BUDDHA HOME

 PHẬT PHÁP

 

 

BỒ ĐỀ TÂM VÔ THƯỢNG

 

 

LUYỆN TÂM BỒ ĐỀ VÔ THƯỢNG

 

[Chỉ truyền Bí giáo cho bậc chứng Bất Thối.

Tư Niệm Hiện Tượng Vạn Thù như Huyễn Mộng.

Quán Sát Baœn Chất Vô Sinh cuœa Tri Thức.

Ngay caœ đến, không có keœ đối chấp nào có tự thể.

Đặt Chân Đạo trên Nền Móng Cuœa Vạn Tượng.

Giữa các Thiền Khóa, quán Hiện Tượng Giới chỉ là Huyễn AŒo.]

 

Sau khi đã phát Bồ Đề Tâm Ước Lệ ơœ quán môn trước đây, bây giờ chúng ta bắt vào việc luyện Bồ Đề Tâm Vô Thượng. Chúng ta luyện Bồ Đề Tâm Vô Thượng bằng cách quán Không với Tâm Bồ Đề làm động cơ. Hành giaœ Tiểu Thừa (Hinayana) không tu Bồ Đề Tâm Vô Thượng bơœi vì phép quán Không cuœa họ chánh yếu thúc đẩy bơœi xuất thế. Chỉ có hành giaœ Đại Thừa (Mahayana) quán Bồ Đề Tâm Vô Thượng bơœi vì họ đơn phương quán Không với chuœ ý cầu chứng Giác vì lợi ích cho chúng sinh hữu tình. Những ai chưa thể chứng Chân Không nên đào luyện để được khai thị về lý Không và những ai đã liễu được phần nào cũng nên đào luyện và thực tập hơn nữa để thâm nhập sự thực chứng.

Trí Tuệ chứng Không giúp tâm thức lìa hai chướng ngại. Hai chướng ngại này được biết là Phiền Não Chướng và Sơœ Tri Chướng, là cội rễ cuœa mọi vấn đề. Trừ phi chúng ta san bằng những trơœ ngại đó, chúng ta vẫn mãi mãi bị phiền não lậu hoặc. Bằng luyện tâm quán Không với Bồ Đề Tâm làm động cơ, tâm ấy sẽ vượt qua hai chướng ngại và theo cách ấy được Giác Ngộ viên mãn. Vì lý do này, chúng ta rất nên hiến caœ đời lo tấn phát và giaœi Không (hiểu caœnh Chơn Không). Không cũng như y dược bơœi vì nó hoàn toàn giúp ta hết khổ. Vì lẽ đó, chúng ta nên dụng lối trị liệu vô thượng cuœa Không mà không phaœi sợ hãi.

Nếu lý Không đem ra giaœi nghĩa vụng về cho những ai không có căn baœn giáo lý, sẽ có cái tai hại là làm họ hiểu lầm, và thay vì giaœi Không, rơi vào kiến hoặc cực đoan cuœa ngoan không, nghĩ lầm rằng Không: có nghĩa là không có gì hết. Để tránh mối độc hiểm đó, bậc thầy khéo léo sẽ giữ bí mật việc giaœng dạy lẽ Không lúc ban sơ, và thay vào đó, tập trung sự hướng dẫn người tu học phát triển những pháp môn căn baœn hơn.

Đại để, hành giaœ nào muốn dùng Không làm món tu chính trước hết phaœi có kinh nghiệm những pháp tu căn baœn, bằng cách thiền quán Nhân Mạng Báu, Vô Thường, Nghiệp Quaœ và các Nấc Thang dẫn đến con đường vào giai đoạn thiền quán Bồ Đề Tâm Ước Lệ. Đặc biệt quan trọng đối với những vị muốn dùng Bồ Đề Tâm Vô Thượng làm chính môn tu học hầu đạt được caœm nghiệm trước về Bồ Đề Tâm Ước Lệ. Dòng chữ trong Chính Văn ghi: “Chỉ truyền Bí pháp cho bậc chứng Bất Thối”, là có ý nói chúng ta nên quán Không, sau khi đã liễu tri và có kinh nghiệm về các phép Thiền căn baœn cuœa Phật giáo, nhất là các môn quán Bồ Đề Tâm Ước Lệ.

Theo văn mạch, thuật ngữ “bí” nói chung là Không, và nói riêng là Bồ Đề Tâm Vô Thượng, đều phaœi được giữ bí mật, không được truyền cho những ai chưa có căn baœn giáo lý.

