BUDDHA HOME

 PHẬT PHÁP

 

 

CHÁNH MÔN: TU LUYỆN HAI TÂM BỒ ĐỀ

 

 

Pháp môn này gồm có hai phần:

1. Tu luyện Bồ Đề Tâm Ước Lệ

2. Tu luyện Bồ Đề Tâm Vô Thượng

 

Có hai thứ Bồ Đề Tâm (Bodhichitta): Ước Lệ và Vô Thượng. Thường thường, thuật ngữ “Bodhichitta” hay “Tâm Giác Ngộ” là đề cập Ước Lệ Bồ Đề Tâm. Bồ Đề Tâm Ước Lệ là một tâm vương, thúc đẩy bơœi đại từ bi, tự ý cầu giác ngộ để làm lợi lạc cho tất caœ chúng sinh hữu tình. Đó là một phương pháp để làm nẩy nơœ hạt giống Phật (Phật Tánh), và đây cũng là một cách tích lũy công đức, nguyên do chánh để chứng đắc Sắc thân cuœa một đức Phật.

Vô Thượng Bồ Đề Tâm chính là Trí Tuệ, do Bồ Đề Tâm Ước Lệ làm động cơ thúc đẩy, trực tiếp thể chứng Chân Không, thể tánh tuyệt đối cuœa muôn vàn hiện tượng. Nó có tác dụng dẹp trừ hai chướng ngại (chướng ngại giaœi thoát và chướng ngại nhất thiết chuœng trí) và đồng thời tích lũy công đức, nguyên do chánh để chứng đắc Pháp thân (DharmaKàya) cuœa một đức Phật.

Hễ khi nào chúng ta tu tập hai món này, đó chính là lúc chúng ta đang du hành trên chánh lộ dẫn đến quaœ vị Chánh Đẳng Chánh Giác.

 

 

BỒ ĐỀ TÂM ƯỚC LỆ

 

 

TU LUYỆN BỒ ĐỀ TÂM ƯỚC LỆ:

Gồm có hai phần:

1. Thực tập trong thiền khóa

2. Thực tập ngoài thiền khóa

 

Thực Tập trong Thiền Khóa gồm có sáu phần:

1. Quán Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã

2. Suy tư các điểm bất lợi cuœa ngã ái

3. Suy tư các lợi điểm cuœa ái tha

4. Quán Ngã Hoán Caœi

5. Quán Thọ Nhận và Bố Thí

6. Quán Bồ Đề Tâm (Bodhichitta)

 

 

HÀNH TRÌ TRONG THIỀN KHÓA

 

QUÁN ĐỒNG ĐẲNG TỰ VÀ THA NGÃ

Mặc dù pháp quán này không được đề cập rõ ràng trong baœn chánh văn “Baœy Điểm Luyện Tâm” (bLo sbyong don bdun ma), nhưng pháp ấy được diễn giaœi trong quyển “Chỉ nam Bồ Tát Đạo” cuœa Shantideva:

 

Trước hết tôi phaœi nỗ lực

Quán đồng đẳng tự và tha ngã.

Tôi phaœi baœo hộ tất caœ chúng sinh như baœo hộ baœn thân

Bơœi vì chúng ta đều bình đẳng, trong đó ai cũng thích vui thú, không ai ưa đớn đau.

 

Pháp thiền quán Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã là một trong những phương pháp tốt nhất để tăng trươœng lòng từ ái, trọng tâm cuœa môn Luyện Tâm. Nó là mối trọng yếu hàng đầu đối với chúng ta bơœi vì nếu không có sự caœm nghiệm cuœa Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã, chúng ta không thể nào đạt được sự thể hiện pháp Ngã Hoán Caœi. Như vậy, cái gì đó mà ta phaœi đồng đẳng khi quán Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã? Chúng ta phaœi đối xưœ bình đẳng khi thương yêu keœ khác như thương chính baœn thân, ngoœ lòng từ ái keœ khác như đối với chính mình. Điều này rất khó thực hành, trừ phi chúng ta trơœ nên rất quen thuộc với dharma này.

Lúc nào chúng ta nghĩ đến cái “Tôi”, chúng ta caœm thấy đối tượng cuœa ý niệm này tột bực quan trọng nhưng khi nào chúng ta nghĩ đến “bọn kia”, chúng ta cho đối tượng đó không có gì đáng quan thiết. Điều này toœ rõ chúng ta không từ ái keœ khác bằng chúng ta tự đối với chính mình. Khi chúng ta gặp gian nan và vận xấu chúng ta dễ sầu não, nhưng hiếm có bao giờ ta lo lắng cho gian nan cuœa keœ khác. Quaœ thực, nghe kể về các bất hạnh cuœa vài cá nhân nào đó, chúng ta ý chừng còn caœm thấy khá vừa lòng trong bụng. Điều này xaœy ra chỉ vì chúng ta chưa đồng đẳng ái tha với ái ngã.

Vài người có thể tự hoœi Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã có gì đáng quan yếu. Cái gì xaœy ra nếu chúng ta phớt qua điều này? Sẽ có hai khuyết điểm lớn. Điểm thứ nhất là chúng ta sẽ kinh nghiệm những vấn đề khó khăn trong đời này. Chẳng hạn, không cần thương yêu ai khác hơn yêu mình, như khi chúng ta giận người đó, chúng ta sẽ hành động một cách tiêu cực ích kyœ và hành vi đó sẽ mang lại những kết quaœ xấu. Điểm thứ hai là chúng ta không thể phát triển Bồ Đề Tâm, chí nguyện thành Phật vì lợi ích cho tất caœ chúng sinh. Không có Bồ Đề Tâm (Bodhicitta) không có cách gì chúng ta đạt được những tu chứng trên đường Đại Thừa (Mahayana), huống hồ quaœ vị Phật. Ngay những người không phaœi là keœ tu hành cũng rất quan yếu để tu tập lối Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã tới chừng mực nào đó, bơœi vì nếu họ không làm như thế, chắc chắn họ sẽ kinh nghiệm mãi hết khó khăn này lại đến khó khăn khác.

Nếu chúng ta có mối quan hệ với người nào mà chúng ta yêu thương và lo lắng tới thì caœ hai đều được hạnh phúc, trường hợp chúng ta chỉ để ý riêng tư baœn thân mình, người chung lưng đấu cật không vui lòng và tình hữu nghị không tồn tại dài lâu. Không có tâm tư ái hữu keœ khác sẽ không có lòng từ ái bền chặt, sự giao thiệp sứt meœ và không ai trong bụng còn vui lòng. Chúng ta luôn luôn tìm cách đối đãi người khác thật trìu mến, với lòng trắc ẩn và thiện ý.

