BUDDHA HOME

 PHẬT PHÁP

 

horizontal rule

 

  PHẬT-GIÁO VÀ THANH-NIÊN ĐỨC-DỤC

Phạm Hữu Bình

(Bài này có liên hệ đến bài Sự Hệ Trọng của Đức Dục của Đinh Văn Nam

– xin tìm đọc trong cùng mục Đạo Đức của Buddhahome)

 

Thưa các Ngài,

Thưa các bạn,

Anh Nam đã nói rõ hệ-trọng của Đức-dục và đã qủa quyết việc đức-dục muốn chắc thiệt phải xây dựng trên một nền-tảng vững. Chúng tôi đã tin nền-tảng ấy là Phật-giáo.

Trước đây nghe đến Phật-giáo, chúng tôi đã nghi-ngờ là mê-tín, yếm-thế, nhưng may sao có dịp học Phật-giáo, học với tâm, với trí thanh-niên, chúng tôi nhận được, và tin chắc rằng Phật-giáo là một nền-tảng rất vững cho việc đức-dục thanh-niên ngày nay.

Trong bài diễn-văn sau đây tôi sẽ xin giải rõ lòng tin ấy.

Xét trong tâm-hồn thanh-niên xu-hướng nhân-ái rất bồng-bột, song lúc tiếp-xúc với đời gặp hoàn-cảnh xấu, nên trí họ hóa nghi ngờ giá-trị đạo-đức, vì thế mà tâm trí bấp bênh, đời sống lăn theo dục vọng, dễ trụy-lạc.

Không có lý-thuyết nào rốt ráo phá tan lòng nghi ấy, trừ ra Phật-giáo, vì Phật-giáo rất thích hợp với tâm-trí thanh-niên ngày nay:

     

  1. Thanh-niên nghi-ngờ, lại không thể tin được lý gì mù-mờ, hay độc-đoán, mà Phật-giáo lại bằng vào hiện-trạng phát-minh ra lý tâm-cảnh vô-nhị cùng lý vô-ngã rất vững-vàng; lại có lối lý-luận rạch-ròi để cắt nghĩa; vì thế trí phải tin.
  2.  

  3. Các phương-pháp sửa mình của Phật rất hiệp với tinh-thần khoa-học chớ không theo các lối mê-tín dị-đoan.
  4.  

  5. Phật-giáo vạch cho một lối sống thiệt rộng lớn, lợi-lạc rất hiệp với xu-hướng tối-cao của nhân-loại và nhất là rất thích-hợp với tâm hồn trẻ ngày nay, tâm-hồn mà trong ấy xu hướng nhơn-ái rất bồng-bột.

NHƠN-ÁI VÀ ÍCH-KỶ

1. Xu-hướng "Nhơn-ái" rất bồng-bột trong tâm-hồn thanh-niên

Sau khi nghe những lời hô-hào oanh-liệt hoặc chứng kiến các nghĩa-cử, hoặc đọc lịch-sử rực-rỡ của các bậc hào-kiệt anh-hùng, thế nào các bạn cũng thấy vang lên trong tâm-hồn những ý mạnh và nghị-lực như trào lên trong tim-óc; bạn khoan-khoái thấy mình có mối nhiệt-tâm như thế và bạn tự-hào có tấm lòng đồng với lòng các bậc tuấn-kiệt cổ-kim. Lòng trung-trực đanh-thép của Trần-hưng-Đạo, lòng ưu-ái của Lê-thái-Tổ, ai cũng khâm-phục, ai cũng muốn có, đời trong-sạch, thành-thật vị-tha của một Y-doãn hay Châu-công, ai cũng muốn sống, nhất là các bạn thanh-niên lại càng hâm mộ.

Sau khi nghe những việc loạn-luân, dâm-ô, lừa-đảo, phản-bội ai cũng chau mày nhiết mắng bọn vô-loại, chỉ biết theo dục-vọng ích-kỷ hại nhơn.

Ai cũng muốn tránh các hành-vi xấu-xa, các nơi bùn lầy, muốn thi-thố các cử-chỉ đoan chánh, muốn bước lên nơi sáng lạng; nhưng biết bao người đã bị đau khổ vì xu-hướng về một nơi mình nhận rõ là cao quí, mà không thể làm theo được. Nhận thấy rõ sự trái ngược đó, cũng không ai bằng thanh-niên!

Thanh-niên nhận rõ sự mâu thuẫn ấy, nên họ lo lắng tìm cách bổ-trợ. Chúng tôi đã từng thấy biết bao thanh-niên hăm hở đọc các sách về giáo-dục như sách của Payot, Jagot, của Dr Victor Pauchet. Các bạn đọc một cách chăm chú, có bạn chép cả hàng đoạn để học thuộc lòng. Thật là những bạn trẻ có chí-hướng , nhưng chí-hướng ấy sẽ bồng bột được bao lâu? Hay rồi cũng sẽ tiêu-tán như bao nhiêu chí-hướng khác!

Chúng ta yêu các tánh tốt, ghét các tánh xấu tức chúng ta đã biết trọng đạo-đức, vì chúng ta nhận rõ rằng con người dầu vô-tài mà có đức, cũng đáng mến đáng gần. Nếu có tài gồm cả đức thì thật là vị phước-tinh cho nhơn-loại, dầu người ấy ở vào địa-vị nào, dầu họ làm việc gì, họ sẽ bủa công-đức và tình-yêu ra chung quanh như nguồn nước mát mẻ tưới cho hoa cỏ thấm nhuần.