Tu học về Không có hai phần:

1. Hành Không trong Thiền Khóa

2. Hành Không ngoài Thiền Khóa

 

 

HÀNH KHÔNG TRONG THIỀN KHÓA

 

[Cho rằng chư Hiện Tượng đều như Mộng Huyễn.

Phân tích tính chất không sanh cuœa Nhận Thức.

Ngay caœ baœn thân cuœa keœ đối chấp cũng không có tính theo khách thể.

Mơœ con đường Chân Đạo trên Nền Taœng chư Pháp Không.]

 

Chánh Văn bộc lộ ba cách hành Không trong Thiền Khóa:

1. Quán hiện tượng Không

2. Quán tâm Không

3. Quán baœn ngã Không

 

 

QUÁN HIỆN TƯỢNG KHÔNG

Cách quán này ta dùng hiện tượng ngoại giới làm chuœ đề và nhận biết đối tượng quán Không có tự tánh và có tính chất như mộng. Trong “Tam Muội Vương Kinh” (Ting nge ‘dzin rgyal po’i mdo) có một bài Kệ, theo đó Đức Phật minh giaœi chân tánh cuœa vạn pháp:

 

Trong một giấc mộng, có thiếu nữ nọ gặp

một thanh niên và thiếu nữ này nằm mơ thấy thanh niên nọ đang dẫy chết.

Cô ta vui sướng được gặp thanh niên ấy, nhưng sầu khổ khi thấy anh ta sắp chết.

Chúng ta nên hiểu rằng chư pháp hiện tượng đều như thế.

 

Giấc mộng mà Đức Phật mô taœ, vị thanh niên chỉ là huyễn có trong tâm thiếu nữ nằm mộng và không có tự thể chơn thật. Tuy nhiên, thiếu nữ đó không biết mình nằm mơ, chỉ vì anh ta trông như có thực mà thiếu nữ caœm thấy vui sướng khi gặp anh ta. Sự việc thanh niên sắp lìa đời cũng là huyễn tướng rốt ráo, không thật có, không có tự tánh, mà cũng vì cô ta bị vô minh che lấp. Cô ta thấy dường như cậu ta sắp chết thật cho nên cô caœm thấy khổ sơœ đau đớn. Ai cũng từng có caœm nghiệm như thế trong mơ, duy chỉ có nghiệp khác nhau làm dị đồng các caœnh trong mơ.

Các đối tượng diện kiến, thuận, nghịch hoặc vô ký, cũng xaœy ra trong tâm ta một cách tương tợ. Thực ra, chúng chỉ là giaœ tướng đối tâm sanh và không có chuœ thể hay tự tánh gì caœ, mà chỉ vì vô minh chúng ta nhận là có thực. Đấy là vì sao khi ta gặp cái gì đẹp liền trơœ nên say đắm cái ấy. Tương tợ như thế, khi ta gặp vật làm trái ý, vì vô minh ta nghĩ rằng chúng thực có và caœm thấy không ưa hoặc oán ghét. Tất caœ mọi hiện tượng đối tâm chỉ là huyễn hóa, mà chỉ vì chúng sinh vô minh nên cho là chúng có thực và từ đó sinh ra mê muội tâm tánh.

Shantideva dùng sắc thân làm ví dụ hiện tượng đối với ta như là thực có, trong chương thứ chín, quyển “Chỉ Nam Bồ Tát Đạo”. Chương này xương minh nghĩa Không một cách tỉ mỉ sâu xa. Chúng ta phaœi tập trung tư tươœng đọc kỹ lưỡng bơœi vì không còn cách thích nghĩa Không nào rõ ràng hơn ơœ đây. Shantideva nói rằng chúng ta nên giaœo sát sự chấp dính vào một sắc thân “thực có”. Khi chúng ta tự nghĩ: “Ta có thân thể này khỏe mạnh”, chúng ta đang nói đến một sắc thân hiện rõ mồn một trong tâm aœnh, mà không nói gì đến các bộ phận. Khi chúng ta nói đến thân thể, chúng ta không nói đến cánh tay, giò cẳng, vân vân, mà nói về một toàn thân có veœ như tự hữu ngoài các bộ phận, một châu thể thực hữu.

Nếu thân ta thực có, nó sẽ thực có một trong ba cách: là một trong các bộ phận, là sự tập hợp các thành phần, hoặc là cái gì khác hai cách trên. Khơœi đầu, xét thân thể là một trong những bộ phận thân thể, chúng ta sẽ thấy rằng hai cánh tay không phaœi là thân thể, mặt mày cũng không, giò cẳng cũng không phaœi, vân vân, bơœi vì chúng chỉ là thành phần cuœa châu thân. Nếu mỗi bộ phần đều là thân thể, sẽ có nhiều thân thể thay vì chỉ có một.