Các vị Cổ Đức ơœ Ấn Độ và Tây Tạng thời xưa đều xem lòng từ ái là chất liệu thù thắng để tác động Bồ Đề Tâm. Nếu chúng ta đều sống chung trong một cộng đồng, đều có thái độ trông nom lẫn nhau, lòng từ mẫn sẽ tự nhiên bộc phát. Do bơœi thế, mọi người sẽ sống trong an bình và lạc phúc. Chúng ta nên nghĩ như thế này: “Cũng y như ta muốn baœn thân sung sướng, người khác cũng y vậy. Do đó ta phaœi tìm đuœ mọi cách làm người khác sung sướng giống như tự ta lo cho ta”. Người nào lo cho thiên hạ như thế đó, người ấy đang thực hành Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã. Nếu chúng ta duy trì chuœ tâm như thế đối với keœ khác, đến phiên họ sẽ phát triển caœm tình tốt đẹp đối với ta. Ban đầu, chúng ta nên thực tập điều này với bạn bè và những người trong cộng đồng địa phương và phaœi thời, chúng ta sẽ nới rộng đến nhiều người cho đến khi, nhiên hậu, khaœ dĩ bao trùm caœ thaœy chúng sinh.

Khi chúng ta mới tập quán như thế, nghi hoặc có thể khơœi. Chúng ta có thể chất vấn giá trị cuœa việc cố tâm giúp người thoát khổ, suy tư như thế này: “Người khác đâu có gì trực tiếp can hệ tới ta. Ai cũng phaœi gánh khổ riêng cuœa mình, sao lại đi lo cho cái khổ cuœa người khác?” Trong khi đúng là chúng ta không phaœi caœm nghiệm cái khổ cuœa người, nhưng giúp đỡ những người đang thống khổ vẫn là quan trọng hơn hết. Nếu chúng ta đạp gai, mặc dù tay ta không trực tiếp bị gì, cũng vẫn tức khắc nhổ gai ra. Nếu chúng ta nghĩ đến tất caœ chúng sinh như một thân, thân này muốn thoát khổ, chúng ta sẽ không ngần ngại chỉ thống khổ đau cuœa chúng sinh. Chúng ta nên niệm như thế này: “Lúc nào ta cũng muốn được sung sướng, chúng sinh cũng không khác. Về điểm này, chúng ta đều y hệt. Há chẳng vô lý lắm sao nếu cứ lo sướng thân trên đầu trên cổ thiên hạ?”

Bình đẳng tự ngã và tha ngã là nền taœng cuœa mọi tu pháp nhiên hậu dẫn đến sự giác ngộ. Chúng ta nên suy nghĩ như vầy: “Sinh đời này có thân người hiếm quý nếu ta không dùng nó tu hành thành Phật, boœ lỡ cơ hội bằng vàng này là một thaœm trạng. Để được khai ngộ ta cần có kinh nghiệm Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã. Rồi đó ta mới có thể dần dà đi đến pháp tu Ngã Hoán Caœi và các pháp Thọ Nhận và Bố Thí cho đến khi ta phát triển lòng từ bi cao quý và Bồ Đề Tâm Vô Thượng”. Chúng ta nên tự khuyến khích cổ võ bằng cách quán như thế.

Để đi vào chân quán Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã, chúng ta xem xét các điểm trên kỹ càng một thời gian. Sau khi đúc kết suy tư chúng ta quyết định: “Tôi sẽ đaœm nhiệm trọng trách đem lại phúc lợi cho chúng sinh cũng như cho baœn thân”. Đoạn, thấy rằng thái độ cuœa ta đối với baœn và tha ngã như nhau, chúng ta tập trung caœm thọ đồng đẳng này một chặp, đoạn đi đến quyết tâm: “Tôi sẽ yêu mến keœ khác như chính thân mình”. Quán điểm quyết tâm này càng lâu càng tốt.

Suốt ngày còn lại, chúng ta nên thường gợi lại caœm thọ mà chúng ta đã phát triển lúc quán. Khi nào chúng ta gặp người nào đau khổ hoặc bị trắc trơœ, chúng ta nên đáp ứng bằng cách giúp san bằng khó khăn. Trong những tình caœnh ta không thể phụ trợ một cách thiết thực, ít nhất, cũng rán có ý hướng và cầu nguyện. Chẳng hạn, mặc dù đích thân ta không thể mang lại hòa bình cho hai nước đang lâm chiến, tuy nhiên vẫn lo lắng đến những người đang dự cuộc và cầu nguyện cho hòa bình mau vãn hồi. Chúng ta cũng có thể làm lợi ích cho họ bằng cách hồi hướng bất cứ thiện hạnh nào cuœa ta, suy nghĩ như vầy: “Bằng vào thiện hạnh này cuœa tôi, cầu cho sự xung đột cuœa hai phe dứt bặt”. Đại khái, chúng ta có thể hồi hướng mọi lợi dưỡng từ điều thiện ta làm cho chánh lý và điều này sẽ gián tiếp giúp giaœi trừ được nhiều khó khăn. Nếu chúng ta có thái độ luôn luôn muốn giúp đỡ keœ khác, chúng ta cũng có thể giúp đỡ trực tiếp hoặc gián tiếp mỗi khi có cơ hội. Như Ngài Long Thọ (Nagarjuna) nói trong “Baœn Sớ Bồ Đề Tâm” (Byang chub sems kyi ‘grel pa):

 

Dẫu ta chưa đuœ cơ duyên để tế độ người khác

Cũng vẫn nên nỗ lực tăng trươœng haœo ý này

Bằng cách tăng trươœng ý nguyện này ngày càng sâu đậm

Chúng ta cũng đã tự nhiên giúp được rất nhiều người.

 

Thực sự tạo điều có ích còn tùy ý ta muốn làm. Đầu tiên ta nên đào luyện ước nguyện muốn giúp đỡ và làm lợi ích người khác bằng cách khai triển ý định này nhiều lần. Nếu chúng ta trì niệm hữu ích đó trong tâm trong suốt sinh hoạt hằng ngày, chúng ta sẽ thấy rằng những cơ hội để giúp đỡ người khác ngày càng thường xuyên xaœy đến.

Cũng rất thiết yếu lập lại mãi những thỉnh nguyện cầu xin chư Phật chư Bồ Tát và Thánh Chúng gia trì chúng ta đạt được tu chứng tha ngã đẳng ái. Chúng ta có thể tụng đọc bài nguyện sau đây trong “Cúng Dường Thiện Tri Thức” (bLa ma mchod pa) cuœa Ban Thiền Lạt Ma Lozang Chokyi Gyaltsan:

 

Vì lẽ không ai muốn bị một maœy may chua xót,

Hoặc từng bao giờ mãn nguyện với hạnh phúc hiện có,

Làm gì có sự khác biệt nào giữa baœn thân tôi và những người xung quanh.

Nhận thức được sự kiện này, ngưỡng cầu sự gia hộ

cuœa chư Phật khiến cho con liền hoan hyœ phấn tấn

Đem lại an vui cho tất caœ chúng sinh.

