VAI TRÒ BÁT NHÃ TRONG THIỀN TỔ SƯ
Cao Hữu Đính
Sư Tổ Đạt Ma truyền Thiền Tổ Sư qua Trung Hoa vào đầu thế kỷ thứ 6 dưới đời nhà Bắc Ngụy tại chùa Thiếu Thất trong dãy Tung sơn. Tương truyền Ngài có mang theo bộ Lăng Già 3 quyển, trao cho Nhị Tổ Huệ Khả làm kinh điển y cứ. Trải qua bốn đời truyền thừa là Đạt Ma, Huệ Khả, Tăng Xán và Đạo Tín, đến đời thứ năm là Hoằng Nhẫn thì bắt đầu chuyển qua hệ Bát Nhã, lấy thêm kinh Kim Cang trong hệ này làm kinh y cứ. Vào cuối Sơ Đường, tổ thứ sáu là Huệ Năng mới dứt khoát gạt kinh Lăng Già ra ngoài và chỉ chuyên trì một kinh Kim Cang mà thôi. Và để phụ lực với kinh Kim Cang, Tổ dùng thêm Tâm Kinh, cũng trong hệ Bát Nhã, làm sách gối đầu cho Tông mình.
Kể từ đó trơœ đi, Tông Thiền Trung Hoa phát triển rực rỡ qua nhiều thế kyœ liên tiếp, gây được một aœnh hươœng vô cùng sâu đậm, tác động lâu dài lên toàn bộ văn hóa Trung Hoa cũng như văn hóa Nhựt Bổn, ngân vang không dứt cho đến ngày nay, và hiện đang có triển vọng lấn đến tận trời Tây trong các xã hội duy lý Âu Mỹ.
Do đâu mà Tông Thiền, đặc biệt là Thiền Lục Tổ, có được cái nội lực thâm hậu và dài hơi đến thế?
Để traœ lời câu hoœi này, một số học giaœ Trung Hoa có thiện caœm với xu hướng Lão Trang trước đây, cho rằng tư tươœng Lăng Già quá trừu tượng, khó thấm lọt được vào tâm hồn chuộng thực tế cuœa người Trung Hoa, nhưng với tư tươœng Bát Nhã thì những ai đã thấm nhuần tư tươœng Lão Trang dễ hòa điệu hơn, và do đó dễ hòa nhập hơn. Theo họ thì trong sự lớn mạnh cuœa Thiền Lục Tổ, tư tươœng Lão Trang đã đóng góp một vai trò, nếu không phaœi là quyết định, thì cũng là vai trò ngang bằng với Bát Nhã.
Lời phê phán trên đây, liệu có thể chấp nhận được phần nào không?
Nói tư tươœng Lăng Già quá trừu tượng, điều đó không sai. Nhưng nói tư tươœng Lão Trang hòa điệu được với tư tươœng Bát Nhã thì đúng là một lời nói võ đoán. Họ có biết nòng cốt tư tươœng Bát Nhã là gì không? Xin thưa, đó là tư tươœng Tánh Không, vô cùng trừu tượng. Thiền không phaœi là triết thuyết. Thiền là đạo sống, lấy thực tế cuœa cuộc sống làm đối tượng khám phá. Tư tươœng triết học không liên quan gì đến Thiền. Đó là chưa nói tất caœ tư tươœng nói chung, bất cứ thuộc loại nào, đều bị Thiền đập nát, không chút nương tay. Và có như vậy thì Thiền mới khai thông được nguồn sống, để cho mạch sống trào tuôn như thác lũ.
Trong hệ thống kinh văn Bát Nhã dày 720 quyển, Thiền Lục Tổ chỉ thái dụng (lấy ra và chuyên dùng) một kinh văn duy nhất là kinh Kim Cang mà thôi. Và để hỗ trợ cho kinh này, Thiền Lục Tổ sưœ dụng thêm một bài kinh toát yếu, rất ngắn và rất gọn là Tâm Kinh Bát Nhã, chỉ hai kinh này là đáp ứng được nhu cầu thiết thực cuœa Thiền mà thôi. Nhu cầu đó sẽ được nói rõ ơœ một đoạn sau.