     

  1. Hoàn cảnh làm nghi-ngờ đạo-đức

Ta trọng đạo-đức nếu chung quanh ta được một làn không-khí đạo-đức trong-sạch thời có lẽ chúng ta cứ thuận tiện mà tiến lần lên, tất một ngày sẽ đến chỗ toàn-thiện toàn-mỹ.

Nhưng khốn nạn, nếu ta thành-thật xét kỹ thời chung quanh ta kẻ chân đạo-đức thiệt rất ít; đó là cái khổ chung cho nhơn-loại, còn đối với thanh-niên chúng ta, chúng ta chịu thêm một từng khổ nữa, vì sống nhằm một thời đại ít thích-hợp với xu-hướng của tâm-hồn đang trong-sạch của tuổi xuân, tâm-hồn đầy yêu-đương và nhiệt-thành và sẵn-sàng để phụng-sự những lý-tưởng cao quý.

Cái hoàn-cảnh ấy thế nào, anh Nam đã nói rõ, tôi không nhắc lại, nhưng điều chắc-chắn, thanh-niên chúng ta ai cũng công nhận là một khi mình tiếp xúc với đời, sẽ lần lần chịu ảnh-hưởng xấu; Cái tâm hồn trong sạch đã bợn-bùn, mình đã từng nghi-ngờ giá-trị đạo-đức ít nhiều, chúng ta đã từng hỏi:

"Người quả thiệt cần sống đạo-đức chăng?" hỏi như thế cũng chẳng khác chi tự-hỏi: "Người ta có cần sống theo xu-hướng nhơn-ái không?" vì đạo-đức thiệt ra chỉ là những tánh tốt của người biết yêu biết trọng người khác, đạo-đức chỉ là hiện hạnh của xu-hướng nhơn-ái. Trái lại người không đạo-đức chỉ là người sống với vật dục, sống theo xu-hướng ích-kỷ.

Chúng ta sở dĩ hỏi như thế vì thấy chung quanh ta, người vẫn sống với rất ít đạo-đức; và chúng ta nghi ngờ đạo-đức có lẽ chỉ là một tập-quán mà một vài thời-đại trước, theo hoàn-cảnh cần thiết, đã in vào não nhân loại; vì chúng ta nhận thấy nhiều người ích kỷ vẫn làm được nhiều công-cuộc rầm rộ, chúng ta tự hỏi:

"Đạo-đức có bó buộc sức phát triển tài-năng của chúng ta không, có làm cho đời sống của ta thiệt thòi, có làm giảm sức giúp ích cho đời của chúng ta không?"

NGHI NGỜ

Trong lúc chúng ta biết xét mình xét người đôi chút, mà đặt được các câu hỏi kia, cũng là lúc chúng ta biết đọc sách, là lúc chúng ta tiếp xúc với các nhà triết-học, đạo-đức, tư tưởng Âu tây. Trong số ấy có người binh-vực, có người hoài nghi đạo-đức có người (phần nhiều các tiểu-thuyết-gia) binh vực sự sống theo vật-dục, sống theo cảm-giác, sống để thỏa thèm muốn của xác thân! Chúng ta lại gặp trong các lý-thuyết ấy sự trái ngược hỗn-độn của tâm hồn ta: một đàng hô hào cổ động lối sống trong sạch vị-tha, một đàng ca-tụng lối sống thỏa dục-vọng!

Một thời, phái sau này đã gần thắng thế, nếu các người theo nó không bị tai-hại một cách quá rõ rệt thì mấy ai còn gượng được sức cám-dỗ của nó. Vì nếu ta tuy nhận sống vị-tha là cao-quý ta vẫn ngờ sống theo dục-vọng có lẽ là lối sống tự-nhiên, lối sống thích hợp cho loài người. Dầu người tự chủ được ít nhiều cũng có lúc nghi-ngờ và rán sức tìm tòi một cách khách-quan các lý lẽ đôi bên để phân-xử cho công-bình, để quyết một phen xem nên vụt lên với xu-hướng nhơn-ái hay nên theo xu-hướng ích-kỷ.

Không lý-thuyết nào phá nghi được!

"Nên sống nhơn ái, hay sống ích-kỷ" đó là vấn đề ít ai dám công-nhiên bàn đến, nhưng chắc không ai không thầm nghĩ đến! Các đạo-đức-gia, triết-gia, các Tôn-giáo cũng đã từng lập thuyết gắng giải-bày; nhưng ai đã xem qua triết lý Âu-châu, cũng nhận thấy các lý-thuyết đối lập rất mâu-thuẫn nhau, Ngài nào cũng khuyên nên sống theo nhơn-ái, sống ly-dục v.v… nhưng không ai giải-nghĩa ráo rốt sự mâu-thuẫn của hai xu-hướng vị-tha và vị-kỷ! Rốt cuộc, vì không thuyết nào ráo rốt nên đánh đổ lẫn nhau, chắc ai là người đã xem qua triết-lý Âu-châu cũng thừa nhận điều ấy.

