THIÊN THAI TÔNG
Thiên thai tông lấy kinh Pháp Hoa làm gốc, cho nên cũng gọi là Kinh Tông. Tông nầy gây dựng ở nước Tàu, thời Trần Tùy (thế kỷ thứ VI) bởi Tuệ Văn thiền sư (xem ở phần trên).
Tuệ Văn đọc Trung Luận có những câu kệ rằng:
"Nhân duyên sở sinh pháp.
"Ngã thuyết tức thị không.
"Diệc danh vi giả danh.
"Diệc thị trung đạo nghĩa."
Theo cái lý trung đạo đó, Tuệ Văn lập ra nhất tâm tam quán: không quán, giả quán, trung quán.
Thế giới quan. Sánh với các tông đại thừa giáo khác, thời Thiên thai tông là độc đoán (dogmatique), là diễn dịch.
Nhất tâm tam quán là chỉ về nhất như. Thiên thai tông chủ trương rằng: "Chư pháp duy nhất tâm." Tâm ấy như thế nào?
Đáp rằng: Không nói tâm ở trước, còn nhất thiết pháp ở sau. Cũng không nói nhất thiết pháp ở sau, còn tâm ở trước. Nếu bảo rằng nhất tâm sinh ra nhất thiết pháp thời không được. Nếu bảo rằng tâm nhất thời bao hàm nhất thiết pháp thời cũng không được. Tâm vốn là nhất thiết pháp, nhất thiết pháp ấy là tâm. Hai cái không phải là khác, cũng không phải là một.
"Chư pháp duy nhất tâm". Tâm ấy tức là chúng sinh. Tâm ấy tức là Bồ tát, Phật. Sinh tử cũng ở nơi tâm ấy. Niết bàn cũng ở nơi tâm ấy.
Tâm bao tàng tất cả.
Mà luận cứu đến nhất tâm, phải lấy tam quán: Không quán, giả quán, trung quán.
Trong không quán có giả với trung, không phải tuyệt nhiên là không. Trong giả quán có không với trung, không phải tuyệt nhiên là giả. Trung quán phải dung nạp hết hai cái không với giả; không thế không phải là trung đạo.
Nếu cứ giả mà xem, thời có chi là không giả? Nếu cứ không mà xem, thời chi không phải là không? Trung, thời thống hiệp cả giả với không. Ngoài cái trung ra không có giả không gì cả.
Lấy một trong ba, tức là gồm hết cả ba, không có cái nào sau cái nào trước, không có cái nào sinh ra cái nào.
Xét về lý thể của chân như với tâm và vật, ba cái ấy quan hệ, thí dụ như thấp tánh (hygrométricité), nước và sóng. Lý thể của chân như cũng như thấp tánh. Tâm cũng như nước. Vật cũng như sóng.
Ngoài thấp tánh không có nước. Ngoài nước không có sóng. Ngoài chân như không có tâm. Ngoài tâm không có vật.
Chân như, tâm và vật, ba cái quan hệ nhau như thế, cho nên ba cái không rời nhau, mà không là một, không là khác.
Nhân sinh quan. Về nhân sinh quan, Thiên thai tông không có chủ trương yếm thế, mà thật là lạc thiên (optimisme).
Các phái đều cho hiện tại là mê vọng, cho nên chung cuộc giải thoát phải ra khỏi thế gian. Thiên thai tông thời cứ trong hiện tại mà tìm chỗ lý tưởng. Thiện, ác, chân, vọng, đối với tông nầy chỉ là một hoạt động của thật tại. Vì thế cho nên không cưỡng cầu giải thoát khỏi cái hiện tượng giới sinh diệt chuyển biến.
Trong cõi sinh diệt vô thường, tìm đến cái lực thường trụ, bất sinh bất diệt của thật tại. Hiện thân tức Phật, sa-bà tức tịch tịnh.
Như thế thời nhân tâm trong hiện tượng giới gồm cả thiệïn ác hai tánh. Muốn dứt điều ác, không thể không lìa điều thiện. Bởi thiện ác chỉ do một tâm tác dụng mà thôi, hai cái không có cái nào độc tồn được. Cho nên Phật chẳng làm lành, chẳng làm dữ.
Cõi thế gian phải có dinh hư tiêu trưởng, vinh khô thạnh suy, tập hiệp ly tán. Vô thường như thế là chân tướng của thế giới sống. Nếu không sinh diệt chuyển biến thời là thế giới chết.
Vì nếu cưỡng cầu hữu thường trong cõi vô thường thời là ngu đã đến mực. Đã là vô thường thời cứ nhận nó là vô thường, đã là sinh diệt thời cứ nhận nó là sinh diệt. Như thế mới là thánh nhân, khác với phàm phu.
Nghịch với lý của thật tại là phàm, thuận với là thánh. Cho nên nếu cầu thánh ở "bỉ ngạn" là ngu đã đến mực.
Bản nghĩa của nhân sinh là phải thuận ứng với hiện tại thế gian mà hoạt động.
Giải thoát luận. Thế gian như trên đã xét ra thời muốn giải thoát phải cầu ở nơi thấu suốt chân lý, thoát ly chấp trước. Kết cuộc phải triệt ngộ thật tướng của vũ trụ, mà do vô vi, vô niệm, đạt đến hoạt động của đại ngã, đại vi. Ấy là tích cực giải thoát vậy.
Giải thoát như thế, thời đối với xã hội không lấy thái độ tiêu cực mà bỏ trách nhiệm; còn đối với tâm, mặc dầu có tánh cách tiêu cực, nhưng lại dùng phương pháp tích cực của văn tự ngôn ngữ mà cầu đạt đến thật tại, lấy nhất trí với thật tại làm mãn quả.