Giờ đây, ta hãy lui trơœ về nguồn cội cuœa Thiền là pháp môn "Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự". Nghĩa là: Thiền là pháp môn do Phật truyền riêng cho Ca Diếp, ngoài khuôn cuœa kinh văn ghi chép trong Ba Tạng Thánh giáo. Thiền không chuœ trương thuyết minh bất cứ một loại giáo nghĩa nào, cho nên Thiền không lập văn tự. Lại nói "Trực chỉ nhơn tâm, kiến tánh thành Phật". Nghĩa là: Thiền chỉ thẳng vào tâm người, khiến thấy rõ tâm tánh thì lập tức thành Phật.
Với tông chỉ như thế, rõ ràng Thiền không phaœi là một tông phái triết học như các tông phái khác trong Phật giáo. Thiền cũng không cần đến một kinh điển nào khác. Thiền chuœ trương ly ngôn, vì Thiền là đạo sống.
Nên biết rằng Tông Thiền còn được gọi là Phật Tâm Tông, chuœ trương ly tướng triệt để, đối lập hẳn với tất caœ các tông phái lấy tư tươœng trong kinh văn làm căn baœn lập giáo, mệnh danh là Phật Ngữ Tông. Phật Ngữ Tông thuộc Giáo môn. Phật Tâm Tông thuộc Quán môn. Giáo môn coi kinh điển là khuôn vàng thước ngọc, trong khi đó thì Quán môn coi kinh điển là xác chết khô cằn. Hoặc còn tệ hơn nữa, họ coi kinh điển là "tín hiệu" cuœa Phật phế thaœi ra. Giáo môn chuyên lo xây dựng giáo nghĩa, triển khai giáo nghĩa. Điển hình là như hai tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm. Trong khi đó, Quán môn chỉ chuyên chú trọng Thiền Quán. Và cái mà Thiền Quán truy cầu là cái thực tại sống động trong lòng vạn hữu, hoạt hiện ra trong tâm hành giaœ. Một bên thiên trọng lý thuyết, một bên thiên trọng hành trì.
Vì vậy, thiền quán là phép tu trực tiếp, không kinh qua bất cứ một trung gian nào hết. Tối kÿ là trung gian cuœa tư tươœng, cuœa lý thuyết. Thiền coi tư tươœng, lý thuyết là bức màn u ám, ngăn chận giữa tâm và thực tại, ngăn che không cho tâm thấy được bộ mặt thực cuœa cuộc sống (Thiền gọi bộ mặt thực cuœa cuộc sống là cái "baœn lai diện mục"). Cho nên Thiền chuœ trương tiêu diệt mọi dấu vết cuœa tư duy trong đầu óc cuœa hành giaœ. Chuœ trương cuœa Thiền là "phi tư tươœng" vậy. Chuœ trương ấy càng được phơi bày rõ nét hơn nữa khi Thiền đề cập đến baœn chất cuœa thực tại.
Theo Thiền, thực tại là cái "ly danh tự tướng, ly ngôn thuyết tướng, ly tâm duyên tướng". Lìa tướng danh tự, nghĩa là thực tại không liên quan gì với cái bóng dáng mơ hồ, gợi ra bơœi ngôn từ dùng để chỉ nó. Lìa tướng ngôn thuyết, nghĩa là thực tại không liên quan gì đến với cái bóng dáng hư huyễn gợi ra bơœi lý thuyết dùng để thuyết minh nó. Lìa tướng tâm duyên, nghĩa là thực tại không liên quan gì với cái bóng dáng chấp chơn do suy tư trong trí tươœng tượng.
Nói khác đi, ngôn từ không nói được thực tại. Lý thuyết không diễn đạt được thực tại. Suy tư cũng bất lực, không hình dung được thực tại. Chỉ do trực ngộ mới nắm bắt được thực tại mà thôi. Ví dụ như khi ta nói "con voi", từ ngữ ấy chỉ gợi lên trong óc ta một bóng dáng hư dối về voi, tuyệt đối không ăn nhằm gì với con voi thật, con voi bằng xương bằng thịt trong sơœ thú, khi ta trực diện mặt đối mặt với chính nó.