Có lúc theo chân các tư-tưởng gia; chúng ta đã mon men cùng họ lên cõi siêu-hình, nhưng chúng ta mất thì giờ, vì chúng ta có cảm-tưởng rằng những cõi siêu-hình ấy, ai cũng có thể tưởng-tượng theo tầm hay biết, theo tập-quán, theo trình-độ học-thức của mình. Mất thì giờ thiệt vì chúng ta không phải là những người muốn tìm kiếm trong triết-lý một thú thắc-mắc hơn thú đọc tiểu thuyết, không phải vì kế sanh nhai mà học triết-lý, chúng ta chỉ là những kẻ dốt nát đang phân-vân với vấn đề sống, muốn tìm kiếm các bậc đã có suy-nghĩ đến vấn-đề sống ấy, những bậc sáng suốt hơn để họ trả lời cho chúng ta những câu hỏi cần kíp và hệ trọng đến đời sống hiện-tại.

Tuy mất thì giờ thiệt, nhưng không phải vô ích, vì chính nhờ những nhà hiền-triết, đã đem tất cả tư tưởng cống hiến cho chúng ta, đã cho ta thêm nhiều kinh-nghiệm. Chúng ta đã biết được nhiều điều sai-lầm của chúng ta, chúng ta đã biết nghi ngờ các thành-kiến mà những người dốt nát như chúng ta đã in vào não non-nớt của chúng ta.

Nhưng nếu biết nghi-ngờ là điều có ích cho trí, nghi-ngờ là rất hại cho đời sống của chúng ta, nhất là vì ta đang sống trong một xã-hội đầy thói xấu mà ta tuy đã nhận được các sự tàn-hại của nó, nhưng vẫn không đủ sức tự-chủ!

Đã nghi-ngờ thì phải gắng sức tìm-tòi một đường mới: nếu Pasteur cứ nghi-ngờ không có lý "tự-nhiên-sanh" mà không tìm tòi thời làm sao phát minh ra vi-trùng? Nếu Christophe Colomb nghi-ngờ quả đất không phải vuông mà không tin quả đất tròn thời có gan dạ đâu vượt biển tìm Tân-thế-giới? Chắc các bạn đã nghĩ thế và không nản chí suy tìm.

Chúng tôi cũng từng nghĩ như các bạn và trong lúc phân-vân không tìm được lời giải thỏa đáng trong các lý-thuyết Âu-tây, chúng tôi nhớ đến Nho-giáo, nền tảng đạo-đức của xã-hội ta, Nho-giáo đã nói đến "Tánh bản thiện", chúng tôi đã quay lại xem tứ-thư là tinh-túy của đạo Nho, nhưng theo các sách căn-bản còn lại đó, thời đức Khổng và đức Mạnh chỉ một mực khuyến thiện trừng ác chứ không hề trả lời một cách xác đáng các câu hỏi thắc mắc làm bận rộn trí chúng tôi. Đạo Ngài bị thất truyền chăng? Dầu có nghĩ thế và có muốn tin Ngài là bậc Thánh-nhân, muốn nhắm mắt vâng theo, trong dạ cũng không khỏi nghi-ngờ! Ngài là Thánh-nhân, nhưng Thánh-nhân hai ngàn rưỡi năm về trước, có lẽ không thể thấu được tâm-lý nhơn loại hiện nay, biết đâu theo tình-thế hiện thời nguyên-tắc đạo-đức không thay đổi? Biết đâu không có một lối sống thích-hợp hơn? Vì các sách còn lại không đủ lý lẽ để phá tan lòng nghi của chúng ta, nên dầu biết nghi ngờ là khổ là hại, nhưng trí chưa yên, thời cũng không biết làm sao, quyết định tin theo một cách chân thành được. Vả lại các sách cũng không dạy cho chúng ta những phương-pháp thiết-thiệt để sửa mình, đó là điều khuyết-điểm hết sức lớn.

Không ai trả lời thỏa-mãn những câu hỏi của chúng ta, hay ta gắng tìm lấy chơn-lý, tôi dám chắc nhiều bạn đã có ý-chí gan dạ ấy, nhưng rừng triết-lý, thần học, tôn-giáo, đã làm cho bạn nghi-ngờ trước sự thành công của bạn, rốt cuộc sau khi đã gắng sức ít nhiều, cuối cùng bạn phải đầu hàng vũ-trụ đầy bí mật. Sau lúc tấn tới mệt mỏi lắm rồi, chúng ta đành chịu nhận một sự thiệt không chối cãi được là chúng ta đã sinh ra phải sống, sống để rồi chết; ai sanh ta ra? Chết rồi đi đâu? Suy nghĩ tìm tòi đều thất công; còn trong khoảng đời sống ngắn ngủi ấy, sống theo lý-tưởng hoặc theo vật-dục đều như nhau, không cần phân vân suy-đoán, vì làm gì cũng không thoát khỏi chết! Dầu tự an ủi như thế bạn cũng không thể an lòng! Vì tư-tưởng vẫn cuồn cuộn nổi lên, các sự xảy ra vẫn khích thích bạn luôn luôn chúng ta phải phán đoán, phê bình, suy nghĩ, định đoạt để đối phó với hoàn-cảnh, và muốn làm các việc ấy cho đúng, chúng ta nhận rõ cần phải có một lý gì làm căn cứ chứ!

