BUDDHA HOME

 PHẬT PHÁP

 

horizontal rule

 

PHẬT-GIÁO VÀ ĐỨC-DỤC

Đinh Văn Vinh

 

Thưa các Ngài,

Nếu ở các nước khác, Đức-dục là một vấn đề quan-trọng, ở xứ ta vấn đề Đức-dục bị coi như trò chơi, không mấy khi để ý đến.

Làm chứng cớ cho lời nói của tôi vừa rồi, một vài bức tranh của xã-hội Việt-Nam không phải là vô ích. Tôi nói trước: những bức tranh ấy sẽ ảm-đạm, sầu thảm, đáng buồn, nhưng chúng ta phải có can đảm ngó sự thực tận mắt, nếu chúng ta thành thực muốn đưa xã-hội Việt-Nam đến một tương-lai quang đãng hơn, ở hai phương-diện vật-chất và tinh-thần.

Thưa các Ngài, trong một số đông gia-đình Việt-Nam, nền trật tự xưa của Khổng Mạnh xây đắp, nay như bị lung lay đảo ngược. Cha mẹ không hiểu, hay không muốn hiểu địa vị trọng yếu của mình trong gia-đình. Bà mẹ Việt-Nam tân thời, còn nhiều việc đáng làm hơn là hô hào "Phụ-nữ giải-phóng" "nam-nữ bình-quyền", như học và thi hành trọn bổn phận làm vợ, làm mẹ của các bà. Trong khi dạo phố, đánh bài, các bà có biết chăng con các bà đương vò-võ sống trong hiu quạnh, đang đau khổ ngấm ngầm vì không người nâng niu, săn sóc. Các bà có biết chăng, thiếu bà mẹ, gia-đình như mất hẳn linh hồn, và sau nầy, con cái bà lớn lên oán ghét gia-đình, từ chối việc lập gia-thất, đi theo một lối sống phóng đãng, lỗi ấy hoàn toàn ở nơi các bà. Vì các bà không làm trọn phận sự; nên con cái chưa đến tuổi trưởng thành đã vội khinh thường các bậc phụ huynh và chỉ có mỗi một hoài-bão là thoát ly gia-đình, thoát ly mọi sự ràng buộc, để sống một đời mà chúng lầm tưởng là tự do, là đáng sống.

Những cảnh tượng đáng buồn, đáng chán trong gia-đình phát hiện ở xã-hội một cách mãnh liệt và thô tháo hơn. Đấy là những cảnh quen mắt xẩy ra hằng ngày ở chợ búa, phố phường. Tôi miễn phải nói đến.

Biết khi nào, những vết dơ ấy mới xóa được trên bức tranh xã-hội Việt-Nam!

*

* *

*

Trong một xã-hội thiếu tin-tưởng, thiếu đức-dục hạng người đau khổ nhất, đáng phàn nàn nhất là thanh niên.

Người ta thường nói, tuổi thanh niên là tuổi chơi bời, là tuổi vô tư-lự. Người ta nói thế là lầm, là không hiểu gì tâm lý thanh niên. Tuổi thanh niên là tuổi nhiệt thành, tuổi hăng hái. Tuổi thanh niên là tuổi vàng của hy-sinh của tín-ngưỡng, một lòng hy-sinh không vơi như biển cả, một lòng tín-ngưỡng mạnh chắc như đá cẩm-thạch. Tuổi thanh-niên là tuổi của những hoài bão vĩ đại cao qúy… nhưng buồn thay! Đấy là những hoài bão không ngày mai, chỉ trong một thời sôi nổi dưới đáy lòng phút chốc nguội lạnh.

Trong một xã-hội không tín-ngưỡng, thanh-niên phải tự tìm một lý tưởng cao qúy để phụng-sự. Nhưng thiếu kinh nghiệm, lại thiếu một đàn anh tinh nhuệ dìu dắc, sự tìm tòi không hướng dẫn ấy chỉ đem lại cho thanh-niên một thất vọng chua cay.