 

Mặc dù có nhiều phép thiền quán lần lượt trình bày ơœ đây, chúng ta có thể phân chia sắp xếp giờ giấc cho mỗi quán môn. Tyœ dụ, khi hành trì quán môn Đồng Đẳng Tự và Tha Ngã, chúng ta có thể chuyên tâm chú mục vào loại thiền riêng biệt này, suốt ngày, hàng tháng, hàng năm, hoặc có thể kéo dài caœ một đời người.

 

 

SUY TƯ NHỮNG ĐIỂM BẤT LỢI CUŒA NGÃ ÁI

 

[Can Đaœm Gánh Hết Tội Lỗi cuœa Người.]

 

Dòng chữ này cho thấy: tất caœ mọi khổ não có thể được truy tầm đến tận nguồn gốc, đó là tâm ngã ái. Cẩn trọng dò xét, chúng ta thấy điều này đúng sự thật, nhất là nếu chúng ta có thể hiểu phần nào lý Nghiệp Quaœ. Nhân Quaœ đúng như thế nào? Bơœi vì bụng tham lợi cho baœn thân khiến ta lo tom góp mọi sự vật tốt đẹp cuœa thế gian cho riêng ta, và để chiếm đoạt, chúng ta không nề dơœ thói ích kyœ, những hành động dẫn đến khổ đau rốt ráo. Cũng vì ngã ái chúng ta tạo nghiệp rồi lại bị xoay vần trong vòng sinh tưœ luân hồi. Mỗi lần đi đầu thai chúng ta lại phaœi kinh qua đuœ mọi thống khổ. Nếu tâm ta không ái ngã, chúng ta sẽ không tạo nghiệp thô lậu như thế.

Chúng sinh hữu tình tạo nghiệp ác, chẳng hạn giết chóc chỉ vì phúc lợi riêng tư. Tyœ dụ, hầu hết thú vật, để mưu sinh, săn bắt, giết và làm thịt các cầm thú và côn trùng khác. Chính chúng ta vô cùng thịnh nộ khi có ai làm tổn thương hay đe dọa chúng ta. Nếu chúng ta quyết traœ đũa chẳng qua chúng ta tự xem baœn thân rất mực quý báu. Có keœ trộm đạo nào bị bắt và bị cầm tù, chúng ta thường nói là keœ ấy vào tù vì phạm tội, nhưng trên thực tế, nguyên nhân chính làm keœ ấy xộ khám là tâm ngã ái.

Xem xét kỹ như thế chúng ta sẽ thấy rằng không có một maœy lỗi phaœi nào mà không do tánh ái ngã gây ra. Vì thế, chúng ta phaœi quyết định rắn chắc trừ boœ Ái Ngã, đầu mối cuœa mọi sầu não khổ đau.

Như Đức Phật đã nói:

 

Nhìn tận mặt sinh tưœ luân hồi. Không có đức tính tốt đẹp.

Chỉ vì keœ tặc nghịch, tâm ái ngã,

Mà ngay cả con hổ mẹ lúc đói

Không ngần ngại nuốt sống con mình.

 

Shantideva cũng có nói trong quyển “Chỉ Nam Bồ Tát Đạo” (Byang chub sems dpa’i spyod pa la ‘jug pa):

 

Nếu tất caœ mọi hãm hại,

Sợ hãi và khổ đau cùng khắp thế gian

Đều do Chấp Ngã mà khơœi lên,

Thứ Thần Ngã Đại Ác như thế ai mà cần cầu?

 

Shantideva thỉnh thoaœng nói đến Chấp Ngã Tâm, thay vì nói Tâm Ái Ngã. Điểm dị đồng là gì? Tâm chấp ngã tri giác hoặc nắm bắt cái “Tôi” là có tự tánh (svabhavasiddha),và tâm ái ngã thì ái luyến cái “Tôi” ấy, rất yêu quý trì giữ cái “Tôi”. Hai món tâm này là cội rễ cuœa mọi ưu sầu phiền lụy. Cái gì bạc phước cũng đều do chúng gây ra. Ví dụ, nếu ta muốn cái gì đó mà không được, vì thế đâm ra buồn rầu, chỉ vì trong quá khứ tâm luyến ngã cuœa ta đã trơœ ngại người khác không cho thoœa mãn cái họ muốn. Đời trước do bơœi ích kyœ, chúng ta đã làm thân tâm người khác đau đớn và chúng ta đã caœn trơœ người khác mãn nguyện ý muốn. Vì vậy, ngày nay chúng ta muốn gì cũng bị khó nhọc, thân tâm thường bệnh hoạn và gặp đuœ thứ trơœ ngại ác chướng. Tất caœ mọi vấn đề này đều do tâm ái ngã gây ra.

Vì lúc nào ta cũng vô cùng luyến ái baœn thân cho nên rất khó chịu đựng cho chí một khó khăn sơ sài nhất, vì thế chúng ta luôn luôn lo âu, sợ hãi và caœm thấy bất hạnh. Mọi đau đớn tâm thần khơœi lên từ sự bất toại ý và sự chung đụng với những cái trái ý đều do ái ngã gây ra.

Bồ Tát bất thối không có tâm luyến ái, chính vì thế họ không hề sợ hãi một điều gì. Họ có thể đối diện một mãnh hổ dữ nhất mà chẳng hề khiếp đaœm. Vì họ xem caœ thaœy vạn vật như mẹ ruột, nên lòng từ bi trổi lên, chứ không phaœi sợ hãi, khi gặp dã thú. Lẽ tất nhiên, điều này không có nghĩa rằng không cần tự vệ để khoœi bị thương vì chuyện không đâu. Một trong những đức tính cuœa Bồ Tát vô thượng là họ có thể hiến thân hay phần thân để làm người khác hạnh phúc, nhưng trước khi làm như thế, họ cẩn thận lượng xét hoàn caœnh. Nếu hành động không đem lại lợi ích, họ sẽ không làm. Đại khái, dầu rằng chúng ta không thương thân lắm, nhưng khi đương đầu với hiểm nguy, chúng ta khá túm dép co giò mà chuồn lẹ, bơœi vì liều mạng đâu phaœi lúc nào cũng giúp được ai, lại càng không có ích gì cho baœn thân! Tự baœo vệ thân mạng không nhất thiết là dấu hiệu ngã ái.

