọ nhận khổ đau cuœa keœ khác sẽ giúp ta thanh tẩy ác nghiệp gây ra não bệnh.

Khi Bồ Tát sơ địa caœm nghiệm chỉ một manh mún khổ, vậy mà khai mơœ lòng Bi như haœi đối với hữu tình bơœi vì Bồ Tát thấy nỗi khổ cuœa chúng sinh cũng chính là nỗi khổ cuœa mình. Chư Thiên ơœ Sắc Giới và Vô Sắc Giới thấy rất khó thương xót ai mẫn đến hữu tình ơœ Dục Giới vì chính họ không có sự phát hiển cuœa thọ khổ. Cũng vì lý do đó, chư Thiên thấy rất khó phát triển tâm Xuất Ly. Loài người hữu hạnh hơn loài Trời bơœi vì gian khổ trần lao có thể giúp ta phát triển Đại Từ Bi và Tâm Ly Thế. Gia dĩ, ta có thể dùng mọi thuận thế vào việc đào luyện những đức tính tốt, chẳng hạn như lòng kham nhẫn, từ ái và Bồ Đề Tâm (Bodhichitta).

Như Shantideva đã nói trong “Chỉ Nam Bồ Tát Đạo”:

 

Phiền não có đức tính tốt.

Bơœi vì khổ đau ê chề, cống cao ngã mạn bị xua tan,

Lòng Bi phổ cập đến chúng sinh lặn ngụp trong bể khổ đã có dịp khơi dậy

Ác đã lánh, hyœ đã đặng.

 

Một người thành thật tu trì phép chuyển hóa nghịch caœnh sẽ thấy nghịch caœnh tai ương có nhiều tánh tốt, bơœi cớ đó người nam hay người nữ đó sẽ luôn luôn được an tĩnh và dõng mãnh.

 

Chuyển Nghịch Caœnh thành Tu Đạo bằng Trí Tuệ

Để chuyển nghịch caœnh thành tu đạo nhờ vào Trí Tuệ, ta phaœi nhớ lại Trí Tuệ đắc Không. Mỗi khi đương đầu với khổ caœnh hoặc gian khổ, chúng ta phaœi nhớ rằng caœ ba: Năng khổ, Sự khổ nghiệm, và caœnh sơœ khổ hay caœnh gây khổ đều không có Tự tánh. Tyœ dụ như ta lâm bệnh, ta hãy nhớ rằng chính ta, khổ nghiệm cuœa bệnh và con bệnh đều hoàn toàn trống rỗng tự tánh. Đoạn, ta tập trung tư tươœng đơn điểm quán Không càng lâu càng tốt. Lối tu trì này giúp tăng phát Huệ và giaœm thiểu gian khổ, ngã lòng. Gia công quán suốt, cuối cùng ta sẽ trực tiếp chứng Không và thế là hoàn toàn loại trừ mọi căn cơ khổ đau.

Tất caœ mọi nghịch caœnh đều là do vọng niệm gán lên các hoàn caœnh là “nghịch”. Nghịch caœnh không có tự tánh. Khi ta đã hiểu điều đó một cách vững chắc, khó khăn ta gặp phaœi không còn làm ta băn khoăn, thất vọng, hay làm trơœ ngại việc tu học. Để tự cổ võ công việc tu học, ta có thể xét trường hợp cuœa hai người có đồng một thứ bệnh nhưng lại có phaœn ứng dị đồng. Người thì khaœ dĩ chuyển khổ não thành tu tập tích cực, caœm thấy an vui ngay caœ khi bị đau nặng và thái độ này có thể giúp anh ta bình phục. Còn người kia, vì không thể chuyển bệnh thành tu tập tâm linh, caœm thấy suy nhược, lo âu, và thái độ này có thể làm tình hình càng trầm trọng thêm.