Hay là ta cứ theo lời thần truyền cho yên? Không ai cấm bạn, nếu bạn tìm tòi mệt mỏi và muốn nhận một lời an-ủi để cho khỏe trí, nhưng tôi nhận thấy thanh-niên ngày nay không thể thành-thật tin thần nữa, trong họ nghị-lực giồi giào họ cảm thấy có thể suy-nghĩ tấn tới, tìm tòi không mỏi-mệt, các sự phát minh hùng-vĩ của khoa học đã làm cho họ phấn-chí họ thà gắng học mà không giỏi còn hơn chịu trước sự dốt, vậy tất các bạn sẽ tránh xa những ai khuyên bạn tin càn, tin các giáo-lý độc-đoán, không được nghi-ngờ, kiểm-soát để phán-đoán. Các bạn đã từng nghe thần tiên ở xứ ta nhập vào ông đồng bà cốt để truyền-phán, các bạn đã thấy rõ sự tai hại của người tin theo các lời ấy một cách mù quáng. Bất cứ ai xưng với bạn là thần-thánh, là hoàn-toàn mà đức kém lý-sự không thông thì không bao giờ nhiếp phục được bạn.

Không tìm đâu được người hướng-đạo chắc-chắn, tự mình cũng không đủ sức tìm đường, lắm lúc chắc nhiều bạn đã thất-vọng muốn sống một cuộc đời hồn-nhiên như cây-cỏ, không suy-nghĩ, không cảm-tình, sống chỉ vì đã lỡ phải sống. Vì các bạn đã nhận thấy cái vô-nghĩa của đời sống, đã tự hỏi, người ta cũng như muôn vật, sao phải hủy hoại muôn ngàn đời sống khác để giữ cái thân sống của mình? Rồi để lại làm mồi cho những thân khác? Nầy sát sanh, nầy chiến-tranh! Sao người ta cam chịu biết bao nhiêu điều khổ để giữ cái thân mình sống? Nầy tật bệnh, đói khát, lo lắng, có người bị hành-hạ, mổ-xẻ, đâm đốt luôn-luôn cũng cam-tâm sống và chịu hành phạt? Lại người đời sao luôn-luôn hiểu thấu muốn sống vui, phải biết sống bác-ái, nhơn-từ, vị tha v.v... luôn luôn trông mong và hô hào thế, sao mà công-việc lại toàn do vị kỷ làm động lực và kết quả lúc nào cũng hại nhiều hơn lợi!

Bạn lại tự xét thương hại cho mình cũng đồng ở trong số phận tù-túng đáng thương của mọi người.

Những ý-nghĩ bi-quan ấy làm cho bạn ngờ rằng cảm-tình là gốc của đau-khổ, suy-nghĩ là gốc của phiền-não; vậy chi bằng trút quách hai gánh nặng ấy đi! Nhưng còn gì buồn lạnh bằng khi nghĩ mình sẽ phải sống một cách vô-vị để rồi tan-rã đi một cách vô-vị như cây, như đá! Vả lại đã có người cùng với cảm tình ấy với suy nghĩ ấy, đã sống một đời hùng tráng vô cùng lợi lạc!

CHƠN LÝ

Chúng tôi đã nhiều lần tư-lự như các bạn, và có lẽ vì thế mà chúng tôi đã gặp nhau và may mắn đã được nghe lời bậc giác-ngộ dạy.

Đã thất-vọng nhiều lượt, chúng tôi không còn lòng tin hồn-nhiên như trước, các lý-thuyết quá loạn đã gây trong trí chúng tôi một lòng nghi-ngờ đậm. Lại bao nhiêu lời phê-bình thiên-lệch, bao nhiêu cử chỉ của các "kẻ cạo đầu mặc áo thầy tu" đã làm cho chúng tôi ái-ngại trước. Vì thế chúng tôi đã học một cách chăm-chú nhưng rất rụt-rè. Rụt rè vì sợ lời bóng bẩy huyền ảo cám-dỗ, chăm-chú vì chúng tôi đã có những câu hỏi nhất định đang chờ câu trả lời. Trong lúc học chúng tôi luôn luôn nhớ đến lời dặn của nhà thông-thái Payot trong quyển la Volonté et le travail intellectuel: "Si vous lisez un grand esprit comme il faul lire, en le comprenant, c’est-à-dire en confrontant votre propre expérience avec sa pensée, peu à peu vous prendrez conscience de vous même et vous penserez par vous même". (Nếu bạn đọc tác-phẩm của một nhà đại-tư-tưởng, mà biết tìm cách để hiểu nghĩa là biết đem các tư-tưởng của Ngài mà so-sánh với các điều mình đã kinh-nghiệm, lần-lần bạn sẽ tự hiểu và tự-tư-tưởng được); của Đức Khổng: "Thẩm vấn chi, minh-biện chi, thận-tư chi, đốc-hành chi" (Trung-dung) nghĩa là phải hỏi cho kỹ, biện-bác cho rạch ròi, suy-nghĩ cho chín-chắn, và gắng sức mà thực-hành; của ông George Grimm đã nói trong bài tựa quyển "La Sagesse de Bouddha": "Người nào có chí đi trong đường của Phật, trước hết phải khởi sự phá hoại hết những điều mà người ta kiến thiết và phải biết khinh hết mọi đề mà người đã ưa mến từ trước tới giờ. Có làm thế nào khác được đâu, có thể nào một người quen duy trì sự giả-dối mà đạt được chơn-lý đâu? Và lời của Phật trong Kinh Thủ-Lăng-Nghiêm: "A-nan, ông hãy lấy cái lòng ngay-thẳng mà trả lời các câu hỏi của tôi" cùng là "Phật nói Pháp, như lấy ngón tay chỉ mặt trăng, phải nương theo ngón tay mà nhận cho được mặt trăng". Đã học đạo để cốt hiểu đời, để tìm một lẽ sống chơn-chánh tất nhiên phải ghi các lời ấy.

