PHẬT GIÁO và KHOA HỌC
(Buddhism and Science)
Trần Chung Ngọc
chuyển ngữ
Nguyên tác của Tiến Sĩ Buddhadasa P. Kirthisinghe
Tổng Thư Ký Á Châu Vụ, Đại Diện Hội Đại Bồ Đề Ấn Độ và Tích Lan,
Đặc Sứ Danh Dự Hàn Lâm Viện Phật Giáo Hoa Kỳ, New York
Nếu chúng ta duyệt qua lịch sưœ văn minh Tây phương, bắt đầu ơœ Hi Lạp, thì chúng ta sẽ thấy rõ sự kiện là, trong nền văn minh này, không những có nhiều cuộc chiến tranh và xung đột thaœm khốc trong đó có nhiều ngàn người bị hi sinh, mà phần lớn những cuộc chiến tranh này xaœy ra không phaœi vì lý do kinh tế. Nhiều cuộc chiến đã xaœy ra vì sự xung đột giữa những quan niệm về baœn chất, nguồn gốc và số phận con người và thế giới. Những quan niệm này bắt nguồn từ tôn giáo.
Tôn giáo chuœ lực ơœ Tây phương là Ki Tô giáo. Do đó, chúng ta có thể nói chắc rằng, tôn giáo này phaœi chịu trách nhiệm về những cuộc chiến với bao máu đổ nói trên. Vì, tới thế kyœ thứ 4 dương lịch, Ki Tô Giáo đã trơœ thành ý thức hệ chuœ yếu cuœa thế giới Tây phương. Tôn giáo này buộc con người phaœi tin những điều cuœa tôn giáo đưa ra, cũng như phaœi chấp nhận những điều mà tôn giáo này cho là chân lý.
Vì tất caœ các giáo điều cuœa giáo hội Ki Tô được đặt căn baœn trên niềm tin về sự mặc khaœi, mà sự mặc khaœi thì được viết trong Thánh Kinh, cho nên tất caœ những điều trong Thánh Kinh phaœi được coi là những chân lý tuyệt đối. Người nào nghi ngờ những chân lý này sẽ bị tội đày xuống hoœa ngục.
Cho nên, điều rõ ràng là căn baœn chung cùng cuœa Ki Tô giáo, tôn giáo tự cho là căn baœn cuœa nền văn minh Tây phương, là niềm tin về sự mặc khaœi cuœa Thần (God), và theo sự giaœi thích cuœa Ki Tô giáo, Thần là điều kiện cần cuœa mọi tín ngưỡng.
Khoa học, trái lại, đặt căn baœn trên những giaœ thuyết tiên thiên khác. Khoa học quan sát, mô taœ, thiết lập chân lý bằng chứng minh và kiểm chứng thực nghiệm, và bất cứ người nào cũng có thể đạt tới những kết quaœ chung cùng mà không cần phaœi có một niềm tin nào. Lòng tin không suy lý hoàn toàn không có chỗ đứng trong khoa học, chỉ có sự áp dụng một cách lương thiện một phương pháp khách quan, và rồi chấp nhận những kết quaœ cuœa phương pháp này. Cho nên người ta baœo rằng khoa học là nỗ lực cuœa con người, hoàn toàn khác biệt với quan niệm cuœa Ki Tô giáo, một tôn giáo đặt căn baœn trên một niềm tin, một niềm tin đặc biệt, vì, theo niềm tin này thì mọi niềm tin cuœa mọi tôn giáo khác đều sai lầm và phaœi bác boœ.
Hơn nữa, khi phạm phaœi một sai lầm thì khoa học gia không bị trừng phạt trong đời này cũng như trong đời sau. Nhưng trong Ki Tô giáo, một lỗi lầm sẽ có những hậu quaœ vô cùng khắt khe và không chỉ trong cuộc đời hiện tại. Chúng ta có thể hoan hỉ nói rằng, ngày nay, Ki Tô giáo không còn đặt nặng trên cái giáo điều lên án mọi lý luận và quan niệm khác biệt nữa. Những tông phái chính cuœa Ki Tô giáo đã trơœ thành nhân hậu và khoan dung hơn trước nhiều. Nhưng qua nhiều thế kyœ, họ đã chống đối kịch liệt phong cách cuœa các khoa học gia, những người đã cố gắng trong việc tìm ra baœn chất thực cuœa thế giới và cuœa con người, qua thực nghiệm và suy lý chứ không phaœi là dựa vào một cuốn sách cổ được viết bơœi những người dựa vào trực giác và những điều mà họ cho là mặc khaœi. Mọi tiến bộ về khoa học và kỹ thuật ơœ Tây phương, không phaœi là do lòng tin vào quyền lực siêu nhiên, mà phần lớn lại chính là do sự phuœ nhận niềm tin này hay ít ra cũng là lãnh đạm với niềm tin này.
