BUDDHA HOME

KINH & SÁCH

 

 

PHẬT GIÁO TRIẾT HỌC

Phan Văn Hùm

 

 

TỰA

 

Tôi không còn hai mươi tuổi.

Đau đớn thay ngày tháng thoi đưa!

Năm nọ, tết nguyên đán, tôi ngồi giữa biển trời, trong bốn vách đá xanh sa nước mắt mà tự thán:

Xưa, bốn mươi, thầy Khổng hết ngờ.

Giờ ta tuổi ấy rõ đời vờ.

Gia đình ngoảnh lại, lần "lưng túc"1

Xã hội chường ra, thẹn mặt bơ.

Lấm tấm sương dầm đôi mái tóc

Lạnh lùng tuyết quyến một lòng tơ

Mong nào sự nghiệp công danh muộn,

Tràn đến, già như nước vỡ bờ!

Tôi tự nguyện giấu cái mặt bơ ấy đi. Song le, chủ-nhân nhà Tân Việt lôi ra cho kỳ được. Sau mấy tháng chối-từ, tôi phải có tập nầy. Là vì bạn, chẳng vì mình, càng chẳng vì đời.

Không. Vì đời phải một công-trình khác hơn, làm với một con tim nồng-thắm, với một khối óc thanh-liêm.

Tôi đâu còn những của báu ấy nữa.

Trí-thức thanh-liêm (probité intellectuelle) cấm học-giả dối mình, dối đời, bằng tri-thức mượn vay nơi kẻ khác.

Đợi cho được có tri-thức đầy đủ về Phật-giáo, tôi không biết bao giờ, tôi không có mong nào. Tôi không còn hai mươi tuổi.

Tôi hết những mộng tưởng lớn lao rồi. Kinh điển nhà Phật tôi có "thấy" một phần ở kho sách của viện Bảo-tàng Guimet bên Paris. Nhiều quá. Thế nhưng chưa đủ. Đủ hết những tên kinh điển nhà Phật, đã tìm thấy ra, trong các nước có phát-hành hoặc tàng-trữ loại ấy, vào khoảng 1930, góp lại in hơn một ngàn rưỡi trương sách mục-lục.

Mục-lục này, ông Hữu Tùng Viên Đế có đưa tôi xem cho choáng mắt.

Tôi muốn sao được như vị Hòa-thượng kia ở Trung Việt. Ngài sung-sướng đề lên vách chùa bốn câu tuyệt diệu:

" Kinh điển lưu truyền tám vạn tư.

"Học-hành không thiếu, cũng không dư.

"Năm nay tính lại: chừng... quên hết.

"Chỉ nhơ ùtrên đầu một chữ "NHƯ".

Có học, có hiểu, rồi có quên đi hết, mới thật là nhập diệu. Mới không câu-nệ nơi sách. Mới thoát được lên trên một học thuyết, mà điều-khiển những vấn đề thuộc về nó, không để bị điều-khiển bởi học-thuyết hay bởi vấn-đề. Jules Lachelier chấm vở của Emile Bontroux ở trường Normale Paris, luận về một điểm nọ trong học-thuyết Spinoza, có đề một câu sâu-sắc:

"Pour comprendre un système, la première condition est d‘y entrer, mais la seconde est d‘en sortir." – (Cho đặng hiểu một học-thuyết, điều-kiện thứ nhất là phải vào trong đó, mà điều- kiện thứ hai là phải ra khỏi nó đi.)

Học thấy như thế, mà tôi chưa làm theo được, bất kỳ là đối với học-thuyết nào. Về Phật-giáo càng khuyết hám. Rằng kinh-điển nhà Phật nhiều quá chăng? Phải, mà không. Cần chi phải đọc cho hết những sách đã chỉ trong quyển mục-lục nói trên đây.