Thưa các bạn, chúng tôi rất cảm động thuật lại với các bạn rằng Phật-giáo đã mở rộng cõi lòng, đã cho chúng tôi một cõi trời mới lạ, chúng tôi nửa hãi hùng nửa mừng-rỡ như những chim non mới nghếch mắt nhìn qua bực ổ! Nhìn thấy không gian vô-tận chung quanh! Hãi hùng vì lý tâm cảnh vô nhị đã mở rộng đời sống chúng tôi vô cùng, hãi hùng vì lý vô-ngã đã làm cho chúng tôi nhận biết lối sống của mình từ lâu nay là hẹp hòi, sai-lầm và cần phải thay đổi; mừng rỡ vì đã tìm được lời giải thỏa-đáng cho những câu hỏi làm bận rộn trí chúng tôi và cứ làm cho tâm trí chúng tôi phân vân không biết lối sống thế nào; mừng rỡ vì Phật đã chỉ vẽ cho những phương pháp sống theo lối mới trong cảnh vô-cùng ấy, chúng tôi không bơ-vơ kinh-khủng như Pascal giữa hai thái-cực, vì chúng tôi như những chim non tuy biết tự mình phải rán sức bay tung trong cõi lạ nhưng lúc nào cũng có sức hộ trì của từ mẫu!

Thưa các bạn lý tâm cảnh vô nhị là lý nền tảng, lý ráo-rốt của Phật-giáo cũng như lý "có thần" của thần giáo, "Đạo-lớn" của Lão-tử "Brahmane chủ tể vạn vật" của Bà-la-môn, "Thần ngã và Tự-tánh" là nguyên nhơn của Vũ-trụ của Số-luận.

Đem lời nói cắt nghĩa lý tối cao của đạo Phật là một điều khó, lấy lời nói của kẻ sơ-học để diễn tả lại là một sự dại-dột táo bạo. Nhưng đã tin lý ấy, đã nhận thấy lý ấy giải quyết được đứng đắn các câu hỏi thắc-mắc ám-ảnh trí thanh-niên chúng ta, nên tôi cũng xin gắng sức giải bầy.

TÂM CẢNH VÔ NHỊ

Tâm cảnh vô nhị, nghĩa là tâm, cảnh không hai, không phải là hai. Tâm xin tạm nói là " cái hay biết" cảnh là cái bị biết; cảnh như cây cỏ, núi non, thân mình, thân người, các hình tướng do tưởng-tượng biến hiện v.v... Còn tâm là cái nhận biết các cảnh đó. Theo thế thường tâm và cảnh không phải một, vì một bên nhận biết, một bên bị nhận biết, nhưng thật ra không thể nói tâm-cảnh là hai được, vì sao?

Vì nếu không có tâm nhận-biết, thời cảnh làm sao hiện ra được, nếu cảnh biến tất cả, thì tâm còn biết được cái chi, mà đã không biết thời sao còn gọi là tâm?

Xét như vậy thời rõ tâm và cảnh hoặc cùng có với nhau hoặc cùng biến với nhau, đã có tương-quan mật thiết như thế thời không thể rời nhau được, không thể là hai được.

Cắt nghĩa rành mạch lý vô-nhị không phải trong phạm-vi bài diễn-văn này, nên tôi chỉ xin cắt nghĩa qua mà thôi; muốn các bạn tự suy-nghĩ mà nhận được tôi xin lấy vài ví-dụ cho dễ hiểu1.

Như một cái diện-tích tròn (cercle) các bạn nhận thấy rõ hai phần: diện tích (surface) và đường tròn ở ngoài (circonférence) hai cái đó không phải là một, vì một bên diện-tích một bên là đường (ligne), nhưng cũng không thể nói là hai được, vì nếu diện-tích mất thì đường tròn ấy cũng mất, nếu đường tròn ấy biến đổi, thì diện tích cũng biến đổi.

Một tỷ-dụ nữa Phật thường dùng để hình dung lý vô-nhị.

Nếu ta kéo xiên một con mắt, ta thấy mặt trăng thành hai cái, hai mặt trăng tuy in tuồng khác nhau, nhưng vẫn là một, chỉ vì xiên mắt mà thấy thành hai mà thôi. Tâm và cảnh cũng vậy, thiệt không phải hai, chỉ vì mê lầm, nên nhận là hai mà thôi.

Trong cái ví-dụ đó, chúng ta cũng có thể nhận rõ rằng hình dáng mặt trăng tùy theo con mắt mà hiện; mỗi con mắt hiện một mặt trăng ở một nơi nên hóa thành hai, nếu bịt một con mắt, thì mặt trăng nào cũng như mặt trăng thường cả. Vậy thiết-thiệt mặt trăng ra thế nào và ở chỗ nào, chúng ta không thể biết được, chúng ta chỉ biết mặt trăng theo con mắt chúng ta mà thôi. Thế thì biết cảnh do tâm hiện và tâm cảnh không thể là hai được.