Để nói rõ thêm hơn nữa, Thiền baœo rằng thực tại là cái mà ơœ đó "ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt". Ngôn ngữ đạo đoạn nghĩa là "con đường ngôn ngữ bị cắt". Tâm hành xứ diệt nghĩa là"chỗ tâm suy cầu dứt bặt". Nếu dùng ngôn ngữ làm con đường dẫn đến đó, thì con đường ấy là một ngõ cụt và trước mắt là núi chận sông ngăn. Nếu dùng suy tư để len loœi vào đó, thì đó là chỗ mà mọi suy tư đều im lìm. Thực tại là cái không thể nghĩ bàn vậy.
Muốn vào cõi ấy, chỉ có một cách duy nhất là do thầy trực chỉ để trò trực quán theo phương pháp thích nghi và cuối cùng là phaœi do chính trò tự trực ngộ. Đây chính là cái được gọi là "trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật".
Trong sinh hoạt thực tập Thiền, công hạnh cuœa Thiền sinh và phong thái cuœa Thiền sư là hai yếu tố cơ baœn, gắn bó nhau mà tạo ra sự ngộ đạt cuœa Thiền sinh. Trước mắt Thiền sư, Thiền sinh là con bịnh. Con bịnh phaœi luôn luôn theo sát lương y là Thiền sư để được lương y theo dõi săn sóc trong nhứt cưœ nhứt động. Cũng trong nhứt cưœ nhứt động, Thiền sư phaœi là tấm gương sáng cho Thiền sinh noi theo. Bất cứ khi đi lúc đứng, khi nằm lúc ngồi, khi ăn lúc nguœ, cho đến khi cùng khách đàm đạo nói pháp, phong thái và cung cách linh hoạt cuœa thầy là bài học sống, in đậm nét lên tâm tư cuœa trò và caœi hóa trò trong thầm lặng, mà chính trò cũng không hề ngờ tới. Thiền gọi những bài học đó là "Thiền giáo". Cũng vì thế mà tông Thiền còn được gọi là Ấn Tâm Tông. Ấn tâm nghĩa là lấy tâm nọ in vào tâm kia (dĩ tâm ấn tâm). Công tác ấn loát này kéo dài cho đến khi trò ngộ đạt, bấy giờ gọi là "ấn hoại văn thành" nghĩa là khuôn in tan rã, và nét chữ hiện ra.
Như trên là sinh hoạt truyền thống trong thiền môn được ghi chép trong các sách Thiền. Công dụng cuœa nếp sinh hoạt ấy là chuẩn bị cho Thiền sinh một số hành trang cần thiết để bước vào hạnh tu cốt lõi là tham cứu công án. Công án là thuật ngữ Thiền chỉ cho đề tài tham cứu. Nói đến công án là nói đến những câu nói rất kỳ quặc, vô cùng trái thường đạo lý, như công án "tiếng vỗ cuœa một bàn tay". Sách Thiền còn ghi lại 1700 công án nổi tiếng, mệnh danh là "Thiên Thất Bách Tác:. Thiền sinh phaœi dày công tham cứu, hết năm này qua năm kia mới vỡ lẽ, thế mà số người ngộ đạt traœi qua nhiều thế hệ trong suốt giòng lịch sưœ truyền thừa lên tới hàng ngàn vị, kể caœ tăng lẫn tục. Tiểu sưœ và hành trang cuœa họ còn được ghi chép rõ ràng trong các sách "Truyền Đăng Lục".
Với tông chỉ, chuœ trương và phương pháp hành trì như đã nói trên, rõ ràng đối với kinh sách là vật không quan trọng. Ngoại trừ kinh Kim Cang và bài Tâm Kinh mà vì nhu cầu cuœa Thiền pháp đã được Lục Tổ thái dụng. Vai trò cuœa hai kinh này cũng chỉ hạn cuộc trong cái gọi là "ngón tay chỉ mặt trăng" mà thôi.