Khoa-học cũng như triết-lý âu-tây, không đưa lại cho thanh-niên khao khát ánh sáng và chân lý những lời giải thỏa đáng. Chúng ta ở đâu mà đến? Chúng ta đi đâu? Những câu hỏi nầy hiện giờ cũng như mấy ngàn năm về trước, cũng như mấy ngàn năm về sau, đối với khoa-học, sẽ còn mãi mãi là những câu hỏi. Không có một viễn-kính nào vượt qua vòm trời vô cùng vô tận; không một kính hiển vi nào, dầu tối tân đến đâu, soi thấu sức mạnh uyên-nguyên của các vi-trần.

Sự phát-minh của một Maxwell, một Tannery, một Duhem, một Henri Poincaré, chứng rằng khoa học cận đại đương qua một thời-kỳ khủng-khoảng lớn và những hy-vọng to tát của phái biên tập bách-khoa-toàn-thư (encyclopédistes) về thế-kỷ thứ 18 là những hy-vọng hảo.

Cũng như khoa-học, triết-lý Âu-Tây bó tay đứng lặng yên trước màn bí-mật của đất trời. Từ Socrate cho đến Bergson, biết bao nhiêu chủ-nghĩa, học-thuyết sanh diệt diệt sanh mà không học-thuyết nào, không chủ-nghĩa nào đi sâu vào linh-hồn của vạn vật, và giải nghĩa một cách rốt ráo nguyên-nhân và chung cục của vũ-trụ.

Lời than của Aristote sẽ mãi mãi là lời than của nhà triết-học: Tôi sinh trong mê muội, sống trong hồi-hộp, chết trong hoài nghi "Je suis né dans l’ignorance, j’ai vécu dans l’incertitude, je meurs dans le doute".

Khoa học không tương lai, triết-lý không căn bản, thanh-niên biết nương tựa vào đâu? Những năng-lực tiềm tàng trong linh-hồn đem gửi chỗ nào, nếu không ở trong sự chơi bời. Đã thế những tiểu-thuyết ái-tình, những cuốn phim phóng-đãng lại quyến rủ đoanh vây, sớm xô ngã thanh-niên vào vực thẳm của trụy lạc.

Thưa các Ngài, đến đây tôi xin đánh một dấu ngoặc, để lưu ý các Ngài đến một tai-ách của xã-hội Việt-Nam, tôi muốn nói những tiểu-thuyết lãng-mạn hiện giờ đang tràn ngập khắp cả hàng sách.

Loại sách mà cầm đến, một người có lương tâm không khỏi hổ thẹn, loại sách ấy hiện giờ bán chạy nhứt và thấy nhan nhãn ở đầu giường nam nữ thanh-niên Việt-Nam.

Thưa các Ngài, xuất bản những tác-phẩm dơ-bẩn ấy, các nhà văn chỉ có mỗi một mục-đích là "tiền" và đặt tiền trên hết mọi sự, trên danh dự của dân-tộc, hạnh-phúc của cả nước, tương lai của đồng-bào.

Nhưng sở dĩ những tiểu-thuyết kia đối với thanh-niên có một sức cám-dỗ mãnh liệt như vậy, là vì trong gia-đình phụ huynh không để tâm săn sóc đến đức-dục của thanh-niên.

Lúc họ còn bé nhỏ, cha mẹ chỉ biết nuôi ăn sắm mặc; đến trường thầy giáo cũng không quan tâm hơn chỉ chuyên đào tạo những cậu học-trò giỏi, cuối năm đậu cao. Đâu có biết rằng: Không có đức-dục, trí-dục chỉ là một gánh nặng vô-ích, nhiều khi có hại nữa.

Thưa các Ngài, thông-minh học giỏi mà làm gì, nếu không biết đem tài nghệ mình làm những việc ích, nếu cuối cùng chỉ biết cung phụng thân xác mình một cách thông-minh hơn kẻ khác: Tôi sợ rằng trong khi đeo đuổi mục-đích nhỏ nhen và vị-kỷ ấy, con người học giỏi và thông-minh kia sẽ không ngần ngại gì đặt tự-lợi trên lợi-chung, hạnh-phúc mình trên hạnh-phúc toàn thể. Tôi tin rằng: không có đức-dục, thì dầu học giỏi, và thông minh cũng không ích cho ai.