 

 

CHUYỂN NGHỊCH CAŒNH THÀNH TU ĐẠO

QUA VIỆC THỰC HÀNH CÁC ĐIỀU DỰ BỊ

 

[Áp Dụng Bốn Món Dự Bị là Phương Pháp Vô Thượng.]

 

Việc tu hành Bốn Điều Dự Bị là phương pháp vô thượng để chuyển nghịch caœnh thành con đường tu hành. Bốn Điều Dự Bị là:

1. Dự Bị tích trữ Công Đức

2. Dự Bị tịnh hóa Ác Nghiệp

3. Dự Bị thí thực Chướng Ma

4. Dự Bị cúng dường Hộ Pháp

 

• Dự Bị Tích Trữ Công Đức

Khi ta bị họa hoạn hoặc bệnh hoạn hãy nhận thức rằng đây là quaœ báo nghiệp ác, hay tại ta thiếu công đức. Vì ta không muốn những caœm nghiệm như thế xaœy ra trong tương lai, ta phaœi nỗ lực kiểu chính lỗi lầm. Giaœ sưœ thân mạng này trường tồn bất tận, ta đâu cần bận tâm về sự kiến hiệu cuœa nghiệp ác, nhưng trên thực tế, cái chết có thể xaœy ra vào bất cứ lúc nào — ngày mai, hay không chừng bữa nay. Vì lẽ ấy, gặp tai họa sẽ lập tức thúc bách ta lo tu tâm tích đức. Khi nào ta hạ thuœ công phu nhớ cúng dường chư Phật chư Bồ Tát cùng toàn thể Thánh Chúng và cầu sức phù trợ.

Phương pháp tốt nhất để tích đức là dùng caœ Thân lẫn Ngữ làm thích ý Thiện Tri Thức. Một nguồn công đức tối thắng khác là trông nom và cung dưỡng vật phẩm cho từ thân. Ngoài những cách thức đó, còn có nhiều lối khác để tích trữ công đức, bao gồm cứu sống người bị nạn, bố thí keœ nghèo khó, tô vẽ aœnh thờ hoặc tạc tượng Phật, thính Pháp, sao chép thích chú Kinh, khuyến đạo và giaœng giáo, quán tươœng các Sắc thân Phật, phát triển Đại Từ Bi và Bồ Đề Tâm (Bodhichitta), thực hành Thọ Nhận và Bố Thí, lạy nằm sấp với caœ tín tâm, tôn kính người khác, nhất là thầy sư và từ thân, phụng sự người khác, cố kiềm chế sân hận, làm người khác sung sướng, niệm trì chánh kiến và có nguyện vọng tốt, khơœi tín nơi Phật, Pháp và Tăng và mừng giùm hạnh quaœ cuœa người khác. Ta tích lũy công đức khi nào ta cố tìm đuœ mọi cách giúp đỡ người khác. Để nhơn lên sự tích tụ công đức, ta phaœi luôn luôn hồi hướng thiện hạnh để làm lợi ích cho chúng sinh.

Nếu vì nghèo, chúng ta không nên buồn rầu, thay vì như thế ta phaœi không ngừng nỗ lực để có một nội tâm thực phong phú nhờ các chứng tu, vì đây chính là nguồn tài nguyên mang lại hạnh phúc an vui. Có tâm tri túc, ta sẽ được vui sướng dầu rằng ta nghèo; có tâm bất thoœa, dù giàu có cách mấy, ta vẫn còn ưu phiền. Rất quan yếu để hiểu rằng lạc hay bất lạc đều tùy tâm. Khi gặp phaœi chuyện vô phước, ta nên xem đấy là cố vấn sáng suốt và dùng nó làm phương tiện tích đức. Thế thì dù cho nghèo mạt rệp ta vẫn có thể tu hành chứng quaœ, nhưng không có thái độ như thế, ta sẽ thường xuyên lo rầu về sự túng thiếu đuœ thứ.