Tình trạng có thể có kế tiếp là cái thân thật có đó là một tổng hợp các thành phần. Nay xét các đơn vị cá biệt đều không phaœi là thân thể, thì làm sao tổng hợp các vô thể được coi là thân thể? Sự tổng hợp các thành phần thân thể là quy căn cho “thân thể” (gán là “thân thể”). Một điểm rất tế vi đòi hoœi phaœi suy tươœng thật thận trọng là tổng hợp cuœa các thành phần thân không phaœi là thân thể bơœi vì nó là một phần cuœa thân thể.

Cái có thể có thứ ba là thân thể có ngoài trường hợp như một trong các thành phần hoặc trường hợp tổng hợp các thành phần. Có lẽ nó hiện diện như là sơœ hữu chuœ các thành phần. Nếu thân thể hiện hữu theo cách đó, vậy nó ơœ đâu? Khi nào chúng ta troœ vào thân thể, thực ra chúng ta đang troœ một phần trên cơ thể, mà không troœ vào một vật có riêng ngoài thành phần cơ thể và làm chuœ thể phần. Khi ta nhìn vào “thân thể”, ta thực sự thấy gì? Chúng ta chỉ thấy các thành phần thân thể. “Thân thể” không hiện hữu trong vòng các bộ phận thân thể và nó cũng không hiện hữu ngoài vòng các bộ phận. Sơœ dĩ thân thể hiện hữu chỉ là một giaœ danh gán lên các thành phần cuœa thân thể.

Không có sắc thân thật hữu mà chỉ vì tâm ta mê lầm nhận các thành phần châu thân là thực có, chúng ta thấy có một thân thể thực hữu. Trong quyển “Chỉ Nam Bồ Tát Đạo” (Byang chub sems dpa’i spyod pa la ‘jug pa), Shantideva đưa ra ví dụ một người lặn lội trong đồng quê lúc trời chạng vạng, thấy một đống đá ngỡ là người ta. Tương tợ như thế, ta lầm lẫn thấy các thành phần châu thân là một thân thể thực có. Shantideva nói: “Trong trường hợp đó, không có thân thể gì caœ, chỉ vì vô minh, ta khiến nghĩ: thân thể cuœa ta.”

Nếu chúng ta gia công liên tục bằng lối quán suy diễn tìm cho ra sắc thân tự tánh, khái niệm thông thường cuœa ta đối với thân ấy không còn nữa. Thay vì thân thể huyễn hóa cuœa ta quen khơœi lên, tánh Không sẽ hiện ra. Không đây là Không cuœa sắc thân không có tự tánh. Sau khi đã đắc trí giaœi Không về sắc thân, chúng ta hết sức lưu tâm chú mục vào tánh Không ấy theo phép nhất quán. Phép Thiền Quán này gọi là “Thân Niệm Xứ”.

Chân thể hay tuyệt đối tánh cuœa thân là Không. Nếu thế sao thấy có thân? Thân có như cái gì có trong chiêm bao, đối tâm nó chỉ là huyễn có. Shantideva có hoœi: “Thưœ hoœi người thông minh sáng suốt có tham đắm tướng mộng huyễn như thế?” Hiền nhân, giaœi Không, sẽ thấy rằng tham là hoàn toàn không thích đáng.

Chúng ta lúc đầu phaœi hiểu tánh Không cuœa baœn thân rồi kế đó, căn cứ vào đấy, áp dụng cùng phương pháp suy diễn đối với chư pháp hiện tượng. Nhờ lối thiền suy diễn, khi ta hiểu tánh Không cuœa hiện tượng khác với sắc thân, chúng ta chú tâm quán niệm tánh Không ấy. Lối Thiền Quán này gọi là “Pháp Niệm Xứ”. Hai phép Quán Niệm này có đề cập trong Chánh Văn:

 

[Quán Hiện tượng Vạn thù như Mộng huyễn]

 

 

QUÁN TÂM KHÔNG

 

[Suy diễn Baœn Chất Vô Sanh cuœa Tri Thức]

 

“Tri Thức” ơœ đây là nói đến Tâm. Dòng này từ Chánh Văn khuyên ta nên suy diễn baœn chất cuœa tâm. Baœn chất tối hậu cuœa tâm là Tự Tánh Không và “vô sinh” vì không do nhân duyên khơœi ra. Để quán tâm không, chúng ta có thể áp dụng đồng quá trình khaœo sát như lúc quán thân không.