Mọi sự đã có thể tốt đẹp hơn nếu những giáo điều cuœa tôn giáo phù hợp với thực tế mà các nhà khoa học khaœo sát. Nhưng rõ ràng là không phaœi vậy. Vì không có một quan niệm siêu nhiên nào, thí dụ như sự hiện hữu cuœa một vị Thần có đầy tính người, những phép lạ, sự sa ngã cuœa con người, và sự cứu rỗi con người, có thể được chứng minh một cách khách quan, và nhất là do sự suy lý. Khi giáo hội không thể baœo toàn được những điều gì bất khaœ chứng minh, hoặc những gì ngược lại sự hiểu biết và kinh nghiệm thông thường cuœa con người, thì giáo hội đã phần nào ngưng truy tố những khoa học gia, những người đã anh dũng baœo vệ sự diễn giaœi thực tại cuœa họ. Khoa học gia không còn bị bịt miệng hay thiêu sống trên giàn hoœa vì những "sai lầm" cuœa họ nữa, bơœi lẽ Giáo hội không còn có thể từ chối cái quyền lý luận và chứng minh cuœa các khoa họa gia nữa, vì những quyền này đã đưa đến những caœi tiến đáng kể trong đời sống vật chất cuœa con người trong các phạm vi kinh tế và xã hội. Giáo hội Ki Tô đã không góp được phần nào trong đường hướng caœi tiến này vì tín ngưỡng Ki Tô baœo rằng Thần muốn vậy, thí dụ như sự nghèo khổ là con đường đi tới hạnh phúc.
Không ai có thể nghi ngờ được là phần lớn những sự tiến bộ ơœ Tây phương là về phương diện vật chất. Có thể thế giới đã có nhiều tiến bộ hơn nếu tôn giáo không can thiệp vào những sự diễn giaœi cuœa khoa học về thực tại và thế giới bằng những suy đoán siêu nhiên, bằng những lời trong Thánh Kinh hoặc những lời mặc khaœi cuœa Thần, thí dụ như, thế giới này thì phẳng, trái đất thì cố định và mặt trời quay xung quanh trái đất, và rằng dùng khoa học để thưœ nghiệm những hiện tượng thiên nhiên là sai lầm, và rằng không có sự tiến hóa hay nhân duyên trong vũ trụ, và quan niệm chân thực là tất caœ chỉ do sự sáng tạo cuœa một vị Thần. Trong hầu hết những sự tiến bộ, tôn giáo đã đối nghịch với khoa học gia và cho tới ngày nay, nhiều người vẫn còn gọi khoa học là vật chất, vô tôn giáo. Tôn giáo thường ngăn chặn những giá trị và những caœi tiến cuœa đời sống con người. Những điều kiện sống, dù tàn khốc tới đâu, cũng được coi như là sự thưœ thách cuœa Thần đối với niềm tin nơi Thần, và để sưœa soạn cho một đời sống hạnh phúc mai sau nơi Thiên đường. Sự lạc quan cuœa khoa học thường bị lên án, và một thái độ bi quan được thay thế, kêu gọi con người phaœi thống hối, phaœi biết xấu hổ, phaœi tuân phục ý muốn cuœa Thần, theo như sự diễn giaœi cuœa các cấp lãnh đạo trong giáo hội.