Có nhiều cung cách, theo đó nghịch caœnh có thể khiến ta lo tu tâm tích đức. Cái chết cuœa thân sinh hay cuœa một người bạn có thể là cớ để ta quan tâm đến Đạo pháp. Khi Gampopa còn treœ, Ngài và vợ Ngài hết lòng tận tụy vì nhau. Vài năm sau vợ Ngài chết và Gampopa đau đớn khôn xiết. Chạm trán với thực tế cuœa chết và vô thường, Ngài thấy suốt sự tổn hại cuœa Luân hồi và lên đường tìm cầu Pháp sư dạy đạo thoát khổ. Bằng cách theo học những bậc thầy cao quý như Geshe Jayulwa và Milarepa, cuối cùng Ngài chứng đắc giaœi thoát. Đối với Gampopa, bể sầu chính là đích duyên để Ngài bước vào đường đạo. Caœm nghiệm này không độc nhất với Gampopa mà có thể xaœy đến với bất cứ một ai trong chúng ta. Lúc nào ta cũng nên chuẩn bị đương đầu với khó khăn. Như đã giaœi thích, nếu không bao giờ bị khó khăn, ta sẽ không bao giờ đi đến quyết định chuyên tâm tu hành.

 

• Dự Bị Tịnh Hóa Ác Nghiệp

Vì kinh nghiệm những caœnh trái ý là kết quaœ cuœa nghiệp ác, để tránh khổ chúng ta cần phaœi thanh tẩy ác nghiệp gây ra nó. Chính sự dấy khơœi cuœa khổ làm ta nhớ nguyên nhân gây ra nó, ác nghiệp cuœa chính ta. Một khi đã hiểu hiện khổ là quaœ cuœa ác nghiệp, ta phaœi tránh tạo những bất thiện nghiệp tích trữ thêm mầm ác cho quaœ khổ ơœ tương lai. Thêm vào đó, ta phaœi thanh tẩy nghiệp ác đã tạo. Ta không biết bất thiện nghiệp nào đã phạm trong quá khứ thì ta cũng không biết quaœ khổ nào sắp chịu nếu ta không hành phép tẩy hóa. Hoàn caœnh càng khó khăn chừng nào, ta càng nên phấn khơœi chừng nấy mà lo thanh tịnh hóa. Làm như thế, chúng ta chuyển các khó khăn thành những thiện đạo.

Nếu mái nhà ta bị dột và nước mưa đang nhoœ qua trần nhà, chúng ta không thể ngồi không khoanh tay mà phaœi đi tìm chỗ dột và trám lại. Tương trợ như thế, khi ta bị khổ, ta phaœi đi tìm nguyên nhân cuœa khổ, đó là bất thiện nghiệp, và dùng phương cứu chữa, đó là phép tịnh hóa. Thay vì lo lắng bồn chồn vì cái khổ, chúng ta nên áp dụng sự hóa giaœi. Đó là dự bị tịnh hóa ác nghiệp.

Tịnh hóa bất thiện nghiệp giúp ta giaœi quyết các vấn đề và làm tăng triển các hạnh quaœ. Các lễ tẩy thuần thành hằng nhật qua một thời gian lâu có thể tẩy sạch ngay caœ ác nghiệp nào nặng nhất. Thanh tẩy sút kém chỉ phần nào tẩy đi ác nghiệp và một lượng nhoœ tẩy hóa sẽ ngăn được nghiệp lực làm ác. Vì lẽ đó, bất cứ mực độ thanh tẩy nào cũng vô cùng lợi ích.

Cường độ tẩy hóa còn tùy vào cách áp dụng Bốn Đối Lực. Nếu chúng được áp dụng đều đặn và đầy nhiệt tâm, sự tịnh hóa sẽ trơœ nên công hiệu. Nếu kém nhiệt tâm, sự tịnh hóa sẽ kém đi hiệu lực.