Thưa các bạn, lý tâm cảnh vô-nhị ấy đã chỉ rõ sự tương-quan mật-thiết giữa mình với người; mình với người chỉ là hình tướng (manifestation) sai biệt của một chơn thể hay chơn tâm; điều chi ích-lợi cho người tất cũng ích-lợi cho mình, điều chi tổn-hại cho người tất cũng tổn-hại cho mình. Cho nên nếu ta biết suy-nghĩ cho chín-chắn, cho sâu-xa, thì sự ích-lợi và thiệt-hại không bao giờ chịu riêng. Cái tay và cái dạ-dày in tuồng không phải là một nhưng thiệt ra không phải là hai, cái tay không làm, cái dạ-dày phải đói, cái dạ dày bị hại, cái tay phải ốm gầy, đó là tượng hình thô-thiển của sự tương quan người và mình. Thiệt ra biết lý vô-nhị mới biết yêu đời một cách thành thiệt và đứng đắn.

Song mình không nhận được lý vô-nhị ấy vì mình cứ nhận lầm cái xác-thịt và cái tư-tưởng theo một thân làm mình. Nhưng xác thịt và tư tưởng có phải là mình thiệt không? Lý vô-ngã của Phật-giáo đã chỉ rõ quan-niệm ấy là sai lầm:

 

LÝ VÔ NGÃ

"Vô-ngã", nghĩa là sự-sự vật-vật giữa đời nầy đều do nhơn duyên mà sanh, không có vật gì có thể-tánh (thể-tánh chắc-thiệt). Như một đạo quân là do nhiều người nhóm thành, lúc dồn lại thì có một hình-thể, lúc ấy dầu cho đổi người này thế người kia, đổi cho đến hết không còn một người quân cũ nào nữa, đạo quân vẫn in-tuồng còn nguyên. Lại đến lúc bãi quân, thì toán quân biến mất, nghĩa là tuy các bộ phận gồm thành toán quân vẫn không tiêu-diệt, mà hình-tướng toán quân thì không tồn-tại; vậy nay chúng ta muốn chỉ cái thiệt thể toán quân ấy thế nào cũng không được và cũng không đúng.

Theo lý vô-ngã đạo Phật đã phát-minh, thân tâm ta chỉ là giả tạm.

Ta nghĩ kỹ mà xem, thân thịt ta đây, tư-tưởng ta đây có phải là ta không? Nếu ta xét kỹ sẽ thấy nó thay đổi luôn-luôn mà cái tánh cách của cái "ta" phải là thường còn không thay đổi chứ?

Thân và tư-tưởng ta thay-đổi thế nào? Xét thân ta lúc một tuổi, khác với lúc 20, lúc 20 khác với lúc 80, nó thay đổi không phải từng kỳ, mà mỗi năm mỗi thay đổi, mỗi tháng mỗi ngày, mỗi giây đều thay đổi, thay đổi đến nỗi, theo sanh-lý học, thời mỗi khoảng 7 năm, các tế-bào trong người đều thay đổi hết không còn một dấu vết của tế-bào cũ, như thế thời cái thân nhỏ nằm trong nôi là ta, hay thân lúc 20 cường tráng tóc xanh, thịt nở là ta, hay thân lúc già mặt nhăn răng rụng là ta. Ai cũng phải nhận cái thân thay đổi ấy quyết không phải là ta thiệt.

Tư-tưởng1 cũng không phải là ta, vì tư-tưởng lúc nhỏ khác, lúc già khác, và lại nó cũng tùy theo hoàn-cảnh, thay-đổi luôn-luôn nếu tư-tưởng lúc nhỏ là ta thời tư-tưởng ấy biến đổi, ta làm sao còn được? Còn như lúc ngủ không tư-tưởng nữa, thời ta đã mất, ta làm sao còn sống được!

Vì không biết rõ lý vô-ngã nên mới nhận lầm thân làm ta thiệt, cho nó thiệt là mình mới cưng-dưỡng nó quá sức, cái chi nó ưa thì ưa theo mà hóa tham, dâm, cái chi nó ghét thời ghét theo mà hóa ươn hèn, khiếp nhược. Không rõ lý tâm-cảnh vô-nhị, nên giữa vũ-trụ bao la chỉ biết chấp một thân-thịt làm mình, nên mới sống một đời sống nhỏ-nhen, đê-tiện và tóm thâu tất cả tánh-cách xấu, các khổ não về mình!

Đã cưng-dưỡng thân tất phải làm nô-lệ cho thân, tức nhiên thành ích-kỷ; xem thế, thì yêu một thân nho,û là tự-ái; mở rộng lòng yêu là nhơn-ái; đem sức suy-nghĩ mà lo-lắng cho một thân, là ích-kỷ; cũng trí suy nghĩ ấy mà đem mưu-cầu hạnh-phúc cho mọi người là vị-tha; ích-kỷ và nhơn-ái thiệt ra chỉ khác nhau có thế.

Nếu nhận rõ lý vô-ngã, biết thân thay đổi là giả-tạm, là biến hiện của chơn-tâm trong khoảnh-khắc, nhận-biết lý vô-nhị là chơn-lý, biết chơn-tâm không phải chỉ là cái suy-nghĩ tư-tưởng mà chính chơn tâm bao-trùm vũ-trụ, thì còn do-dự gì mà không đem tất cả năng lực làm các việc đúng với nhơn ái từ bi.