*

* *

*

Thưa các Ngài, xưa nay đã có nhiều người bàn về vấn-đề đức-dục rồi: Herbert Spencer ở nước Anh, Rousseau, Fénelon ở nước Pháp… Channing ở Mỹ… Những thuyết xướng có thể sai khác nhau, nhưng ai cũng hoàn-toàn đồng ý về sự quan-hệ mật-thiết của đức-dục đến văn-minh và hạnh-phúc nước nhà.

Ai ai cũng công nhận rằng văn-minh chân thật chỉ ở trong tâm-hồn người, và trong nước muốn cải cách, vấn-đề mà các nhà cầm quyền phải chú ý đến trước nhất là vấn-đề đức-dục. Muốn có một ảnh-hưởng thiết-thực và sâu xa, chương trình đức-dục phải thực-hành ngay khi người con còn thơ-dại.

Lúc trong tạng-thức, các tập khí như còn tiềm tàng chưa phát động, lúc tâm-hồn như còn bàng hoàng trước hình sắc lộng lẫy của đất trời, chính là lúc tốt nhứt để uốn nắn người con vào chánh đạo.

Công việc khó khăn tỉ mỉ nầy, chỉ có bà mẹ mới đảm-đương được, chỉ có bà mẹ với một tình thương con không bờ bến, với một linh-giác kỳ dị mới có thể đi sâu vào tâm hồn non nớt kia, đón trước tất cả ý muốn, ngăn ngừa tất cả tật xấu và làm nảy nở tất cả mầm tốt đã có sẵn từ vô-thỉ đến nay.

Trong các mầm tốt, tôn giáo là quí hóa và sâu xa hơn cả. Vì Tôn-giáo đối với chúng ta cũng như bóng với hình. Trong lịch-sử nhân loại, hễ có người là có tôn-giáo, bất cứ ở vào thời đại nào, ở dưới chân trời nào.

Tôn giáo, trạng thái trực tiếp của linh-hồn người như Bergson đã nói: tôn giáo, tảng đá vững chắc của linh hồn người như Max Muller đã nói; và nếu thật, người là một sanh vật tôn giáo, thì một người không tôn giáo, hẳn là người thiếu thốn, tàn tật.

Vì thế công việc đầu tiên của người mẹ là giữ gìn chăm sóc cho mầm tôn-giáo trong tâm hồn con mình được tự do phát triển.

Mầm tôn giáo ấy, thưa các Ngài, là bản tánh thường trú chơn-như của chúng ta, là Phật-tánh… theo lời Phật dạy hơn 2500 năm về trước đây.

*

* *

*

Thưa các Ngài, các Ngài đến đây là có túc-duyên với Phật-giáo rồi. Hơn nữa, nhiều Ngài đã nghiên-cứu kinh-điển trì giới tu hành và nhận Phật-pháp là lẽ sống duy nhất của đời mình. Nhưng vì Phật-giáo xứ ta thiếu trật-tự, thiếu tổ-chức nên công việc hoằng dương Phật-pháp của các Ngài chưa được kết quả mỹ-mãn và những quan niệm sai lầm về Phật-giáo, vẫn còn hoành hành khắp các giới trong xã hội Việt-Nam.

Với những người chê Phật-giáo chỉ là xuất thế, (Niết-bàn là hư không) tôi xin miễn trả lời. Xung quanh chúng ta những cảnh gia-đình Phật-giáo yên vui cũng khá hùng hồn để dẫm nát những lời chỉ trích không căn-cứ ấy. Huống hồ, trong kinh Phật, nghĩa chữ hiếu bàn rất rộng, siêu việt hẳn nghĩa chữ hiếu thông thường eo hẹp của người đời. Người đời lấy sự hầu hạ kính nuôi làm hiếu, cầu cho cha mẹ những cuộc vui trước mắt, cuối cùng chỉ làm tăng tội nghiệp của cha mẹ mà thôi.