Khi ta suy tư những bất lợi điểm cuœa ngã ái ta có thể khơœi sự sinh nghi. Ta có thể nghĩ rằng không có ngã ái làm sao có động cơ làm việc; không có việc làm sẽ không đào đâu ra tiền, mà không tiền làm sao mua ẩm thực. Do vậy, chúng ta vội kết luận rằng chính lòng tốt cuœa tâm ái ngã đã gián tiếp cung cấp vật thực nuôi sống ta. Thật ra, ước nguyện làm việc không lựa phaœi có thái độ ái ngã. Có rất nhiều người bác ái trên thế giới chỉ chuœ yếu làm việc vị tha. Những người hành Pháp chân thật chỉ mong làm việc để có thể nuôi sống thân mạng và có đuœ sinh lực tu tập Dharma với mục tiêu tối hậu là đạt đạo vì tất caœ chúng sinh.

Đôi khi ta có thể nghĩ là nhiều người có veœ thành công nhất bậc trên đời đều là từ nơi ngã ái mà ra. Bơœi vì có tham vọng nên họ làm việc chăm chỉ, họ có sức cố gắng là nhờ thái độ ngã ái chống đỡ, và giờ đây họ hươœng thụ thành quaœ. Nếu chúng ta thừa nhận lối nhìn đó, chúng ta đã không nắm vững mối quan hệ giữa nghiệp và quaœ. Chúng ta cần hiểu chính xác quaœ nào theo liền nhân nào. Một thương gia bị phá saœn có thể có tâm ngã ái cuồng nhiệt như một thương gia khác buôn bán phát đạt. Nếu ái ngã là chìa khóa đi đến thành công, thì tại sao người này thì giàu có, còn người kia bị phá saœn? Đức Phật dạy rằng muốn được giàu có chúng ta phaœi quaœng đại bố thí. Sự khác biệt giữa hai thương nhân là: người phát tài tu hạnh bố thí ơœ đời trước, còn người khánh tận thì không. Khi nào nghi hoặc về đề tài này khởi lên, chúng ta nên kiểm thaœo chúng kỹ càng. Nếu chúng ta áp dụng những lý luận vững chắc, chúng ta sẽ có thể giaœi toœa mọi hồ nghi.

Trong giờ thiền quán, chúng ta nên tận dụng sự chú ý theo dõi những hiểm độc cuœa lòng ngã ái và, để kết luận, quyết vượt qua và từ boœ nó một cách triệt để. Khi ta đã hạ quyết tâm rồi, ta nên tập trung vào một đơn điểm mà quán, không được để tâm tán loạn.

Ngoài giờ thiền quán, chúng ta phaœi nhất cưœ nhất niệm sự quyết ý trong thiền khóa. Mặc dù chúng ta không thể loại trừ tâm ngã ái chỉ bằng quyết định làm thế, do đó sự tái lập nguyện là điều hết sức quan trọng.

Thêm vào đó, chúng ta nên liên tiếp triệu thỉnh chư Phật chư Bồ Tát và Thánh Chúng gia hộ chúng ta vượt qua ngã ái, tụng đọc bài nguyện sau đây trong “Cúng Dường Thiện Tri Thức” (bLa ma mchod pa):

 

Bệnh kinh niên luyến ái baœn ngã

Là duyên do phát khơœi phiền não bên đàng.

Nhận ra điều này, đệ tưœ cầu ơn gia hộ để tống khứ, kết án

Và tiêu diệt loài yêu tinh quyœ quái tên là Ích Kyœ.

 

Nguyện vọng này tạo cơ hội cho chúng ta giaœm thiểu thái độ ích kyœ. Trên nền taœng đó, trước tiên ta có thể làm bình đẳng tự và tha ngã rồi đến Ngã Hoán Caœi.

 

 

SUY TƯ NHỮNG LỢI ĐIỂM CUŒA ÁI THA

 

[Quán lòng Đại Từ cuœa tất caœ Chúng Sinh]

 

Bây giờ xét đến nhân mạng cuœa chúng ta. Ta có được thân ngày nay là do lòng tốt cuœa chúng sinh khác. Những lạc thú mà ta thọ hươœng khi làm người là do lòng tốt cuœa người khác chu cấp. Sơœ dĩ ta có giáo dục, tri kiến, kỹ xaœo, kinh nghiệm, vân vân, là nhờ ơœ lòng tốt cuœa keœ khác. Cơ hội cho chúng ta nghe, suy tư và quán pháp (Dharma) đều là nhờ vào haœo tâm cuœa keœ khác cung hiến. Chứng đắc giaœi thoát và giác ngộ đều tùy nơi haœo tâm cuœa chúng sinh hữu tình. Nếu chúng ta cứ thiền quán như thế, chúng ta sẽ được xác tín sâu xa về lòng tốt mà tất caœ chúng sinh đối với ta.

Vì những nguyên nhân chính để được sinh vào caœnh người là tu luyện Trì giới, Bố thí và Nhẫn nhục, có lẽ đời trước chúng ta đã hành trì những môn trên. Vậy ai là đối tượng cho việc chúng ta tu Trì giới, Bố thí và Nhẫn nhục? Không ai khác là chúng sinh. Không có chúng sinh, chúng ta không thể có lý do sinh ra làm người. Chính nhờ lòng tốt cuœa họ mà ta được thân mạng báu, điều này còn có nhiều ý nghĩa hơn caœ một vũ trụ rộng lớn đầy ắp caœ ngọc ngà châu báu.

Kế sinh nhai độ nhật cuœa ta đều do lòng tưœ tế cuœa keœ khác chu cấp. Từ đời trước qua đây đâu mang theo món gì, thế mà vừa khi ra đời chúng ta có nào nhà cưœa, ẩm thực, y áo và đuœ thứ cần dùng — tất caœ đều do lòng tốt cuœa keœ khác cung cấp. Mọi lạc hươœng ta có đều do lòng quaœng đại cuœa keœ khác, trong quá khứ cũng như ơœ hiện tại. Chúng ta có thể sưœ dụng nhiều thứ mà phần ta không phaœi gia công chi nhiều. Hãy xét những tiện nghi mà ta có như kiều lộ, xe cộ, tầu hoœa, máy bay, tàu bè, hàng quán, lữ quán, thư viện, baœo tàng viện, hiệu buôn, vân vân. Rất nhiều người phaœi vất vaœ làm việc và traœi qua biết bao gian lao cùng cực để có ngày nay thế này. Chắc có người gân cổ cãi không phaœi tại ai tốt bụng gì cho hươœng công không lấy tiền. Vậy thì tiền từ đâu mà có? Đâu phaœi haœ họng chờ sung rụng hoặc tiền tự nhiên mọc trên cây. Tiền bạc là do người khác làm ra. Chắc có người gân cổ cãi tiền đâu phaœi biếu không mà là đực lưng trâu mồ hôi mồ hóng mới có. Cãi nữa, thì sơœ dĩ ta có công ăn chuyện làm cũng do keœ khác cung cấp. Vẫn có người thuê mướn chúng ta hoặc giao dịch thương mãi với chúng ta. Được sắp đặt công ăn việc làm hoặc công việc kinh doanh tất nhiên ta đã được chu cấp tiền bạc. Nếu ta phối kiểm kỹ lưỡng, ta sẽ thấy rõ hơn vì sao ta đã được giúp đỡ vì lòng tốt keœ khác. Xem xét như thế, chúng ta đi đến kết luận: “Vì lòng tốt cuœa chúng sinh xung quanh ta, ta phaœi thương yêu họ”. Bằng sự quaœ quyết như thế, chúng ta cố sanh tâm thương yêu chúng sinh đồng đẳng, rồi đó giữ vững tâm từ này trong nhất điểm thiền quán.