Như đã nói trên, Thiền không chuœ trương lý giaœi bất cứ một học thuyết nào. Thiền là pháp môn hướng dẫn hành giaœ bằng trực chỉ để đi đến trực ngộ. Vì mục đích trực ngộ, Thiền triệt hạ không chút tiếc thương tất caœ các loại màn che, ngăn chận giữa tâm và thực tại, bằng nhát búa ly tướng. Mà nói về phương pháp ly tướng thì không có kinh nào trong hệ thống kinh văn Đại Thừa trình bày chí lý và mạch lạc bằng kinh Kim Cang. Đây là lý do duy nhất khiến Lục Tổ dứt khoát rời boœ Lăng Già.
Trong đoạn mơœ đầu cuœa kinh Kim Cang, để traœ lời câu hoœi cuœa Tu Bồ Đề: "Vân hà ưng trụ? vân hà hàng phục kỳ tâm?" (nên trụ tâm thế nào? phaœi hàng phục tâm ra sao?), Phật dạy "ưng vô sơœ trụ" (không nên cho tâm có chỗ sơœ trụ).
Vô sơœ trụ, nghĩa là không có nơi chốn bị trụ. Nơi chốn bị trụ, nói theo ngôn từ ngày nay chính là điểm tựa đó vậy. Điểm tựa bị triệt tiêu (vô sơœ trụ) thì tâm không nương vào đâu để mà tựa (vô trụ). Trong "vô sơœ trụ" nghĩa"vô trụ" đã hiện ra đầy đuœ. Cho nên nói yếu chỉ cuœa kinh Kim Cang chỉ nằm trong ba chữ "vô sơœ trụ" này mà thôi.
Tâm không trụ pháp "vô trụ". Pháp không là chỗ sơœ trụ cuœa tâm (vô sơœ trụ). Đó là cách trụ tâm duy nhất. Đó cũng là phương pháp duy nhất để hàng phục tâm. Câu hoœi đặt ra gồm có hai mục. Lời giaœi đáp chỉ thu gọn trong bốn chữ "ưng vô sơœ trụ" mà bao gồm được caœ hai. Dứt khoát, rõ ràng.
Áp dụng tinh thần vô sơœ trụ và hạnh tu lục độ (hạnh tu căn baœn cuœa Bồ tát mà bước đầu là hạnh bố thí) Phật minh xác: "Bồ tát ư pháp, ưng vô sơœ trụ, hành ư bố thí. Sơœ vị bất trụ sắc bố thí, bất trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp bố thí. Bồ tát ưng như thị bố thí." Không nên có chỗ trụ nơi pháp bố thí. Tức là không trụ vào 6 trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà thực hành bố thí. Bồ tát nên bố thí như vậy, không trụ nơi tướng.
Với năm độ còn lại là trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ, đương nhiên cũng phaœi y theo tinh thần vô sơœ trụ ấy mà hành trì, chứ không riêng gì một hạnh nhẫn nhục nào, mà Phật đặc biệt nhấn mạnh ơœ phần sau. Phương châm quán triệt trong tất caœ các phép tu là: không trụ nơi tướng, nghĩa là triệt để diệt trừ điểm tựa. Điểm tựa không còn, bóng dáng hư cấu do vọng niệm dệt đan thaœy đều tan rã, dấu vết cuœa mọi loại tư tươœng thaœy đều bị quét sạch. Bây giờ tâm tánh hoàn toàn thanh tịnh, trí tuệ đột nhiên bừng nơœ chói lọi sáng ngời. Đó là trí tuệ ba la mật, xa lìa caœ sơœ lẫn năng.