Sự Cụ Liên-Trì có câu rằng: "Mẹ cha lìa chốn trần hoàn, làm con như thế mới toàn đạo con". Nghĩa là một người con thật có hiếu, ngoài việc hầu hạ kính nuôi, phải độ cha mẹ ra khỏi vòng tam giới, thoát khỏi hẳn tội luân hồi, lìa vĩnh-viễn cảnh khổ ở thế gian mà đến cảnh yên vui thường trú của cõi Phật.

Còn những người ngờ Phật-giáo là tiêu-cực, hẳn không biết pháp nhân-thừa của đạo Phật dạy làm việc đời cho tận thiện, phép ngũ minh của Bồ-tát không bỏ sót một công cuộc xã-hội nào mà không làm.

Gần những Ngài Đạt-Ma, Mã-Minh, Thái-Hư, những chiến-sĩ xã-hội Proudhon, Louis Blanc làm huyên náo một thời trong lịch-sử nước Pháp không đáng kể vào đâu; còn gần công đức vô lượng của đức Thích-Ca đối với gia-đình, xã-hội, nhân-loại, việc "hiển-dương phụ mẫu, quảng đại gia môn" của các nhà Nho còn nghĩa lý gì.

Lại có nhiều người trong phái Nhất-thần-giáo, cho rằng: Phật-pháp là một triết-lý thế gian, ngang hàng với triết-lý Khổng Mạnh. Có biết đâu pháp thế-gian chỉ là một phần như bọt sóng trong toàn thể Phật-giáo như biển lớn, và tự cõi người ô-trược cho đến cõi Phật thanh-tịnh trang nghiêm, chúng ta cần phải tu biết bao nhiêu pháp xuất-thế-gian, chúng ta còn phải vượt qua biết bao nhiêu tầng trời!

Một hạng người khác lại cho rằng Phật-giáo là một tôn giáo, mà tất cả tinh-hoa xưa đều bị dìm dưới những lễ-nghi huyền hoặc và phiền phức.

Thưa các Ngài, Đức Phật đã là một bậc Đại-giác-ngộ thì còn một uẩn khúc nào, một nhược-điểm nào trong tâm chúng-sanh mà Ngài không soi thấu. Ngài biết rằng nếu để chúng-sanh tự độ lấy, thì biết bao giờ cõi người, cõi ngạ-quỉ, cõi súc-sanh mới biến thành cõi Phật thanh-tịnh trang-nghiêm được. Vì thế, Ngài mới phương tiện nói pháp tịnh-độ, chế ra các lễ-nghi để hằng ngày nhắc chúng-sanh nhớ đến Ngài và tu theo chánh-đạo. Sự liên-lạc mật thiết giữa lễ nghi và tín-ngưỡng không qua mắt những nhà tâm-lý-học sâu sắc như Pascal, gnace de Loyola. Trong quyển "Systema theologicum" ông Leibniz viết rằng: "Tôi không thể đồng ý với những kẻ mượn cớ rằng sùng bái trong tâm-hồn trong lý-tưởng, mà bỏ hẳn mọi lễ-nghi… Chúng ta không thể định tâm được nếu không có một vài sự tướng ngoài giúp đỡ. Mà sự tướng ấy càng biểu lộ rõ rệt lại càng lợi ích".

*

Thưa các Ngài, đối với các em trẻ có một linh hồn dễ cảm, một tưởng tượng mạnh và tươi, những sự tướng như lễ-nghi trang-nghiêm của Phật-giáo có một sức ám-thị quý hóa và sâu xa.

Tôi mong rằng cảm giác đầu tiên len vào tâm hồn chúng nó, là cảm giác thâm thúy cao siêu của những buổi niệm Phật trang-nghiêm, dưới hình ảnh hiền-lành rực-rỡ của đấng Từ-Bi, giữa bài âm-nhạc huyền-diệu của tiếng tụng kinh hòa với tiếng chuông mõ nhịp nhàng.