 

Bốn Đối Lực là:

1. Lực Hối

2. Lực Tín Nhiệm

3. Lực Phổ Khưœ

4. Lực Hứa Hối

 

Lực Hối

Khi ta đã xem xét kỹ lưỡng sự độc hiểm cuœa ác nghiệp, ta sẽ thành tâm phát hối vì đã tạo ác. Nếu ta nuốt một giọt độc dược nhoœ nhất, ta kinh hãi vì sự công hiệu tiềm tàng, nhưng hiệu quaœ cuœa ác nghiệp đã tạo đáng làm cho ta kinh hãi vượt bực. Thuốc độc ngoài đời có thể làm cho ta bệnh hoặc chết, nhưng nó chỉ hại được một đời người. Thuốc độc nội tâm do ác nghiệp tạo tác lại càng đáng sợ bội lần, bơœi vì nó sẽ hại nhiều đời sắp tới cuœa ta. Vì loại độc dược này đã sẵn có trong người chúng ta, cho nên chúng ta có lý do chính đáng để kinh sợ. Nếu ta thực tâm ân hận về nghiệp dữ đã tạo, ấy được gọi là Lực Hối. Với lòng thành caœi hối, ta sẽ không tái tạo nghiệp dữ như thế. Không có Hối, không những ta không tẩy xóa được nghiệp dữ mà còn có cơ tái phạm nhiều lần. Ta càng thấy Hối vì nghiệp dữ, sự tịnh hóa cuœa ta càng có hiệu quaœ.

 

Lực Tín Nhiệm

Có hai đối tượng chính cho nghiệp dữ ta tạo, chúng sinh hữu tình và Ngôi Tam Baœo (dkon mchog gsum). Phần nhiều nghiệp dữ ta làm có đối tượng là chúng sinh. Do Tham, Sân, Si thúc đẩy, ta giết chóc, cướp bóc, nói dóc, vân vân. Do mê muội xui khiến ta còn tác tệ nghiệp cho đến những bậc cao minh như chư Phật, chư Bồ Tác và chư Thiện Tri Thức. Đôi khi, do tà kiến làm động cơ, ta đã tạo trọng nghiệp bằng cách từ boœ Dharma, chối không có người đắc đạo hoặc toœ thái độ bất kính đối với Tăng già (Sangha). Để tẩy hóa những nghiệp dữ như thế, ta phaœi hành trì Lực Tín Nhiệm. Tín nhiệm nơi Tam Baœo, chúng ta quy y và tín nhiệm nơi chúng sinh hữu tình, chúng ta phát Từ Bi và Bồ Đề Tâm. Càng chí tâm quy y Tam Baœo, ta càng phát lòng Từ Bi bao la đối với hết thaœy chúng sinh và việc ta tịnh hóa các ác nghiệp càng trơœ nên có công hiệu.

 

Lực Phổ Khưœ

Đối lực thứ ba là phổ khưœ thực giaœi độc nghiệp. Bất cứ thiện nghiệp nào làm ra vì hối tiếc nghiệp lậu đã tạo và ước nguyện tẩy hóa chúng thành thuốc giaœi độc nghiệp được gọi là Lực Phổ Khưœ. Các thiện nghiệp này có thể bao gồm: lạy nằm sấp trên đất, niệm danh hiệu chư Phật, tụng Chân Ngôn (Mantra), tụng Kinh Phật, quán Không và cúng dường Tam Baœo (dkon mchog gsum). Chúng ta có thể thực hành bố thí, cấu trúc, sơn phết hoặc sưœa chữa tượng thờ, lễ bái các Guru và Ngôi Tam Baœo, trì giữ Giới Luật, vân vân.

 

Lực Hứa Hối

Đối lực thứ tư là sự nguyện hứa không tạo ác nghiệp nữa. Không có nguyện hứa, việc ứng dụng Bốn Đối Lực không được chu toàn và không tẩy được bất thiện pháp quá khứ. Có nhiều cấp bậc để áp dụng đối lực này. Có một số nghiệp ác, ta có thể dứt boœ hẳn và có thể tiện dụng hứa không bao giờ tái phạm nữa khoaœng đời còn lại. Có một số nghiệp không dễ gì dứt boœ vì thế ta phaœi hứa boœ được bao lâu càng tốt, có thể trong vài năm, một năm, tháng hay ngay caœ chỉ được một ngày. Khi tổng tịnh hóa các dữ nghiệp, ta phaœi hứa không tạo bất cứ ác nghiệp nào nữa trong ít nhất là một ngày, hoặc lâu hơn nếu có thể.