Dầu tâm ta có vui hay không được vui, chúng ta luôn luôn caœm nhận là nó có một tự thể hiện hữu không tùy thuộc vào bất cứ cái gì, nhưng trên thực tế, tâm ta có là do niệm tươœng gán lên tùy vào quá khứ, hiện tại và vị lai cuœa nó. Tâm không có tự tánh về phía nó. Nếu có, sẽ có dịp ta tìm thấy nó nhờ khám sát những sát na cuœa quá khứ, hiện tại và vị lai cuœa tâm. Nếu chúng ta điều nghiên, chúng ta không thể nào tìm ra một tâm có tự tánh trong dòng tâm thức và chúng ta cũng không tìm ra nó ơœ chỗ nào khác. Vì không thể tìm ra một tâm như thế, đó là dấu hiệu chứng toœ nó không có.

Nhất tâm chú mục vào sự không thực có tâm là phép Thiền Quán gọi là “Tâm Niệm Xứ”. Chúng ta nên quán niệm điểm này càng lâu càng tốt. Nếu, cũng đồng dụng cùng tiến trình, mà chúng ta nhận chân được Tự Tánh Không cuœa caœm thọ, rồi đó hết sức nhất tâm niệm tươœng lẽ Không ấy, đó là chúng ta hành trì phép Quán gọi là “Thọ Niệm Xứ”.

Dòng chữ trong Chánh Văn: “Phân tích tánh vô sanh cuœa Tri Thức”, là đề cập đến các phép Quán Tươœng như “Tâm Niệm Xứ” và “Thọ Niệm Xứ”. Dòng này, cùng với dòng trên, là có ý nói Tứ Niện Xứ quán Không. Trong một chương về Trí Tuệ trong quyển “Chỉ Nam Bồ Tát Đạo”, Shantideva có diễn giaœi rõ ràng về bốn món Quán này,

 

 

QUÁN BAŒN NGÃ KHÔNG

 

[ Ngay caœ đến, không có keœ đối chấp có tự thể.]

 

Dòng kế đây trong Chánh Văn là nói đến phép quán Nhân Vô Ngã. Dòng này cho ta biết nhờ thiền quán, chúng ta sẽ thấy rõ ngay caœ chúng ta cũng không có tự tánh hay tự thể. “Đối Chấp” ơœ đây là nói đến người nỗ lực vượt thoát và tiêu trừ chấp ngã.

Nhờ lối quán suy diễn, khi ta đã hiểu rằng sắc thân không có tự tánh, ta cũng có thể liễu hội Nhân hay Ngã đều không tự tánh. Như Shantideva đã nói trong “Chỉ Nam Bồ Tát Đạo”:

 

Vì sắc thân không có tự hữu theo lối đó

Làm sao có thể có Âm và Dương?

 

Như chúng ta có thể thấy, đàn ông và đàn bà đều có hình tướng khác biệt và những đặc điểm riêng. Vì thân không thực có, làm sao có thực Nữ Thân và Nam Thân? Nếu Nam và Nữ đều không có tự tánh, làm sao có tự tánh Nhân hay Ngã? Những điểm này phaœi được xem xét kỹ lưỡng nhiều lần. Nếu ý niệm tiêu cực nổi lên và can dự vào suy tư trên, chúng ta đừng để chúng áp đaœo, mà thay vào đó những tư tươœng tích cực và giúp ta giaœi được lý Không.

Ngay trước khi ta suy niệm cái “Tôi”, chúng ta nhận dạng một trong các uẩn: Sắc, Thọ, Tươœng, Hành và Thức. Rồi thì cái ý niệm Tôi naœy sanh tức khắc và tin chắc rằng cái Tôi đó có thực và có tự tánh, nhưng nếu tìm cái Tôi trong các Uẩn cuœa thân tâm, ta không thể thấy. Caœ thân lẫn tâm đều không phaœi là cái Tôi. Khi chúng ta nói “thân tôi” và “tâm tôi”, chúng ta khơœi lên cái khái niệm Tôi tách rời tâm và thân, thế mà chỉ vì chúng ta tri ra thân và tâm hoặc các bộ phận cuœa chúng mà ta chấp cứng vào một cái Tôi “tự hữu”. Dầu tìm kiếm lâu cách mấy cái Tôi có riêng ngoài thân và tâm, ta sẽ luống công dã tràng. Luống công dã tràng đi tìm cái thằng Tôi, chứng toœ rằng cái Tôi hay “Ngã” đối tâm chỉ là huyễn có. Theo lối đó, chúng ta có thể hiểu rằng: tự hữu, cái Tôi không hề có.

 

Bốn hàng đầu phần này cuœa Chánh Văn là nói đến phép quán sát Không và hành thứ năm là nói về quán niệm Không:

 

[Niệm Đạo Chánh trên Nền Taœng cuœa Sum La Vạn Tượng.]