Rồi đây ra đời, dầu đi đâu, làm gì, những cảm-giác thiêng-thiêng của đời niên hoa xưa sẽ mãi mãi vang động trong thâm tâm chúng nó. Đó là một sức phản-động mãnh-liệt và thắng lợi giúp chúng nó vượt tất cả nỗi khó khăn trên đường đời.

Đó là một gia-tài vô giá, bảo hiểm một cách chắc-chắn nhứt, khôn ngoan nhứt, tương-lai của trẻ thơ.

Song giáo-dục bằng tình-cảm chỉ hợp thời khi còn bé. Lớn lên lòng tin hồn nhiên của thời thơ ấu, cần phải xây lên trên một nền lý lẽ chắc chắn.

Vì thế các bậc phụ-huynh phải học và tu Phật-pháp: Học để đáp những lời gạn hỏi càng ngày càng khó của con cái.

Tu để thỏa-hiệp việc làm với lời dạy, vì: thưa các Ngài, việc làm khi nào cũng to tiếng hơn lời nói, và nếu không có thân-giáo, ngôn-giáo dẫu hùng-hồn đến đâu cũng mất hết cả ảnh-hưởng. Trong gia-đình cha mẹ là những người lớn tuổi nhứt, nhiều kinh-nghiệm nhứt. Đối với các con, cha mẹ là gì, phải chăng là "tất cả", phải chăng là hai người "lý-tưởng" mà chúng học đòi từng lời nói, cử chỉ cho đến dáng-điệu và nét mặt. Nếu không may, hai người lý-tưởng kia đã không xứng đáng gì với tên tốt đẹp ấy, mà lại trưng bày tất cả những cử chỉ và lời nói thô-suất, bất nhã thì ảnh-hưởng đến con cái thế nào?

Vẫn biết rằng: trừ những bậc thánh-nhân tái-lai, chúng ta không ai là người hoàn-toàn cả. Đã sanh ra làm người là vì trong đời trước có tạo nghiệp; và mỗi một hành-vi của chúng ta ở đời nầy, đều bị nghiệp-chướng ấy sai khiến một vài phần.

Nhưng tình thương, cũng như lý-trí, đều khuyên chúng ta cố gắng, đừng diễn trước mắt con cái những cảnh đáng phàn nàn. Chúng ta phải nhớ luôn rằng, mỗi một việc làm hay lời nói đều có hai thứ ảnh-hưởng:

       

    1. Đến người chủ động.
    2.  

    3. Đến hoàn cảnh.

Nếu ảnh-hưởng ấy tốt, tâm người chủ động sẽ được nhẹ nhàng sảng khoái, như lan rộng ra đến gần bản tánh chung cùng là thường, lạc, ngã, tịnh; ở xung quanh hoàn cảnh cũng nhịp nhàng theo điệu cao qúy tốt lành ấy. Trái lại nếu ảnh hưởng ấy xấu, tâm người chủ động như bó thắt lại, chật vật trong phiền não và đau khổ và trên con đường đưa đến chơn-lý giải thoát, người ấy đi lui một bước dài. Hoàn cảnh, tùy sức phản động mạnh hay là nhẹ cũng bị chi phối theo.

Vì thế treo gương sáng Từ-Bi, Công-Bình trong gia-đình, dầu trong thâm-tâm còn đầy-rẫy lòng ngã-ái vị-kỷ, chẳng những ích-lợi cho con cái mà thôi đâu, mà còn ích lợi cho cha mẹ nữa.

Trong một ngày những dịp tốt để treo gương sáng Từ-Bi, Công-Bình, trước mắt con cái không phải là hiếm có; một bà mẹ thông minh hiền lành siêng-năng sẽ thấy trong mỗi một lời nói, mỗi một hành vi của mình, một bài học linh hoạt và đầy đủ cho người con.