Đối ngược với tất caœ những điều trên là thái độ cuœa Phật tưœ, những người mà trong các ý nghĩ hay hành động, không bao giờ bị ngăn ngại bơœi bất cứ một giáo điều hay sự mặc khaœi siêu nhiên nào. Phật tưœ ngưỡng kính Đức Phật, bậc giác ngộ đã nhận thức được nguồn gốc khổ cuœa thế giới, những điều kiện tàn khốc mà con người phaœi sống trong đó, bệnh tật và chết chóc. Ngài muốn cho mọi người sung sướng, muốn giúp con người thoát ra khoœi vòng khổ đau. Ngài muốn chỉ cho con người con đường đi tới Niết Bàn hay sự giaœi thoát vĩnh cưœu.
Đó là điều Đức Phật đã làm, không đòi hoœi con người phaœi tin vào một đấng siêu nhiên, một vị Thần, hay là tin vào chính Ngài dù Ngài là bậc toàn mỹ. Nếu một người đang sắp bị chết đuối thì người đó không hoœi những người đứng trên bờ là nước hồ sâu bao nhiêu, nước lạnh như thế nào, hồ nước thuộc về ai v.v... Tương tự, một người đang bị một mũi tên độc hành hạ thì không hoœi về loại cung tên nào, bắn tới từ bao xa, hoặc những câu tương tự. Caœ hai người đều biết làm thế nào để cứu họ ra khoœi vòng nguy hiểm, các điều khác đều ra ngoài lề và không thực tế. Cũng như vậy, thật là không thực tế khi nói về những điều họ tin về một vị Thần, có thực hay không là Thần đã sáng tạo ra thế giới, hay thế giới hoặc vĩnh cưœu hoặc không, vô định hay hữu định. Đó là những nghi vấn mà những triết gia, những đấng Phạm Thiên trong cổ kinh Ấn Độ và những người quan tâm tới siêu hình học muốn có sự giaœi đáp. Những vấn đề trên không phaœi là vô ích khi ta muốn tìm hiểu chúng, nhưng nếu một người đang ơœ trong một tình trạng khó khăn và muốn thoát ra khoœi tình trạng này, thì những suy đoán về siêu hình học hay về Thần học quaœ thực là vô ích. Đức Phật không lên án những sự suy đoán về tuổi cuœa thế giới, baœn chất cuœa sự sáng tạo hay những điều tương tự. Thí dụ, một khoa học gia chuyên về sự cấu tạo địa chất sẽ không quan tâm tới những điều mà một nhà sinh lý học nói về cơ thể con người và những cơ quan trong đó. Nếu ông ta muốn biết những điều trên ông ta sẽ hoœi một y sĩ, nhưng không phaœi là lúc hoœi những điều này khi ông ta đang khaœo cứu về địa chất. Cũng như vậy, một người tìm kiếm hạnh phúc và sự bình an trong tâm tư sẽ xét đến những điều Phật dạy để đạt tới những điều trên. Họ có thể là một triết gia hay một nhà Thần học, họ có thể là một nhà luận lý biết rất nhiều về vấn đề siêu hình. Nhưng trong trường hợp này họ không cần đến kiến thức đó. Điều này không làm cho họ trơœ thành Vô Thần hoặc là họ đã thoœa mãn với những vật chất họ có. Cho nên, chúng ta thấy Đức Phật không hề đối nghịch với bất cứ ai có những tín ngưỡng khác. Mục đích cuœa Ngài là đáp ứng nhu cầu cấp thời cuœa con người muốn thoát ra khoœi caœnh khổ đau. Một y sĩ săn sóc những vết thương cho một bệnh nhân không có hoœi là bệnh nhân có đi lễ nhà thờ hay không? Ông ta là một y sĩ và nhiệm vụ cuœa y sĩ là chữa bệnh cho bệnh nhân. Cũng như vậy, Đức Phật là y sĩ cuœa thân và ý, và Ngài đã dùng phương pháp khoa học là: trước hết phân tích chứng bệnh.
Vì dùng phương pháp khoa học, Đức Phật đã chứng toœ rằng Ngài đích thực là một khoa học gia. Vì lý do này cho nên thật là chẳng nhằm khi chúng ta hoœi Đức Phật, các đệ tưœ cuœa Người, hay những lời Người tuyên thuyết có thể coi như là có tính cách khoa học hay là thù nghịch với khoa học? Đức Phật và các tín đồ Phật giáo, và toàn thể phương cách Phật giáo dùng, đều phù hợp với tinh thần khoa học. Do đó, không có sự đối kháng đối với bất cứ ai chấp nhận những nguyên tắc khoa học. Đức Phật và Phật tưœ đón nhận mọi khám phá khoa học, mọi áp dụng cuœa phương pháp khoa học, vì những điều này không bao giờ trái ngược với những nguyên tắc mà Đức Phật và các Phật tưœ thường theo.