Nói tóm lại, để bắt vào việc thực tập Bốn Đối Lực, trước tiên ta phaœi tri nhận là đời này và các đời trước ta đã tạo biết bao bất thiện nghiệp. Những nghiệp này sẽ báo khổ đời này, làm cho các ước nguyện cuœa ta không được thoœa mãn và làm cho ta đọa vào ba ác đạo trong những kiếp sắp đến. Quán xét như thế, ta sẽ thấy hối và sợ tạo thêm nghiệp. Nhiên hậu, ta sẽ quán tươœng tất caœ chư Phật, chư Bồ Tát cùng toàn thể Thánh Chúng trong không gian phía trước ta, và với lòng tin trọn vẹn nơi oai lực hộ niệm cuœa chư vị, chúng ta tụng bài Quy Y. Rồi chúng ta áp dụng Lực Phổ Khưœ bằng cách gia công hành thiện, chẳng hạn như lạy nằm sấp trên đất hoặc tụng các Chân Ngôn (Mantra). Ta phaœi hứa không được tái phạm các hành vi tác hại trong một thời hạn và kết thúc bằng hồi hướng: “Nhờ thiện hạnh tôi đã làm, cầu cho tất caœ chúng sinh, gồm caœ tôi, đều hoàn toàn xa lìa ác nghiệp”. Nếu ta hành trì như thế mỗi ngày, dứt khoát ta sẽ tịnh được các ác nghiệp.

Để đắc các quaœ vị, chỉ có thiền quán thì khiếm khuyết, dầu cho ta có dụng công gia trì cách mấy. Vaœ lại, rất quan yếu để tu phép tích tụ công đức và tịnh hóa các ác pháp. Làm được vậy, hành trình tâm linh cuœa ta sẽ tiến triển vượt bực.

 

• Dự Bị thí Thực cho Ma Chướng

Tâm thức ta mất quân bình và caœm thấy phiền rầu thường do Ma Vương gây ra, làm ta thấy bất an và có tâm trạng bất lành bằng cách tạo tác những si mê điên đaœo như hiểm độc và chấp trước đột nhiên khơœi lên. Khi điều này xaœy ra, tâm trí ta trơœ nên lờ mờ và rất khó tập trung vào một thiện pháp. Rồi tà kiến tìm dịp phát sinh. Những điều này có thể khiến ta muốn từ boœ tu học và sa vào tà đạo. Quyœ ma cũng có thể làm hại đến thân xác ta. Bệnh hoạn, cãi cọ, xung đột, lưœa nạn, thổ hoặc thuœy nạn và ngay caœ cuồng phong bão tố đều có thể do quyœ ma gây ra. Hành giaœ Lojong có kinh nghiệm về phép tu Thọ Chịu và Bố Thí có thể chuyển những nghịch caœnh đó thành con đường tu tập và bằng cách ấy tăng trươœng Từ Bi, Từ Ái, Bồ Đề Tâm và Chánh Kiến về Không. Các hành giaœ đó thí thực cho ma quyœ với lời cầu như sau: “Hành vi tổn hại cuœa các ngươi sẽ càng giúp ta tinh luyện Lojong vì thế các ngươi thật là tưœ tế. Xin nhận cúng thực và cứ tiếp tục tìm ta làm khó làm dễ”. Những ai chưa quen với lối tu Lojong có thể thí thực cho ma chướng và quyœ thần địa phương, cầu thí: “Xin đừng ganh ghét hoặc làm hại ta, mà hãy giúp ta hoàn tất việc hành trì Dharma”.