Một điều chúng ta nên nhớ là các em trẻ con có một trí quan sát tinh tường và lanh lẹ. Không một việc gì, dầu tầm thường đến đâu, xảy qua đôi mắt tươi sáng của chúng mà không để lại một tiếng vang hay một dấu tích trong tâm hồn ngây thơ và dễ cảm kia. Và mỗi lần có sự trái ngược giữa việc làm và lời dạy của cha mẹ là mỗi lần chúng bâng-khuâng nghi ngờ:

"Mẹ dạy con nên dậy sớm sao mẹ lại ngủ trưa thế?"

"Mẹ khuyên ta nên thật thà, sao mỗi lần ta khóc, mẹ chỉ lừa "Ba về! Ba về! hay hứa cho ta bánh kẹo?" cuối cùng ba cũng chưa về, bánh kẹo cũng không thấy đâu.

Thưa các Ngài, mỗi một câu hỏi ấy là một nhát búa vào lòng tin hồn-nhiên quí hóa của con cái? Và khi lòng tin của thời niên-hoa đã xiêu nát, thì không còn gì có thể thay vào được nữa. Lòng tin mẹ là bước đầu của lòng tin Phật. Nếu bà mẹ không biết gìn giữ, tâm hồn đang hé mở trước cảnh trời lộng lẫy kia sẽ bị vùi dập một cách tàn nhẫn suốt cả đời, có lẽ người con vô duyên, xấu số nầy: sẽ là một người ích-kỷ, chỉ biết sống với mình, xung quanh bản ngã nhỏ nhen của mình thôi.

Còn cảnh-tượng gì chua xót bằng một người con ăn sang mặc sướng, nhưng thiếu tình yêu của bà mẹ hiền từ. Còn cảnh tượng gì đau đớn bằng, một tâm hồn đầy yêu, đầy sống mà sớm bị lòng nghi cùng đau khổ làm vẩn đục và khô héo.

Thưa các bà, một phần đông em bé Việt-Nam đều bị một số phận đen đỉu như thế. Nhưng nếu các bà mẹ muốn, thì chỉ trong một thời gian ngắn thôi, số phận đen xấu ấy trở nên sáng sủa và tươi đẹp.

Thưa các bà, bổn phận của bà mẹ là thay đổi tình thế đáng thương ấy. Hạnh-phúc của bà mẹ cũng ở đấy. Vì bổn phận và hạnh-phúc là hai vấn-đề tương đương. Ly bổn-phận, hạnh-phúc chỉ giả-dối, nhất thời, hạnh-phúc chỉ là đau khổ, chán-nản trá hình. Làm tròn bổn phận mẹ và vợ, tức là đi đến hạnh-phúc chơn thật và lâu dài rồi. Sắc đẹp, giàu sang chỉ là hai trợ duyên không đáng kể.

Mà, thưa các bà, còn sắc đẹp nào lộng lẫy bằng, thanh nhã bằng, sắc đẹp chói sáng mặt một người đàn bà siêng năng, và hiền-lành, cũng như còn sự giàu sang nào chắc chắn và xứng đáng bằng sự giàu sang làm bằng mồ hôi nước mắt của mình.

Nhưng đối với những mẹ làm tròn phận sự, tình thương chơn thành của chồng, lòng mến vô cùng của con cái đã là của báu vô giá rồi. Gia-đình có thể nghèo nàn túng bấn, miễn tình yêu giữa mọi người đầy-đủ dồi-dào thì hạnh-phúc gia-đình không thể lay chuyển được.

Nhiều bà nhiệt-thành hăng hái muốn ra đảm đương công việc nặng nhọc ở xã-hội. Đáng khen thay, mỹ ý ấy… Nhưng còn công việc xã-hội nào quí hóa bằng nặng nhọc bằng đào tạo một gia-đình Phật-giáo hoàn-toàn đầy hạnh-phúc và yên vui, còn công việc xã-hội nào vĩ-đại bằng tự mình uốn nắn một hay nhiều tâm hồn theo tâm hồn mình.

Bergson thường nói đến sự liên-lạc mật thiết giữa hạnh-phúc và tạo tác. Dạy dổ nuôi nấng con cái theo chương trình mình đã vạch sẵn, thỏa hiệp với lý-trí và tình cảm phải chăng các bà đi đến hạnh-phúc tối cao, hạnh-phúc của sự tạo tác.