Nếu chúng ta suy nghĩ minh bạch, chúng ta cũng hiểu rằng tất caœ nguồn vui hiện tại vị lai cuœa ta đều tùy vào lòng ái tha. Thế là vì sao? Đời trước đôi khi ta tránh hãm hại, giết chóc hoặc trộm cướp những người ta baœo dưỡng, chúng ta rộng lượng và kiên nhẫn với họ vì ta yêu họ, và kết quaœ cuœa thiện nghiệp này khiến cho ta được thân mạng báu. Đôi khi trong quá khứ, chúng ta cũng cứu giúp và baœo hộ keœ khác vì ta trông nom, lo lắng cho họ. Kết quaœ là ngày nay chúng ta được giúp đỡ lại và có nhiều điều kiện sinh sống thoaœi mái.

Nếu chúng ta thực tập ái tha chân thành đời này, chúng ta sẽ giaœi quyết nhiều vấn đề như giận hờn, ganh ghét, vân vân, và tâm ta sẽ luôn luôn được bình an tịch tĩnh. Ái tha làm người khác vui sướng cùng ngăn ngừa gây gổ và phân tranh. Nếu chúng ta ái tha, chúng ta sẽ tránh được những hành vi xấu, muốn làm hại keœ khác. Thay vào đó, chúng ta sẽ thực hành những hành vi tích cực như từ ái, kham nhẫn và khoan hồng và như thế đã nghiễm nhiên tạo cơ duyên cho Nhân Sinh Báu trong vị lai. Hơn nữa, nếu chúng ta dụng pháp tu ái tha làm chánh môn, chúng ta sẽ dần dà tăng trươœng Đại Từ Bi và Tâm Bồ Đề. Chung hậu, chúng ta sẽ chứng được lạc phúc tối thắng cuœa Đại Giác.

Suy tư như thế, chúng ta sẽ đi đến quyết định như sau: “Ta phaœi luôn luôn yêu thương keœ khác bơœi vì từ tâm quý báu này sẽ mang lại hạnh phúc cho chính ta và những người khác”. Sau khi suy nghĩ như thế, chúng ta trì giữ tư tươœng này và quán như thế nhất tâm càng lâu càng tốt. Ngoài giờ thiền quán, chúng ta nên tâm niệm thái độ trên vào mọi thời, bất luận là đang làm gì.

Rất quan yếu để thỉnh nguyện tất caœ bậc thánh giác ngộ gia hộ cho chúng ta có tâm nghiệm quý báu biết yêu thương tất caœ chúng sinh hữu tình, tụng đọc bài nguyện sau đây trong “Cúng Dường Thiện Tri Thức” (bLa ma mchod pa):

 

Tâm nào thương yêu baœo bọc muôn loài và đaœm chắc sự an lạc cuœa họ

Tâm ấy là Đại Môn dẫn tới những đức lành vô tận.

Nhận chân điều đó, đệ tưœ cung thỉnh sức gia hộ để

yêu thương muôn loài hơn chính baœn thân,

Dẫu cho họ có nổi dậy như những keœ thù nghịch.

 

 

QUÁN NGÃ HOÁN CAŒI

 

Trong tập “Chỉ Nam Bồ Tát Đạo” (Byang chub sems dpa’i spyod pa la ‘jug pa), Ngài Shantideva có nói:

 

Việc ấu trĩ làm ra chỉ vì lợi ích riêng tư;

Sự nghiệp cuœa chư Phật là làm lợi lạc quần sinh.

Nhắm xem hai hướng đi khác biệt trong đó!

 

Chữ “ấu trĩ” dùng để tham chiếu phàm phu, hạng người chỉ lo tư lợi, chẳng đạt được gì ngoài phiền não, còn chư Phật thì chuyên cần làm việc độ sinh, đã chứng đắc Phật quaœ rốt ráo và đã vĩnh viễn thoát khổ. Thấy được sự khác biệt đó, chúng ta quyết ái nhân hơn caœ baœn thân bơœi vì chúng ta đều cần được giác ngộ.

Lý do chính diễn giaœi những điểm bất lợi cuœa ngã ái và những điểm có lợi do ái tha là, nhờ suy tư chín muồi, chúng ta sẽ đuœ khaœ năng hành pháp Ngã Hoán Caœi. Ngã Hoán Caœi không có nghĩa là ta biến thành người khác và người khác biến thành ta. Cái mà ta trao đổi ơœ đây là đối tượng cuœa lòng từ ái. Hiện thời, chính ta là đối tượng cuœa ái tâm mà ta đặt để, nhưng khi ta dụng pháp Ngã Hoán Caœi, đối tượng cuœa lòng thương yêu mà ta hướng đến chính là tất caœ chúng sinh hữu tình.

Chúng ta cần dụng pháp Ngã Hoán Caœi bơœi vì ái ngã là cội rễ cuœa mọi vấn đề khó khăn, trong khi tâm ái tha là cội nguồn cuœa mọi thiện pháp. Qua lối tu tập này, ta sẽ nhận diện lạc phúc tạm thời và lạc phúc tối thắng.

Chúng ta không nên naœn chí nghĩ rằng lối tu này khó quá. Chúng ta chắc chắn có khaœ năng phát triển kinh nghiệm này bằng cách tập làm quen với nó. Trong tập “Chỉ Nam Bồ Tát Đạo”, Ngài Shantideva nói rằng ngay caœ những việc cùng cực khó khăn như việc yêu thương ngay caœ keœ thù không đội trời chung cũng trơœ nên dễ dàng nhờ năng lực làm quen. Vì sự việc không đến nổi khó quá, nhất định chúng ta có thể áp dụng Ngã Hoán Caœi phaœi thời.

Hình hài nay ta luyến trước thực ra chỉ là do tinh cha máu mẹ hợp lại và quaœ thực không có gì thuộc về ta caœ, thế mà ta cho là cuœa riêng ta bơœi vì ta đã quá quen thuộc với nó. Y hệt như ta quen luyến ái sắc thân này cuœa riêng ta, nhưng trên thực tế, đều thuộc về tinh cha máu mẹ hỗn hợp mà ra, vì thế chúng ta có thể dụng thân keœ khác làm đối tượng từ ái, rồi sẽ dần dà quen với ý niệm mới cho đến lúc, nhờ năng lực quen thuộc trọn vẹn, chúng ta sẽ thấy dễ thương yêu kẻ khác thay vì thương yêu baœn thân.