Về cái trí tuệ siêu việt này, Tổ Đạt Ma đã nói như sau: "Phù chơn kiến giaœ, vô sơœ bất kiến, diệc vô sơœ kiến, kiến mãn thập phương, vị tằng hữu kiến" (Ôi, cái gọi là chơn kiến ấy là không có cái sơœ bất kiến, cũng không có cái sơœ kiến, kiến khắp mười phương, nhưng chưa từng có năng kiến). Hay nói cho dễ hiểu hơn là: cái gọi là thấy chơn thật, ấy là không chi không thấy, cũng không có cái bị thấy, thấy khắp mười phương, nhưng chưa từng sưœ dụng công năng thấy biết cuœa giác quan. Cái chơn thật nói đây chính là cái thấy cuœa trí tuệ bừng mơœ, xa lìa caœ sơœ lẫn năng cuœa Thức phân biệt.
Trơœ lui lại với chuœ điểm vô sơœ trụ. Đây là ách yếu cuœa toàn kinh Kim Cang. Các chi tiết khác trong kinh này đều từ chuœ điểm này triển khai ra. Cho nên nếu sáng được chuœ điểm rồi thì các chi tiết ngành ngọn sẽ tự sáng nghĩa. Chẳng hạn như bốn tướng Ngã trong kinh Kim Cang đều do tâm có trụ hư dối mà sanh ra. Nếu tâm không trụ thì bốn tướng ngã tự tiêu. Bốn tướng ấy chính là bốn tướng ngã cuœa thế gian mê chấp. Ngã tướng chỉ cho cái linh hồn thường hằng bất biến, lưu xuất từ Thượng đế, rồi sau khi dứt trơœ về sống vĩnh viễn với Thượng Đế. Nhơn tướng cũng chỉ cho cái linh hồn thường hằng bất biến, nhưng cái linh hồn này trôi lăn trong luân hồi hết đời này qua đời kia để traœ cái nghiệp báo đã gây ra trong các kiếp trước. Chúng sanh tướng cũng chỉ cho cái linh hồn, nhưng loại linh hồn này là saœn phẩm cuœa thân năm uẩn và chết theo với thân ấy. Năm uẩn tức năm chúng, cho nên gọi là chúng sanh vì nó do năm chúng sanh gây ra. Thọ giaœ tướng cũng lại chỉ cho một loại linh hồn khác nữa, nhưng linh hồn này gắn liền với mầm sống, cho nên gọi là thọ giaœ. Khi mầm sống chấm dứt, nó cũng chết theo luôn. Bốn tướng ngã gồm hai thường hai đoạn. Quan điểm về bốn tướng ấy gọi là bốn kiến. Kiến đầu cuœa nhứt thần giáo. Kiến thứ hai cuœa ngoại đạo tin thuyết luân hồi thiển cận. Kiến thứ ba cuœa phái duy vật. Kiến thứ tư cuœa ngoại đạo tin thuyết mầm sống.
Để tóm tắt lại những gì nói về Kim Cang từ đầu, ta thấy rõ rằng Kim Cang không coi trọng giáo nghĩa tánh Không cuœa Bát Nhã (mà từ đó nó lưu xuất) bằng cái tinh thần vô sơœ trụ. Chỉ với tinh thần này, Kim Cang mới đóng nổi vai trò "mũi tên chỉ đường" cho hành giaœ tu Thiền, hoàn toàn phù hợp với tông chỉ "giáo ngoại biệt truyền" cuœa Tổ Đạt Ma. Đó là điều ta cần ghi nhận.
Còn với Kim Cang thì sao? Tâm kinh.
Nếu Kim Cang toœ ra hết sức thiện xaœo trong vai trò mơœ đường thì Tâm kinh cũng thiện xaœo không kém trong vai trò chung kết, nói lên được cái hiện tượng chuyển hóa xaœy ra trong nội tâm hành giaœ trước và trong giây phút ngộ đạt. Trước đây phút ngộ đạt, cuộc chuyển hóa diễn biến tuần tự qua ba giai đoạn: bắt đầu là giaœi toœa mầm nghi, mà Tâm kinh gọi là vô quái ngại tức vô ngại. Tiếp theo là tiêu trừ sợ hãi, mà Tâm kinh gọi là vô hữu khuœng bố, tức vô úy, sau rốt là đập nát vọng tươœng mà Tâm kinh gọi là viễn ly điên đaœo mộng tươœng tức vô tâm. Vô ngại, vô úy và vô tâm là ba giai đoạn tiệm tiến mà tâm hành giaœ phaœi traœi qua trước khi biến cố ngộ đạt bùng nổ.