Nhận được hai lý kia, tin hai lý kia, tức nhiên cái chi thân ưa, mà trái với nhơn-ái ta cần phải tránh, cái chi thân ghét mà đúng với nhơn-ái, ta cũng cứ làm, cứ sai-khiến thân chịu.

Một người như thế chẳng phải là một phước-tinh của nhơn loại, một bực siêu phàm sao? Đó chẳng phải là lối sống mà tất cả các bậc vĩ-nhân cao-quý cứu nhơn loại muốn sống sao? Phật-giáo đã vạch rõ cho thanh-niên lối sống theo nhơn-ái là lối sống mạnh-mẽ nhất, lợi-lạc nhất, rộng rãi nhất, không thể nghi-ngờ được. Lối sống ấy rất hợp với chí-khí thanh-niên ngày nay.

PHƯƠNG PHÁP

Nhưng làm sao theo con đường sáng đã nhận thấy rõ-ràng ấy! Phật đã hiểu rõ sự mê lầm nặng-nề, sự yếu-ớt của loài người, nên đã dạy cho ta biết bao phương-pháp để giữ mình đi cho đúng đường, những phương-pháp sửa mình của Phật-giáo rất hiệp với tinh-thần khoa-học nên rất hiệp với trình-độ trí thức thanh-niên ngày nay.

Luật nhân-quả : Phật-giáo nhận thấy luật nhân-quả là luật gay-gắt. Nhơn-loại đang còn lăn-lộn trong dục-vọng thời còn phải chịu luật ấy chi-phối, luật Nhơn-quả là: nhơn gì có quả nấy, nhơn xấu thành quả xấu, nhơn tốt thành quả tốt. Nhưng nhơn-quả thường không phải đồng thời, nên người ta khó nhận thấy. Tôi đập xuống bàn thời liền có tiếng, nhưng lúc tôi trồng cây, thời mười năm sau mới có trái ăn, người nhận thấu được dây nhơn-quả xa bao nhiêu là kẻ minh trí bấy nhiêu, và có nhận được xa mới biết được nhơn đúng để làm theo, đi cho đến đích.

Theo luật nhân-quả, chúng ta ngày nay sở dĩ có nhiều tánh-xấu, vì xưa nay chúng ta đã tập thói-xấu. Nay đã biết rằng sống nhơn ái là chánh-đáng, đã tin quyết như thế, thời ta phải tạo những nhơn tốt để trừ các tập-quán xấu và để làm mầm mống cho các tánh tốt tương-lai.

Thân ta yếu muốn cho mạnh phải uống thuốc để trừ bệnh và bồi-bổ sức-lực, rồi luyện tập cho tất cả gân-thịt được nở-nang.

Còn muốn đến chỗ đạo-đức vẹn-toàn, Phật đã dạy:

     

  1. Phải trừ diệt các quan-hệ sai lầm của trí: phá lòng "ngã-chấp" gốc sanh ra các thói ích-kỷ. Muốn được thế phải theo các phép chánh quán (quan sát đúng) để nhận thấy chắc chắn lý "vô-nhị" "vô-ngã" giữa vũ-trụ và thân-tâm, chứ không tư-tưởng càn theo thành-kiến; đó là phương-pháp xét-đoán rất hiệp với tinh-thần khoa-học vì các lý ấy không những bằng vào một lối lý-luận đứng đắn (có thể nói là lý-luận toán-pháp) mà còn bằng vào sự quan-sát minh-mẫn và tinh-tường các hiện tượng. Phải định tâm để quan-sát cho tinh-vi, để khỏi bị ảnh-hưởng xấu trở ngại; giúp cho sự diệt các thành-kiến còn có phép "tụng kinh trì chú" là phép rất giản-dị để sửa đổi tinh-thần rất mau. Đấy là những phương-pháp diệt lòng ích-kỷ từ trong ý thức, nghĩa là diệt tận gốc.
  2.  

  3. Phải tập làm các việc trái với thói ích-kỷ, (hay là giữ giới) bắt đầu từ việc nhỏ, như tập ăn vài bữa chay, bố-thí v.v… Đó là cách phá thói-quen sai lạc đã tiêm-nhiễm từ lâu.

Xem thế đủ rõ về lý, Phật-giáo đã đến được chỗ chơn-lý tuyệt-đối, vì không có lý-thuyết nào phá nổi lý "tâm-cảnh vô-nhị", vì thể-trí thanh-niên chúng ta không còn bị một lý-luận tà-vạy gì làm nghi-ngờ được; phương-pháp sửa mình của Phật-giáo lại rất hiệp với tinh-thần khoa-học, nên đúng với trình-độ trí-thức thanh-niên ngày nay; Phật-giáo lại dạy cho một lối sống hoạt-động và thiệt lợi-ích, là lối sống thanh-niên bằng ao ước; vậy thời tâm trí chúng ta đều thỏa mãn, chúng ta làm sao không tin Phật được!

Nếu quả thiệt thanh-niên ngày nay rất ước mong sống mạnh mẽ hoạt-động, lợi-lạc, thì chúng ta phải sửa mình theo 2 phương-pháp Phật đã dạy là "quán" và "giới", vì đó là hai bảo-khí Phật đã chỉ cho ta biết để dùng. Nếu không biết "chánh quán" và theo giới, thời chúng ta không thoát được sức áp-chế của xác-thân, và sẽ chỉ loanh quanh trong dục vọng, chứ không bao giờ thoát mà thiệt lợi-tha được!