Đơn cưœ trường hợp tôi làm thí dụ, lúc tôi còn là chú điệu tám tuổi, tôi đã toœ lòng từ ái sắc thân một chú điệu. Khi tôi thọ tỳ kheo giới lúc hai mươi mốt tuổi, tôi đã toœ lòng từ ái với sắc thân tỳ kheo treœ tuổi. Đến lúc được tám mươi, tôi sẽ toœ lòng từ ái với sắc thân cuœa một vị tỳ kheo niên lão. Chúng ta tươœng đối tượng quán sát đều như nhất, thế mà đâu phaœi thế. Lúc tôi là một vị sư tăng, sắc thân sãi nhoœ đâu còn nữa. Đối tượng từ ái thay đổi theo năm tháng. Ý niệm về cái “Tôi” biến đổi vì đối tượng đổi biến. Con người hồi nẫm tuyệt nhiên không còn nữa. Nhân chỗ đối tượng từ ái tự nhiên biến đổi cách đó, chúng ta chắc chắn có thể chuyển đối tượng từ ái qua chúng sinh khác. Để tăng trươœng tâm địa ái tha, chúng ta phaœi căn cứ sức phát tấn, sự quen thuộc và thực tập.

Sau khi suy tư những điểm trên, chúng ta nên phát triển quyết định dứt khoát chỉ có thương yêu chúng sinh khác, rồi đó, nhất tâm tập trung hết tư tươœng vào quyết định này càng lâu càng tốt.

Tốt hơn nên bắt đầu bằng cách toœ lòng từ ái với thân hữu, quyến thuộc, rồi từ từ đến chỗ bao hàm tất caœ chúng sinh hữu tình. Không thể trong một ngày mà thành đạt, nhưng với sự kiên gan trì chí mọi việc đều nên. Chúng ta cần duy trì caœm thọ ái tha trong suốt lúc ngưng thiền và áp dụng chung với mọi sinh hoạt hàng ngày. Trắc lượng tu chứng Ngã Hoán Caœi, theo đó, ơœ hoàn caœnh nào chúng ta cũng thương yêu người khác hơn caœ thương yêu chính mình.

Rất thiết yếu cầu sự gia trì cuœa chư Phật, chư Bồ Tát và Thánh Chúng giúp ta thực hiện pháp Ngã Hoán Caœi, đọc tụng bài nguyện sau đây trong “Cúng Dường Thiện Tri Thức” (bLa ma mchod pa):

 

Do chỗ ái ngã là cưœa ngõ cuœa mọi thống khổ

Còn lòng yêu thương Chúng Sinh Như Mẹ Ruột

là đầu mối cuœa mọi thiện đức,

Đệ tưœ ngưỡng xin sức gia hộ khiến cho đem hết tim gan ra mà tu tập

Phép Du Già Ngã Hoán Caœi.

 

 

QUÁN THỌ NHẬN VÀ BỐ THÍ

 

[Luân Chuyển Tu Luyện Thọ Nhận và Bố Thí.

Khởi đầu sự Luân Phiên bằng Tự Thân Thọ Nhận.

Quán Hai Môn theo Hơi Thơœ Ra Vào.]

 

Phép quán này gồm hai phần:

1. Thọ Nhận vì từ bi

2. Bố Thí vì từ ái

 

Trong khi chúng sinh đang đau khổ, không bao giờ họ được hươœng sự an vui thuần tịnh, vì thế chúng ta bắt đầu với phép tu gánh vác khổ đau cuœa chúng sinh và phép tu kế tiếp là tự thân bố thí lạc phúc. Luân phiên mà tu hành hai bộ môn này.

• Thọ Nhận Vì Lòng Từ Bi

Không ai không caœm thấy đau xót khi thấy con cái, cha mẹ hay thân hữu cuœa mình quằn quại trong khổ đau, trong khi những người có xu hướng toàn thiện traœi lòng từ bi chí đến keœ xa lạ. Thỉnh thoaœng mọi người đều có sự thương xót chúng sinh. Đây chính là Phật Tánh. Nếu chúng ta traœi rộng ra lòng từ bi hữu hạn, cuối cùng chúng ta sẽ phát triển được lòng từ bi tự phát một cách dễ dàng đối với tất caœ chúng sinh. Tâm địa này, là Đại Từ Bi, nói rõ ý muốn baœo vệ muôn loài khoœi khổ đau phiền não. Bằng cách phát triển và hoàn thiện Đại Bi Tâm, rốt ráo sẽ trơœ thành lòng từ bi cuœa một đức Phật, chỉ bấy nhiêu thôi, đủ sức bảo vệt tất cả chúng sinh thoát khoœi khổ não. Vì lẽ đó, có cách giác ngộ bằng cách gia tăng lòng từ bi sẵn có và làm cho nó trổ hoa sinh trái.

Có lời dạy rằng từ bi là căn cơ thành Phật bơœi vì một đức Phật chỉ có thể sinh khơœi từ tâm từ bi. Từ bi là căn cơ cuœa Dharma bơœi vì chư Phật thuyết pháp độ đời cũng do lòng bi đối với chúng sinh. Từ bi cũng là căn cơ cuœa Tăng già (Sangha) bơœi vì Tăng già không có cách chi hình thành nếu không đào luyện bi tâm.

Vị Lạt Ma Mông Cổ Tayang, thiền gia vĩ đại và là bậc học giaœ rất được trọng vọng, có trứ tác bài kệ tán Từ Bi Tâm, tựa đề “Chuỗi Pha Lê Báu” (sNying rje chen po la bstod pa rin chen shel phreng). Trong đó, Ngài nói:

 

Từ Bi là Mẹ cuœa tất caœ chư Phật;

Từ Bi là cuœa caœi báu nhất cuœa chư Bồ Tát.

Từ Bi là bạn hữu vô hình cuœa sáu neœo luân hồi.

Nguyện cho Đại Từ Bi che chơœ đệ tưœ.

 

Không thể nào làm tăng lòng từ bi nếu ta không biết cách tu đúng pháp. Chư Phật đâu phaœi đã được giác ngộ ngay từ đầu. Họ chỉ là phàm phu như ta và như thế, đều có hạt giống từ bi. Họ đã dùng những phương pháp đúng đắn để tăng gia từ bi, làm công hiệu lần lần cho đến lúc cuối biến thành Vô Thượng Đại Bi Tâm cuœa một đức Phật. Đó là vì sao Lạt Ma Tayang đã nói Từ Bi là Mẹ cuœa tất caœ chư Phật. Nếu chúng ta muốn được chứng giác, chúng ta nên hành trì như chư vị đã chứng toœ và gia tăng tâm bi đương thời cuœa ta.