Sự bùng nổ này là một bước nhaœy vọt thình lình, một cuộc đột biến kinh khuœng, một phép lạ nhiệm mầu, giết chết con người cũ và khai sinh con người mới. Tác dụng nhiệm mầu này được Tâm kinh ví với tác dụng kỳ bí cuœa thần chú: "Thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú". Cuộc đột biến xaœy ra "yết đế, yết đế" ngay lúc đó.
Trong suốt hành trình cuœa hành giaœ tu Thiền, phương án và quy tắc đều đã được quy định đầy đuœ từ thời Sơ Tổ Đạt Ma. Đến đời Lục Tổ thì các phương án và quy tắc ấy càng được soi sáng rõ nét hơn nữa bơœi Kim Cang và Tâm kinh. Cho nên, phaœi đợi đến đây thì rừng Thiền mới nơœ hoa muôn màu muôn veœ, trùng trùng điệp điệp, hoa nào hoa nấy sum sê, thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước, chiếm địa vị tuyệt đại trong thế giới Phật giáo Trung Hoa, lấn át hầu hết các tiếng nói cuœa các tông phái Phật Ngữ tông bên Giáo môn, dù cho đó là hai tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm cực kỳ uyên bác.
Vì vậy cho nên, tuy Phật giáo Trung Hoa bao gồm 10 tông, trong đó Thiền là một, nhưng hễ nói đến Phật giáo là người đời chỉ nói đến "cửa Thiền" (Thiền môn) mặc nhiên coi Thiền như là đại diện cho toàn thể Phật giáo vậy. Và cũng chính vì vậy mà trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa nói riêng và lịch sưœ văn hóa Đông phương nói chung, bóng cuœa hai Tổ sư Thiền (Sơ Tổ Đạt Ma và Lục Tổ Huệ Năng) trôi dài và in đậm nét lên khắp mọi lãnh vực văn học và nghệ thuật cuœa cõi trời Đông. Bóng của hai ngài cũng hiện đang có triển vọng lan đến tận trời Tây, xưa nay chỉ biết tôn thờ chủ nghĩa duy lý.
Phép lạ huyền diệu và dài hơi ấy, phi Thiền Tổ sư ra không một tông phái khác trong Phật giáo tạo nổi. Và trong thành tích rực rỡ và kỳ diệu đó, ta không được phép quên phần đóng góp vô cùng đắc lực của hai mũi tên chỉ đường là Kim Cang Bát Nhã và Tâm Kinh Bát Nhã: mũi tên đầu trong vai trò chỉ đường, mũi tên sau trong vai trò báo động chuyển hóa của nội tâm hành giả trước khi hiện tượng ngộ đạt đột biến bùng nổ: yết đế! yết đế!
_________________
MỘT SỐ THUẬT NGỮ ĐẶC BIỆT CUŒA TÔNG THIỀN TỔ SƯ:
Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự: truyền riêng ngoài giáo môn, không lập văn tự.
Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật: chỉ thẳng vào tâm con người, thấy được tánh là lập tức thành Phật.
Phật ngữ tông: tông phái nương vào lời Phật dạy mà tu hành: tức giáo môn.
Dĩ tâm ấn tâm: lấy tâm thầy in lên tâm trò. Coi tâm thầy như một đại khuôn để đúc tâm trò. Như khuôn bánh đúc ra bánh in. Hay mẫu chữ in thành chữ lên trang giấy.
Ấn hoại văn thành: cái khuôn in vỡ rã rồi thì nét chữ thành hình. Cũng thế, tâm mê muội cuœa trò đúc khuôn tâm giác ngộ cuœa thầy, sau khi ra khoœi khuôn cuœa thầy rồi, có hình dáng như tâm thầy không khác.
Phật tâm tông: tông phái nương vào tâm Phật mà trực ngộ tâm ấy: tức quán môn.