Tuy nhiên, mỗi người đều có một kinh nghiệm chọn lựa riêng. Do đó con người thường chọn lựa những phương pháp để hoàn chỉnh điều kiện cuœa họ và boœ qua những phương pháp khác. Để vượt qua những đau khổ và phiền não, Đức Phật đã chọn phương pháp luân lý đạo đức. Nhưng ngay caœ trong phương pháp này chúng ta cũng thấy rõ những tiên thuyết mà Người đưa ra, vì Người xét mọi sự dựa trên những liên hệ nhân quaœ, và thường vạch rõ những mối liên hệ vi tế mà vì gấp gáp hoặc thiếu kiên nhẫn, chúng ta thường boœ qua không để ý tới, những mối liên hệ mà các nhà phân tâm học ngày nay đã thấy rõ.
Khoa học đặt căn baœn trên sự phân tích, nghĩa là khaœo sát kỹ càng mỗi hiện tượng, xem xét từng phần một và tìm ra nguyên nhân. Đó chính là những điều Đức Phật đã làm. Nhận thức về sự hiện hữu cuœa Khổ và phiền não, và nhận thức về nguyên nhân cuœa mọi sự việc, là hai nhận thức đặc thù cuœa Phật giáo. Nhận thức thứ nhất bắt nguồn từ sự quán chiếu và nội quán đưa đến sự tổng quát hóa kinh nghiệm cuœa con người, và nhận thức thứ nhì là huyết mạch cuœa khoa học, dù là khoa học ơœ Đông phương hay Tây phương. Vì cùng chia xeœ một căn baœn nhận thức cho nên làm sao mà Đức Phật và các Phật tưœ có thể đối nghịch với phương pháp khoa học? Làm sao họ có thể bóp nghẹt khoa học khi mà chính họ đã dùng cùng những phương pháp khoa học? Làm sao họ có thể nguyền ruœa khoa học? Làm sao họ có thể ra lệnh cấm đoán một thí nghiệm khoa học với luận cứ: hãy cầu nguyện, tin tươœng vào những điều ghi chép bơœi những người không phaœi là khoa học gia?
Chúng ta có thể đoan quyết rằng Phật giáo chưa bao giờ có sự đối nghịch với khoa học hay khoa học gia, đừng nói là hành tội các khoa học gia vì những khám phá cuœa họ, bắt họ phaœi sưœa đổi quan niệm hoặc đưa họ lên thiêu sống trên giàn lưœa. Những điều trên không những làm cho các Phật tưœ, những người có một đời sống đạo đức hiền lành, không thể nào hiểu nổi mà đối với họ còn hoàn toàn phi lý vì Phật tưœ không bao giờ chống đối các phương pháp khoa học. Sự thật là, trong lịch sưœ Phật giáo chưa bao giờ có sự đối nghịch với các khoa học gia, Phật giáo chưa bao giờ tuyên chiến với khoa học cũng như chưa bao giờ ngăn chặn khoa học với luận cứ là khoa học đã đi lạc đường và hoạt động cho điều ác thay vì điều thiện, như một số nhà đạo đức và Thần học đã phát biểu. Khoa học có tính cách trung lập; và chính là tâm trí và sự hành xưœ cuœa con người cần phaœi được hướng dẫn theo những tiêu chuẩn luân lý đạo đức, và đây cũng chính là nhiệm vụ cuœa Phật giáo. Chiến tranh giữa khoa học và Ki Tô giáo? Thật ra đã có quá nhiều cuộc chiến như vậy. Chiến tranh giữa Phật giáo và Khoa học? Không bao giờ.