Chư Bồ Tát nhập con đường tu Đại Thừa (Mahayana) do vì Đại Bi và từ đó trơœ đi mọi phạm vi hoạt động cuœa họ đều do lòng từ bi thúc đẩy. Do sức từ bi, cuối cùng họ đều đắc đạo. Đấy là lý do vì sao chư Bồ Tát đều xem Từ Bi là kho tàng quý báu nhất.

Từ Bi thực sự giúp ích và bảo hộ chúng sinh, nhưng vì chúng sinh không thể trực tiếp quán thấy nên gọi là “bạn vô hình cuœa chúng sinh lục đạo”. Có Đại Từ Bi, chúng ta không còn sợ luân hồi sinh tưœ gì nữa và không có sự hiểm độc phaœi sa xuống cõi giới dưới thấp. Chúng ta sẽ du hành từng hyœ caœnh cho đến chỗ giác ngộ viên mãn. Như vậy thì, Từ Bi chính thật là nơi quy ngưỡng và thuœ hộ tất caœ chúng sinh.

Khi người mẹ nhìn thấy con thơ lăn lộn đau thương, người mẹ khơœi lòng bi thương xót vì bà yêu thương con mình nhưng khi bà nhìn thấy keœ thù gặp ruœi ro, bà chẳng caœm thấy xót thương gì caœ vì bà có yêu thương gì keœ thù. Nếu bà có tâm không thiên vị yêu thương muôn loài, thì thay vì có đầu óc thiên vị như thế, tự baœn năng bà sẽ như nhất thương xót sự đau đớn cuœa keœ thù cũng như bà thương con bị khổ. Hễ ý niệm ái tha càng rộng traœi, chiều phát huy cuœa từ bi càng nới rộng.

Thay vì bận tâm với những thắc thoœm riêng tư, chỉ có nước làm ta thêm sầu não phiền muộn, ta nên lưu tâm đến hoàn caœnh khó khăn cuœa keœ khác. Làm như thế ta sẽ bắt đầu biểu hiện lòng trắc ẩn đối với họ. Nếu ta nhìn kỹ mỗi người ta gặp — ta sẽ thấy rằng bạn bè, láng giềng, người dưng keœ lạ, keœ giàu người nghèo — ai cũng có caœnh khó riêng. Ngay caœ những người ít khổ nhất cũng có lúc phaœi traœi qua cái đày aœi cuœa sinh, lão, tưœ, thất vọng chán chường, những caœnh trái ý, và sẽ có ngày ai cũng phaœi va phaœi khuœng hoaœng để đời. Nói chi ngay sát na này, xem truyền hình chúng ta thấy dân chúng bị khổ ngoài sức chịu đựng. Ngay caœ các vị lãnh đạo chính quyền và các tay cự phú cũng không ngoại lệ. Mặc dù chúng ta có thể so đo với những hạng người như thế và có lẽ ta nghĩ rằng họ rất sung sướng vì có địa vị và tiền tài, nhưng điều này rất trái sự thật. Họ có nhiều rắc rối phiền hà hơn ta tươœng bơœi vì trọng trách phaœi gánh và nhiều khi có thể nguy hiểm đến thân mạng.

Với một tâm trạng ưu ái, thương yêu tất caœ chúng sinh hữu tình và nhận thức được cái đau làm người, chúng ta nên suy tư và quán chúng sinh khổ nhiều lần và rán sinh tâm thương xót tất caœ, tư niệm như thế này: “Thật là huyền diệu biết bao nếu tất caœ loài hữu tình đều hoàn toàn thoát khổ!”. Khi chúng ta đã phát tâm bi như thế, chúng ta tìm cách duy trì tâm ấy bằng quán nhất điểm càng lâu càng tốt.

Rất quan yếu để thỉnh cầu caœnh giới tụ hội cuœa chư Phật chư Bồ Tát cùng các bậc giác ngộ khác nhiều lần, nhờ vào sức gia trì mà chúng ta có thể chứng nghiệm Đại Từ Bi, tụng đọc bài nguyện sau đây trong “Cúng Dường Thiện Tri Thức” (bLa ma mchod pa) cuœa Ban Thiền Lạt Ma Lozang Chokyi Gyaltsan:

 

Sau khi đã cân nhắc vì sao chúng sinh trầm thống đều là mẹ ruột

Đã nuôi dưỡng đệ tưœ qua nhiều đời, với lòng từ mẫn,

Nguyện cầu sự gia hộ cuœa chư Phật giúp tăng trươœng lòng bi chân chánh,

Như lòng bi cuœa người mẹ ưu ái dành cho đứa con một.

 

Khi đã thực sự bước vào Quán Thọ Nhận, trước tiên chúng ta phát triển bi caœm đối với tất caœ hữu tình tự đáy lòng và để cho caœ con tim trơœ thành một với Từ Bi. Đoạn chúng ta bắt đầu Quán Thọ Nhận khổ đau cuœa người khác.

Chắc có vài vị thấy rất khó chịu đau thế keœ khác, nhất là cho keœ thù nghịch. Quán như thế có dễ hay không còn tùy mức độ phát tâm từ bi lúc đầu. Nếu thấy khó, chúng ta có thể bắt đầu bằng cách gánh trước mọi khổ đau vị lai cuœa chính ta. Không cần thiết phaœi gánh cái khổ quá khứ, mà chỉ gánh những cái ta phaœi chịu đựng từ đây cho tới lúc thoát khoœi luân hồi (samsara). Trước tiên, chúng ta hạ quyết tâm:

Thân tâm này đây, ngày nay gánh chịu hết tất caœ mọi khổ đau tương lai. Làm như thế ta sẽ thanh tẩy mọi nghiệp báo ô uế và ta sẽ thoát khoœi mọi khổ não vị lai. Rồi đó, ta mới có thể từ từ mà gánh đau cho keœ khác.

Sau khi đã hạ quyết tâm, chúng ta quán tươœng tất caœ mọi khổ đau sắp đến trong hiện đời, chẳng hạn: bệnh khổ, lão khổ và chết khổ, dưới hình hài những cụm khói đen cuộn lại thành một khối lớn và hòa tan trong tim, hoàn toàn tiêu huœy tâm ái ngã và hắc nghiệp cuœa ta. Đoạn chúng ta quán tươœng hết thaœy khổ não cuœa đời sắp tới hòa tan trong tim như những cụm khói đen, một lần nữa hoàn toàn tiêu huœy tâm ái ngã và nghiệp quaœ bất thiện cuœa ta. Chúng ta phát khơœi sự xác tín về việc thanh tẩy hắc nghiệp vì đã hoàn toàn tiêu diệt tâm ái ngã và sinh hyœ. Đây là diễn ý dòng kệ trong chánh văn:

 

[Khơœi đầu sự Luân Phiên bằng Tự Thân Thọ Nhận.]