Hai ông André Lalande và Abel Rey ở Sorbonne thường nhủ tôi: "Chỉ nên đọc những tác phẩm do tay đầu tiên – oeuvres de première main". Tôi chẳng bao giờ dám quên lời thầy. Nhưng về Phật-giáo, tác-phẩm do tay đầu tiên đều viết bằng chữ Phạn (Sanscrit). Tôi đọc mãi quyển mẹo tiếng Phạn mà chưa thuộc. Thời sách viết bằng tiếng Phạn sao chịu hé màn bí mật cho tôi tò mò xem. Hoặc hỏi: còn những kinh điển dịch ra chữ Tàu? Tôi chẳng nề "dịch là phản", nhưng tôi không có đủ, và, cái có thì chưa đọc hết, cái đọc hết chưa hiểu cùng: bởi chữ Tàu tôi lại chỉ biết nhấp-nhem mà thôi. Vậy, cho ra quyển sách này là sự cực-chẳng-đã. Chuối non giú ép, tự mình chê mà ai thèm. Chủ-nhân nhà Tân Việt mà có được chút lòng thương-xót tôi đâu lại nỡ đưa bản-thảo đến nhà in.

PHAN VĂN HÙM

 ------oooOooo------

 

LỆ NGÔN

 

Trong tập nầy, mỗi khi gặp tiếng Phạn mà người Tàu không dịch nghĩa ra, chỉ dịch âm mà thôi, thời, nếu tìm thấy được tiếng Phạn, tác-giả giữ nguyên âm tiếng Phạn, viết ra chữ Romain, chớ không viết theo chữ dịch âm của người Tàu.

Ấy bởi ngại về chỗ đọc ra giọng Việt-Nam lắm khi sai xa với giọng Tàu quá, tức là càng sai xa với giọng tiếng Phạn hơn nữa. Như chữ dharani, nếu viết theo tiếng dịch âm của người Tàu, ta phải viết ra chữ quốc ngữ là đa-la-ni. Tàu không có vần r , nếu muốn âm theo quốc-ngữ, ta có thể viết đa-ra-ni. Nhưng, viết như thế, ai muốn tìm ra trong từ điển chữ Tàu, không biết sao mà tra cho ra.

Một lẽ nữa là tác-giả ngại về mỗi chữ quốc-ngữ có nhiều đồng âm (homonyme) lại đồng tự (homographe). Lấy một thí -dụ, như chữ tu. Chữ này ta dùng âm giọng nhiều chữ Tàu khác nhau.

Ta hãy dở xem trong bộ Hán Việt Từ Điển rất có giá-trị của ông Vệ Thạch Đào Duy Anh nơi chữ tu: có chữ tu là bó nem; co ùchữ tu là nên; có chữ tu là sửa-trị; có chữ tu là râu; có chữ tu là xấu hổ; có chữ tu là đồ ăn ngon. Khi dịch âm vần su trong tiếng Phạn, người Tàu dùng chữ tu , mà không nhất định là chữ tu nào. Như sugata , thời âm tu-già-đà, dùng chữ tu nghĩa là sửûa-trị; còn sumati , thời âm tu-ma-đề, dùng chữ tu nghĩa là nên như thế, nếu ta cứ theo chữ dịch âm của Tàu mà viết ra quốc ngữ theo giọng ta, thời người đọc, khi muốn tra nơi từ điển của Tàu, cũng đến lắm khi phải bối-rối.

Khi âm nguyên tiếng Phạn, bằng chữ Romain, thời tác-giả viết theo tự điển tiếng Phạn, chớ không viết theo giọng tiếng Pháp (franciser). Như thế để cho người nào muốn tra tự-điển tiếng Phạn khỏi bị bỡ-ngỡ. Thí dụ chữ trsna â, viết theo giọng tiếng Pháp thời là: trichnâ; cakra , viết theo giọng tiếng Pháp thời là: tchakra.

Viết theo tự điển tiếng Phạn, phải gặp một chút trở ngại, là những dấu, mà nhà in ở đây không có. Nhưng dấu ấy có khi khuyết đi, cũng còn có thể nhận ra một khi dở đến tự điển, hơn là viết theo giọng tiếng Pháp.