Khi thí thực cho quyœ thần, ta có thể hoặc làm bánh torma (Thánh Thực) cổ truyền hoặc cúng thực phẩm tươi tốt. Sau khi đã gia trì thực phẩm với Mạn Trà “om ah hum”, chúng ta hồi hướng cúng dường đến quyœ thần và đặt đồ cúng ngoài trời nơi nào cao ráo, sạch sẽ.

 

• Dự Bị Cúng Dường Hộ Pháp

Có hai yếu tố thiết yếu để thành tựu tu tập. Một là loại trừ những chướng ngại, và yếu tố kia là sự tích súc những điều kiện thuận lợi cần thiết. Để thành tựu hai yếu tố đó, chúng ta phaœi ngưỡng trông Hộ Pháp.

Vài người có thể nghĩ rằng chư vị Hộ Pháp chỉ là những quái tượng do những người theo Đại Thừa Phật Giáo tạo ra, nhưng tin như thế là không đúng. Chư vị Hộ Pháp cũng không khác gì chư Phật chư Bồ Tát. Có hai phương cách chánh yếu theo đó chư Phật và chư Bồ Tát tế độ chúng sinh hữu tình. Cách thứ nhất, ứng ra nhiều loại thân khác nhau, ví dụ như làm Thiện Tri Thức để dẫn dắt chúng sinh hữu tình đến giác ngạn bằng cách thuyết Pháp, và cách thứ nhì là hóa ra các hình tướng Hộ Pháp để huœy diệt chướng ngại và ban bố những điều kiện thuận haœo. Vì lý do đó, Thích Ca Mâu Ni Phật đã diễn giaœi trong nhiều Kinh Hiển (Sutra) và Kinh Mật (Tantra) về các vị Hộ Pháp, tánh chất và chức năng cuœa Hộ Pháp và cách nào để ta ngưỡng trông nơi Hộ Pháp. Một trong những vị này là Mahakala (Đại Thần Vương) (1), một trong nhiều hóa thân Hộ Pháp cuœa Bồ Tát Avalokiteshvara (Quán Thế Âm). Một vị Hộ Pháp nữa dưới khía cạnh thịnh nộ là Kalarupa, hóa thân cuœa Bồ Tát Manjushri (Văn Thù). Một cách tương tợ, có nhiều Bồ Tát khác cũng ứng ra nhiều loại thân khác như là Hộ Pháp. Tất caœ chư vị Hộ Pháp đều đã nguyện hứa với Đức Phật là sẽ huœy diệt những nghịch caœnh làm chướng ngại các hành giaœ tu tập Dharma và tạo những thuận caœnh giúp họ tu học đến chốn. Đây là nhiệm vụ chính cuœa Hộ Pháp. Mức độ hộ niệm thọ nhận từ chư vị Hộ Pháp đều tùy vào lòng thành tín và cách thức ta ngưỡng trông nơi họ. Nếu ta thuần nhất ngưỡng trông nơi Hộ Pháp và có đức tin kiên cường, chắc chắn là ta sẽ nhận được sự hộ niệm cuœa chư vị.

Để được thành tựu trong phép tu tâm, hay trong bất cứ phép tu nào khác, chúng ta nên cúng dường chư vị Hộ Pháp với Đại Tín Tâm và thỉnh cầu họ tiêu diệt chướng ngại và giúp ta có điều kiện thuận lợi. Chúng ta nên cầu thành tựu việc chuyển những nghịch caœnh thành con đường hành. Thọ nhận sự hộ niệm cuœa chư vị Hộ Pháp là điều rất quan trọng, vì tự thân ta hiện tại không đuœ sức vượt qua những trơœ ngại và không có những điều kiện thuận lợi.

 

_____________

 

(1) Ta shen wang. Mahakala còn được gọi là Đại Hắc Vương (Ta hei wang). (D.G.)

 

 

 

 

Trở về trang Mục Lục của 7 Ðiểm Luyện Tâm