 

Có hai phương pháp dạy cách tu hạnh thọ nhận khổ đau cuœa người khác. Phương pháp đầu là đặt tiêu điểm quán sát toàn thể chúng sinh và gánh hết khổ đau cuœa họ. Phương pháp kế là đặt tiêu điểm quán tươœng cá nhân hữu tình hoặc một nhóm riêng biệt và gánh hết mọi khổ não cá biệt.

Để thực hành phương pháp đầu, chúng ta nên xem tất caœ loài hữu tình như một bà từ mẫu và suy tư:

Chúng Sinh Như Mẫu đang chìm đắm trong luân hồi khổ haœi, qua biết bao đời lẩn quẩn trong chốn cùng khốn quá sức. Huyền diệu thay nếu họ được thoát biển khổ. Cầu cho tất caœ đều được độ thoát. Đích thân ta sẽ độ thoát tất caœ.

Với sự thúc đẩy mãnh liệt cuœa lòng từ bi, chúng ta suy tư:

Nguyện cho hắc nghiệp và phiền não cuœa tất caœ chúng sinh hữu tình chín muồi trong tôi và như thế chúng sinh sẽ tức khắc thoát khổ và căn nguyên cuœa khổ.

 

Đồng thời với lời nguyện tha thiết ơœ trên, chúng ta quán tươœng khổ và hắc nghiệp cuœa tất caœ chúng sinh tụ lại thành hình dạng những cụm khói đen hòa tan trong tim ta, hoàn toàn tiêu diệt ngã ái. Chúng ta phát huy sự tín phục sâu đậm: “Nay ta đã giaœi thoát tất caœ chúng sinh khoœi bể sinh tưœ và nhơn đó diệt được lòng ái ngã cuœa ta”. Chúng ta bèn trì lòng xác tín một chặp, rồi đó sinh hyœ và quán đơn điểm lòng ấy càng lâu càng tốt.

Phương pháp kế tiếp là đặt tiêu điểm vào những nhóm chúng sinh riêng biệt, chẳng hạn như các loại chúng ơœ một trong sáu neœo luân hồi (samsara) và quán gánh hết mọi khổ não cuœa từng nơi. Tập trung hết tư tươœng đến những tội nhân đang đọa Nhiệt Địa Ngục, chúng ta suy tư:

Những tội nhân đây, từng là từ mẫu cuœa ta, không phương chi thoát được caœnh lưœa nóng thiêu đốt hàng kiếp. Thật là kỳ diệu biết bao nếu tất caœ đều thoát khoœi khổ đau kinh hoàng càng nhanh càng tốt.

Cùng với tâm địa từ bi ơœ trên, chúng ta suy tư:

Nguyện cho tất caœ tội nhân thoát đến bờ cõi tự do khi tôi tình nguyện lãnh gánh mọi ác nghiệp chín muồi ơœ họ và chịu vào hoœa ngục.

 

Đồng thời với lời nguyện chân thành ơœ trên, chúng ta quán tươœng tất caœ khốn nạn và ác nghiệp cuœa tội nhân tụ lại thành dạng những cụm khói đen hòa tan trong tâm ái ngã ơœ tim ta, hoàn toàn tiêu diệt tâm ấy. Chúng ta phát triển lòng xác tín: “Nay ta đã độ tất caœ tội nhân thoát khoœi khổ đau cuœa Nhiệt Ngục và nhân đó diệt được tâm ngã ái cuœa ta”. Chúng ta trì lòng xác tín này một chặp, rồi đó sinh hyœ và quán lòng ấy càng dài lâu càng tốt.

Một cách tương tợ, chuyên tâm chú mục đến các tội nhân ơœ Hàn Địa Ngục, chúng ta suy tư:

Chúng Sinh Như Mẹ này đây đang traœi qua bao kiếp giam trong lãnh ngục chịu khổ quá sức. Kỳ diệu thay nếu tất caœ đều được độ thoát!

Cầu cho mọi người đều được giaœi thoát. Đích thân ta sẽ giaœi thoát chúng tội.

 

Cùng với lời nguyện thành tâm ơœ trên, chúng ta quán tươœng bất thiện nghiệp và caœnh khổ lãnh ngục cuœa tội nhân tụ lại thành dạng những cụm khói đen hòa tan trong tim ta, hoàn toàn tiêu huœy tâm ái ngã cuœa ta. Chúng ta khai triển đức tin sắt đá: “Ta đã độ tất caœ tội nhân ơœ Hàn Địa Ngục thoát khoœi caœnh khổ, nhân đó diệt được tâm ái ngã cuœa ta”. Chúng ta trì lòng xác tín này một chặp, rồi đó sinh hyœ và quán lòng ấy càng lâu càng tốt.

Đoạn, chúng ta tập trung tư tươœng đến những loài ơœ caœnh giới Ngạ Quyœ (yi drags), nhận diện tất caœ từng là mẫu thân cuœa ta, nhưng nay phaœi chịu đau khốn qua nhiều kiếp chết đói chết khát. Động lòng trắc ẩn biết bao trước caœnh tượng như thế, chúng ta suy tư:

Thật là huyền diệu biết bao nếu họ không còn phaœi chịu khổ như thế nữa. Cầu cho tất caœ đều thoát khổ. Ta phaœi ra công cứu họ.

 

Với lòng từ bi như thế, chúng ta tha thiết cầu nguyện:

 

Cầu cho tất caœ bất thiện nghiệp và caœnh đói khát cuœa Ngạ Quyœ đều chín muồi trong tôi, độ họ qua hết những quaœ và nhân bức hại cuœa caœnh khổ sắp tới.

 

Chúng ta quán tươœng mọi khổ caœnh cuœa Ngạ Quyœ tụ lại thành dạng những cụm khói đen hòa tan với tâm ái ngã trong tim ta và trọn vẹn loại trừ tâm ấy. Trì giữ một chặp cái ý niệm xác quyết ta đã trọn giaœi thoát tất caœ chúng sinh ơœ caœnh giới Ngạ Quyœ, nhân đó diệt được tâm ái ngã cuœa ta, rồi đó ta sinh hyœ và lưu tâm trì giữ caœm thọ này càng lâu càng tốt.

Đoạn, chúng ta hết sức chú tâm đến các loài ơœ caœnh giới Bàng Sanh và suy tư:

Các người mẹ đáng thương này bị xua vào đường vô minh tăm tối, bị loài khác hành hạ, bị loài người khai thác, giam nhốt, tàn sát, cùng nhiều thứ khuœng bố và khổ caœnh khác. Kỳ diệu biết bao nếu chúng được giaœi thoát lập tức. Cầu cho chúng được tự do. Ta sẽ giúp cho chúng được độ thoát.

Chúng ta quán tươœng tất caœ thống khổ cuœa Bàng Sanh tụ lại như những cụm khói đen hòa tan với tâm ái ngã trong tim ta, làm cho mọi th