Thưa các Ngài, đã là Phật tử thì bất luận là tại gia hay xuất gia ai ai cũng một bổn-phận là hoằng-dương Phật-pháp tùy theo sức mình trong cảnh vực riêng của mình.

Đối với các Ngài, còn cách hoằng-dương Phật-pháp nào quí hóa bằng, thích-hợp bằng, đào-tạo những gia-đình Phật-giáo hoàn-toàn. Trong khi xung quanh chúng ta còn nhiều người chê Phật-giáo là tiêu-cực, tôi thiết tưởng không có một công việc nào đáng làm hơn.

Mà công việc ấy, nào có phải quá sức mình đâu? Nếu chúng ta không để ý đến một vài sai khác nhỏ nhặt về sự tướng, chúng ta sẽ ngạc-nhiên thấy luân-lý Phật-giáo bao trùm cả nhân loại, vượt ra ngoài không gian và thời gian, và từ Âu Mỹ cho đến Nhật Tàu, mấy ngàn năm về trước cũng như vô-lượng kiếp về sau, những lời dạy của đức Phật vẫn giữ một tánh cách hợp thời hợp cảnh.

Những đoạn tôi trích sau, do một vị thâm nho dịch ở Lục-phương-lễ-kinh ra: Lời văn tuy khúc mắc, nhưng có âm điệu, nên rất tiện cho việc đọc tụng. Ở nhà tôi, tối nào, sau khi tụng một thời kinh, mỗi người đều chắp tay lặng im nghe đọc những lời huấn từ của Phật về Gia-Đình.

Tôi mong rằng tục lệ đáng yêu này sẽ được nhiều gia-đình Phật-giáo khác hưởng ứng.

Con thờ cha mẹ nên có năm việc: Một là hiếu kính, định-tỉnh hôm mai, làm cho cha mẹ có lòng hoan hỷ. Hai là sớm dậy, nhắc nhủ thầy tớ, ăn uống làm lụng, cần kiệm trì gia. Ba là thay đỡ cha mẹ khó nhọc. Bốn là nên nhớ ơn đức cha mẹ. Năm là lo sợ cho cha mẹ, khi đau ốm phải mời thầy thuốc.

Cha mẹ ở với con, cũng có năm việc: Một là nên khiến bỏ ác tới thiện. Hai là nên dạy gần gũi người khôn. Ba là nên dạy chăm chỉ học hành. Bốn là đến tuổi lo việc gia thất. Năm là giao-phó tài sản trong nhà.

Vợ ở với chồng nên có năm điều: Một là khi chồng ở ngoài đi về, phải ra đón rước. Hai là khi chồng vắng không ở nhà, nấu nướng dọn dẹp, lòng kính đãi nhau. Ba là không được dâm tâm ở ngoài, gìn giữ cửa khuê. Bốn là chồng mắng, không nên nói lại, tỏ ra sắc giận, nếu có lời dạy, thừa thuận làm theo, nếu có của vật không nên giấu riêng. Năm là đợi chồng đi ngủ trước đã, xem sóc đâu đấy, mới lên giường ngủ.

Chồng ở với vợ cũng có năm điều: Một là ra vào cung kính lẫn nhau. Hai là ăn uống phải cho nhằm buổi, chớ khiến vợ phiền. Ba là vợ ưng đồ mặc đồ dồi, chớ nên sai ý, giàu nên sắm đủ, khó cũng tùy nghi. Bốn là trong nhà có của vật gì, giao phó vợ hết. Năm là không được say đắm sắc ngoài, khiến vợ sanh tâm ly dị.

Người ở với nhau, bà con, bầu bạn nên có năm việc: Một là hai bên có điều ác nghiệt phải khuyên can nhau. Hai là hai bên có sự tật nàn, phải chiếu cố nhau. Ba là hai bên có điều bí-mật, không nên tuyên tiết. Bốn là kính nhau, thường thường qua lại, nếu có xung đột, không được thù hiềm. Năm là giàu nghèo khác bậc, phải biết giúp đỡ, nếu có miếng ngon vật lạ phải biết chia nhau.