 

Trong Hiển Kinh (Sutra) và Mật Kinh (Tantra), Đức Phật dùng thuật ngữ “Nền taœng cuœa chư pháp” để chỉ Chơn Không. Trong Bát Nhã Tâm Kinh (Shes rab snying po mdo) có câu: “Không tức thị Sắc” có nghĩa là sum la vạn tượng, Sắc và vân vân, chỉ là hiện tướng cuœa Không. Theo quan điểm đó, Không là căn baœn cuœa chư pháp hiện tượng, vì thế theo văn mạch ơœ đây, “Căn baœn cuœa vạn pháp” là nói đến Không, thể tánh tuyệt đối cuœa vạn tượng sum la, gồm caœ tâm và nhân.

Trước hết, chúng ta dùng lý luận để lượng giaœi tánh Không cuœa baœn ngã, thân và tâm, kế đến chúng ta dùng từng cái Không làm đối tượng Niệm Quán. Nhờ quán sát sâu xa hơn, chúng ta nhận chân lý Không rõ ràng, chúng ta nhất tâm chú mục vào điểm ấy và quán càng lâu càng tốt. Quán niệm hay quán tươœng Không, là con đường thực thụ dẫn đến Giaœi Thoát.

Để loại trừ trọn vẹn hai chướng ngại, chúng ta phaœi đắc Bồ Đề Tâm Vô Thượng, Trí Tuệ thể nhập Chân Không. Tuy nhiên, không có cách chi thể nhập được Không nếu không đắc định Shamatha. Để đắc Shamatha, chúng ta có thể dùng ước giaœi Không làm đề tài thiền quán, đoạn tấn triển dần dần qua Cưœu Trụ Tâm cho đến khi ta chứng quaœ vị Chỉ. Liên tục quán Không với tâm Shamatha, cuối cùng chúng ta sẽ chứng đắc Vipashyana quán Không. Đoạn, bằng cách Thiền hiệp nhất Shamatha và Vipashyana quán suốt Không, chúng ta sẽ chứng Trí Tuệ trực tiếp thể chứng Chân Không.

 

Khi chúng ta tu chứng Bồ Đề Tâm Ước Lệ là lúc ta bước chân vào con đường thứ nhất cuœa Ngũ Đại Thừa Đạo, Tư Lương Đạo. Khi ta đắc Huệ (Vipashyana) quán Không, ta bước vào con đường Đại Thừa thứ hai, Tu Đạo. Khi chúng ta chứng Trí Tuệ thể nhập Chân Không và chứng đạt Bồ Đề Tâm Vô Thượng, chúng ta bước vào con đường Đại Thừa thứ ba, Kiến Đạo. Tiếp tục thiền quán sâu xa hơn, chúng ta tiến đến con đường Đại Thừa thứ tư, Quán Đạo, và càng đi xa hơn, chung hậu ta bước vào con đường Đại Thừa thứ năm, Vô Học Đạo, quaœ vị Giác Ngộ viên mãn.

 

 

TU QUÁN KHÔNG TRONG LÚC NGƯNG THIỀN

 

Ngoài Thiền Khóa, chúng ta nên quan niệm mọi vật hiện khơœi đều không có tự thể. Mặc dù hiện tượng giới vẫn hiện khơœi một cách linh động trước mắt ta như có tự tánh, chúng ta phaœi rán nhớ baœn chất cuœa chúng vốn rỗng không. Rất hữu ích để xét sự tương đồng như việc một nhà thuật sĩ hóa những con thú nộm mà chính mắt ta thấy, dầu cho chúng chỉ là giaœ tướng. Giữa các Khóa Thiền, chúng ta nên nhìn hiện tượng bằng chân lý tương tợ, làm như thể chúng chỉ là aœo caœnh tạo ra bơœi pháp thuật. Đây là ý nghĩa cuœa dòng dưới đây trong Chánh Văn:

 

[Giữa các Thiền Khóa, quán chư pháp hiện tượng chỉ là aœo aœnh.]

 

Chiều sâu cuœa sự giaœi và nghiệm Không cuœa ta ngoài Thiền Khóa đều tùy thuộc vào kinh nghiệm trong lúc Thiền. Nếu sự nghiệm Không trong khóa Thiền thành công, chúng ta sẽ hiểu đúng lẽ Không lúc ngừng thiền.


 

_____________

 

(1) Ta shen wang. Mahakala còn được gọi là Đại Hắc Vương (Ta hei wang). (D.G.)

 

 

 

 

Trở về trang Mục Lục của 7 Ðiểm Luyện Tâm