Không những là chưa bao giờ có chiến tranh giữa Phật giáo và các tôn giáo khác, mà rất hiếm khi ta thấy Phật giáo bất đồng ý kiến với những cố gắng tìm tòi chân lý. Phật giáo chưa bao giờ chống đối hoặc cưỡng lại những tìm tòi chân lý này, trái lại còn khuyến khích những cố gắng tìm tòi này nữa. Một câu hoœi được đặt ra là, tại sao khoa học không được phát triển ơœ Đông phương khi mà Phật giáo đã thịnh hành ơœ những quốc gia Đông phương từ nhiều thế kyœ? Câu traœ lời thật là đơn giaœn. Thực ra Đông phương đã có nhiều khám phá khoa học hơn là người ta thường biết tới. Nhưng chúng ta không nghiên cứu văn minh Đông phương từ quan điểm này và nghĩ rằng nền văn minh Tây phương hiện đại là cao hơn. Phật giáo quan thiết chính yếu tới sự an lạc cuœa tâm hạnh con người, tới lòng từ bi, và quan tâm tới sự vui sướng cuœa người khác, hỉ, những điều này có tác dụng làm giaœm bớt sự khổ trong thế giới hay ít ra là không làm tăng thêm những sự khổ này. Chúng ta hãy xét đoán một cách chính xác về sự phát triển khoa học và kỹ thuật chiến tranh như thế nào trong khi những vấn đề xã hội còn ơœ trạng thái thật đáng buồn. Thí dụ, chúng ta có cách mạng thiên đường xuống hạ giới, nhưng luôn luôn chúng ta lo sợ và bị ám aœnh bơœi chiến tranh. Mặt khác, Phật tưœ, tuy không phát triển kỹ thuật để thoœa mãn mọi người với một đời sống an nhàn không vất vaœ, nhưng thực sự đã tìm thấy con đường hạnh phúc và giaœi thoát. Người Phật tưœ không để tâm vào vấn đề tranh giành và chiến tranh, luôn luôn sống trong hòa bình và nghĩ tới phương cách ngăn chặn chiến tranh.
Có một quan niệm Tây phương là: chính vì Tây phương đã traœi qua những cuộc khuœng hoaœng trí thức và tình caœm, kể caœ cuộc chiến tranh giữa khoa học và tôn giáo, nên đã tạo thành khuôn mẫu văn minh Tây phương mà con người đã đạt tới đời sống cao hơn, trươœng thành hơn, đã trong sạch hóa con người và tự giaœi thoát. Nhưng thật ra có đúng như vậy không? Con người có đạt tới một đời sống tinh thần cao hơn không? Ngay ơœ Tây phương nhiều người đã nghi ngờ các điều trên. Nhưng đối với Phật giáo, Phật giáo chưa bao giờ góp phần vào những đau khổ trên thế giới, và thường luôn luôn tìm cách làm nhẹ bớt những đau khổ này mà không cần phaœi hi sinh đời sống tinh thần.
Tôn giáo Tây phương vẫn từng có thái độ độc tài và khoa học Tây phương cũng vậy. Cho nên tự nhiên là khoa học và tôn giáo Tây phương phaœi đụng độ nhau. Phật giáo chưa bao giờ mang tính chất độc tài và chưa bao giờ phaœi đi ra ngoài Giáo Pháp để tránh đụng độ với khoa học. Không những vậy, Phật giáo không thấy có sự khác biệt nào với khoa học, đừng nói đến chuyện coi khoa học là địch thuœ. Cho nên, không có lý do nào mà những đức tính cuœa Phật giáo lại không được duy trì trong thế giới tân tiến này. Có thể Phật giáo còn cống hiến cho đời sống hiện đại cuœa con người và xã hội những căn baœn luân lý đạo đức trong thời đại khoa học kỹ nghệ, điều mà từ trước tới nay tôn giáo Tây phương không làm được vì tôn giáo Tây phương vẫn còn nghi ngờ và e dè trước những mục đích vật chất cuœa khoa học. Bằng những thoœa hiệp với khoa học, tôn giáo Tây phương không đuœ tự tin về những nguyên tắc cuœa mình. Gần đây những nguyên tắc này đã bị những tín đồ thông thường cũng như những cấp lãnh đạo trong tôn giáo Tây phương đặt thành vấn đề để bàn cãi. Giáo lý đạo đức rõ ràng cuœa Phật giáo đã chiếm được lợi thế qua sự phân tích, nghĩa là qua tinh thần khoa học hiện đại—và không hề bị hạ thấp bơœi những đòi hoœi thuần tín ngưỡng.