Chủ nhà ở với tớ trai tớ gái, nên có năm việc: Một là trước hết phải biết sự đói khát ấm lạnh của chúng, rồi mới sai khiến. Hai là chúng đau phải gọi thầy chữa. Ba là không được đánh đập làm càn, phải xét thực hư, sau mới khiển trách, tha được thì tha, nếu không tha được, từ tâm dạy vẽ. Bốn là chúng có chút đỉnh của riêng không nên cướp lấy. Năm là chu cấp vật liệu quân bình, không được thiên vị.

Tôi tớ thờ chủ cũng có năm việc: Một là dậy sớm không đợi chủ kêu. Hai là việc làm nên tùy bụng trên chớ phiền chủ khiến. Ba là của chủ phải biết yêu tiếc không nên bỏ phí. Bốn là gia chủ những lúc ra vào, một tâm đưa đón. Năm là khen chủ, có điều quá ác cũng chớ nói bàn.

Thưa các Ngài, gia-đình nào có duyên với Phật-pháp biết sống y theo lời Phật dạy là một gia-đình hoàn-toàn, đầy hạnh-phúc và yên vui.

Chỉ trong một gia-đình như thế, hay gần như thế, phụ-huynh mới đem lại cho các em trẻ một lòng tin không thoái chuyển; lòng tin quí hóa ấy, xây trên một nền lý lẽ chắc-chắn, hợp với chánh-pháp, sẽ là một năng-lực vô lượng, đưa chúng nó thẳng đến chơn-lý, đến hạnh-phúc.

Sở dĩ bên nhứt-thần-giáo, nhiều người có một lòng tin mạnh chắc, là vì lòng tin ấy được nuôi dưỡng ngay từ khi họ còn ở trong gia-đình. Bên Phật-giáo cũng thế, trừ một vài trường hợp đặc biệt, những vĩ-nhơn làm nên sự nghiệp lớn lao đều có một lòng tin hồn-nhiên, ngay lúc còn bé được một hoàn-cảnh thích-hợp để tự-do phát triển.

Lòng tin quí hóa ấy, như tôi đã nói, loài người đã sẵn có; bổn phận chúng ta là đào-tạo những gia-đình Phật-giáo hoàn-toàn để lòng tin quí hóa đó được dồi-dào, mạnh mẽ thêm.

Thưa các Ngài, ở vào thời kỳ Mạt-pháp nầy, nhất là với một nhân-tâm kém hèn, công việc chấn-hưng Phật-giáo là một chuyện lâu dài và còn gặp nhiều trở-lực khó khăn.

Tuy vậy, chúng ta không nên bao giờ chán nản. Vì chúng ta có sức mạnh của chơn-lý, của lẽ phải, vì chúng ta có sức hộ trì vô cùng của Chư Phật và Bồ-tát, vì sau hết, chúng ta là Phật-tử… mà đã là Phật-tử hiểu lý nhân quả, thì không nên bao giờ chán nản, dầu phải gặp những sức phản-động cũng vậy.

Thưa các Ngài, chúng ta cứ hăng hái làm việc trong gia-đình chúng ta. Đến một ngày, kết quả rực rỡ sẽ tự khắc thành, vượt hẳn mọi sự mong ước, về đường tu hành của chúng ta.

Đến một ngày, mà trong gia-đình, ngoài xã-hội từ tiếng ru con cho đến tiếng chào nhau, nhất nhất là tiếng niệm Phật.

Đến một ngày, mà ai ai cũng có thể nói một cách quả quyết, không e dè hổ thẹn: "Tôi là Phật-tử".

Ngày ấy, thưa các Ngài, sẽ là ngày vinh-dự nhất của toàn thể hội chúng ta, nếu ngay bây giờ chúng ta đều phát tâm thực-hành lời Phật dạy trong gia-đình mình.