Biết bao người, cũng nhận thấy rõ ràng sống nhân-ái là đúng lý, và gắng sống theo, nhưng đời sống biết bao tân-khổ! Chỉ vì họ như vị tướng không hiểu rõ quân giặc ở đâu, và không đủ phương-pháp chiến đấu.

Nhờ Phật, chúng ta nhận rõ lý tâm-cảnh vô-nhị tức như vị "nguyên soái" đã hiểu rõ mục-đích hành binh, nhận rõ lý vô-ngã tức như đã biết rõ trận-tuyến và chỗ sào huyệt của giặc lại biết dùng "giới" để đàn áp, thời đủ hết điều kiện để đi đến sự toàn-thắng.

Thanh-niên, tuổi hăng-hái, ai không muốn trau giồi cho mình mỗi ngày mỗi tốt-đẹp hơn mà chắc đã làm người, ai lại không ước mong thế! Nhưng việc ấy không phải dễ-dàng nhất là trong hoàn-cảnh hiện nay rộn-rịp lý-thuyết đầy dẫy thú-dục, vì thế chúng tôi mới họp nhau thành đoàn-thể để gây nên một hoàn-cảnh thuận tiện cho việc sửa mình của chúng tôi và các bạn đồng-tâm đồng chí sau này. Đoàn thể ấy có một lý-tưởng chung "sống nhơn ái" (nhơn ái là nghĩa hẹp của từ bi, chúng tôi nhận thấy đức từ-bi lớn lao quá không dám nói đến) cùng nhau nhận theo 10 luật đoàn tức là giữ giới, họp nhau cốt để kiểm-soát lòng thành-thật của nhau, giúp đỡ nhau, khuyến-khích nhau học hành theo chân-lý và mỗi năm chúng tôi họp nhau một lần tuyên thệ trước Đức Phật uy nghi và từ-bi để nhắc nhau chí-hướng đeo đuổi.

Thưa các bạn,

Các bạn đã đến đây hẳn đã nhiều phen tư-lự như chúng tôi, hẳn đã có chí muốn sửa mình theo lý nhân quả của Phật, không có việc gì cố chí làm mà không thành, nhất là trong việc sửa mình, vì việc này hoàn toàn thuộc quyền mình.

Chúng ta đã nhận được sự hệ-trọng của đức-dục, chúng ta hiểu rõ hai điều trở-ngại về lý (thành kiến về thân thể, tâm, và ngoại cảnh v.v.) và về sự (lối sống ích-kỷ) làm cho chúng ta không sống đúng với chánh-lý, nên sống hẹp hòi, nghi-ngờ, cực-khổ. Vậy một phen, chúng ta hãy cùng nhau lập chí trừ bỏ các tư tưởng cùng hành-vi ích-kỷ, hãy vận-động cho mình có một chí định như thế, bấy giờ ước-ao các bạn sẽ để mỗi ngày ít thì-giờ nghiên-cứu Phật-giáo, cho biết rõ tâm-tánh mình, cho hiểu rõ vì sao phải sửa mình, cho biết rõ các phương-pháp sửa mình, bấy giờ các bạn mới tự mình nhận thấy một cách chắc thiệt ảnh-hưởng Phật-giáo ích-lợi cho mình và cho người đến thế nào, sẽ làm cho đời bạn vui tươi và lợi-lạc thế nào.

Thưa các bạn,

Đời ta có thể xuôi theo dục-vọng và trôi chảy trong phiền não như từ xưa đến nay, như đời phần đông của nhơn-loại, nhưng một phen thoáng nhận được chơn-lý, ta cảm thấy có sức dừng lại và phấn-đấu và chiến thắng mê lầm để đi theo con đường chánh-đại, để sống đúng với chơn-lý, sống trong hạnh-phúc chơn-thật là lo tạo hạnh phúc chung. Nhưng cái nghị-lực để cải-cách lối sống của mình, cái nghị-lực ấy tất đang còn dồi dào mãnh-liệt trong tâm-hồn trẻ, vì chỉ có những tâm-hồn trẻ mới còn tất cả sinh-lực để phấn-đấu, vì tâm-hồn trẻ (không phải tuổi trẻ) chưa quá bị nhiễm-ô.

Nếu tất cả anh em chúng ta ai cũng đều quyết trau giồi tâm-tánh, quyết sống theo nhơn ái, sống rộng lớn, sống để tạo hạnh-phúc chung, thì lo chi đàn em không người dìu-dắt, gia-đình không vững, xã-hội thiếu kẻ tận-tâm với nhiệm vụ.

Thưa các bạn!

Trăm nghìn ngọn đèn có thể đỏ mà không thắp lên, thời đêm tối vẫn mịt-mờ, nếu có luồng điện mạnh làm đỏ bựt cả lên, thời lo chi ánh sáng không rực-rỡ. Nếu tâm-trí chúng ta được nương theo sức trí-tuệ và từ-bi của chư Phật mà được rạng rỡ lên, thời lo chi không thực hiện được một xã-hội hòa-bình, một nền văn-minh chơn-thật và bền vững, một thế-giới cực lạc.