PHÁP TƯỚNG TÔNG
Pháp tướng tông phát nguyên tự Vô Trước, Thế Thân, mà hoàn thành là nhờ ở sức lực của Hộ Pháp. Tông nầy lấy Thành Duy Thức Luận làm gốc.
Đứng về phương diện khách quan mà phân loại thời pháp tướng tông phân vạn hữu ra năm vị: một là tâm vương, hai là tâm sở, ba là sắc pháp, bốn là bất tương ứng, năm là vô vi. Rồi lại phân những vị trên ấy ra làm bách pháp.
Đứng về phương diện chủ quan mà phân loại thời pháp tướng tông lại phân vạn hữu ra ba khoa: một là uẩn khoa, hai là xứ khoa, ba là giới khoa. Rồi lại phân những khoa trên ấy ra làm bách pháp.
Bảo rằng bách pháp ấy là nhiếp tận được tâm pháp, cho nên có câu ‘vạn pháp duy thức’. Vạn pháp đều là duy thức biến ra.
Trong ngũ vị trên đây, thời tâm vương là chân tướng của tri thức. Tri thức có tám, mà thức thứ tám là A lại da thức là căn bản, còn bảy thức kia chẳng qua là biến tướng của A lại da thức mà thôi.
Tám thức , mỗi đều có duy thức của nó, mà quy kết thời cũng chỉ có một cái thức duy nhất, là A lại da thức.
Tâm sở là sự phân biệt tác dụng của tri thức. Tâm sở cùng tri thức vẫn là nhất trí.
Sắc pháp (tức là vật tượng) là do tri giác của tâm pháp nhận thức được ra nó. Không dựa vào tâm pháp thời sắc pháp không thể tồn tại. Cho nên vật tượng chẳng qua cũng là sở biến của tâm pháp mà thôi.
Bất tương ứng pháp , không phải là cái sắc pháp có hình, cũng không phải tâm thức vô hình. Bất tương ứng pháp là do sự quan hệ giữa hai cái tâm pháp và sắc pháp mà thành lập. Rời tâm pháp và sắc pháp ra nó không tồn tại được. Cho nên rốt lại nó cũng là duy thức.
Vô vi là một cách quan sát bản thể của chân như. Chân như là chỗ dựa của thức.
Trong năm vị kể trên, vị thứ năm là vô vi pháp , thuộc về bản thể, còn bốn vị trên thuộc về hiện tượng.
Căn nguyên thứ nhất của hiện tượng giới là A lại da thức . Cái tinh thần giới chủ quan, cái vật chất giới khách quan, và nhất thiết hiện tượng hiệp lại mà làm một, đều do chủng tử của A lại da thức biến sinh ra.
Nhưng, mặc dầu A lại da thức là đệ nhất căn nguyên của hiện tượng giới, nó vẫn không phải là bản thể.
Bản thể là cái lý tánh của chân như, cứu cánh thời nó là thật tại, vô vi, bất biến.
Vậy hiện tượng là do những nhân duyên kết hiệp và do chủng tử của A lại da thức phát sinh. Những vật hữu vi chuyển biến, toàn là giả tại. Còn những chủng tử làm căn bản của hiện tượng thời là có thật tại.
Nhưng mà chủng tử tự thân cũng thuộc vào giới hiện tượng, chớ không phải là cái thật tại cuối cùng. Bởi đó mới có cái giả pháp của hữu vi.
Vật hữu vi có sinh diệt, bởi nhân duyên giả hiệp sở sinh, nên nó là giả tại, quyết không phải là bản thể.
Bản thể không thể là vật có sinh diệt, giả tại, mà là vật thường trụ bất biến.
Chỗ đặc sắc của pháp tướng tông là lấy bản thể tự thân làm bản thể, còn hiện tượng là riêng tự nó là hiện tượng. Bản thể với hiện tượng, hai cái cùng nhau cách lịch vậy.
Nhưng mà hiện tượng cùng bản thể, cách lịch nhau, bản thể không làm ra hiện tượng (như ở các thuyết khác), hiện tượng lại toàn nhiên khác bản thể, như thế thời hai đàng quan hệ nhau làm sao?
Giải đáp chỗ nầy, Pháp tướng tông dùng tam tánh luận.
Tam tánh là: biến kế sở chấp tánh, y tha khởi tánh, viên thành thật tánh.
Hai tánh trước thuộc về hiện tượng, còn viên thành thật tánh thuộc về bản thể.
Biến kế sở chấp tánh là do cái mê tình của chủ quan (năng biến kế) và hiện tượng của khách quan (sở biến kế) quan hệ nhau, làm ra vọng lự. Ấy là cách giải thích chủ quan về hiện tượng.
Y tha khởi tánh là chỉ về sự nhân duyên sinh khởi ra các hiện tượng. Làm cho những hiện tượng sinh khởi là bốn cái duyên: nhân duyên, đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên và tăng thượng duyên.
Nhân duyên , ấy là nhân duyên của chủng tử. Trong A lại da thức vẫn gồm hết tất cả những chủng tử để sinh khởi nhất thiết chư pháp. Những chủng tử ấy, mỗi đều riêng có nguyên nhân, mỗi đều riêng có kết quả.
Gọi rằng chủng tử sinh hiện hành , là hiện hành nguyên nhân. Gọi rằng hiện hành sinh chủng tử, là chủng tử nguyên nhân. Tức một đàng là tiên thiên (chủng tử sinh hiện hành) một đàng là hậu thiên (hiện hành sinh chủng tử).
Như vậy chủng tử cùng hiện hành cùng quan hệ nhân quả nhau, mà kế tục sinh khởi tất cả các pháp.
Vô gián duyên là chỉ về chỗ không gián đoạn của tâm thể. Một niệm vừa diệt, đồng thời vừa khởi ra niệm khác. Niệm trước diệt làm duyên cho niệm sau. Niệm trước niệm sau cùng có cái thể đồng đẳng.
Sở duyên duyên là cái đối tượng (objet) cho tri giác. Đối tượng trực tiếp gọi là ‘thân sở duyên’. Đối tượng gián tiếp gọi là ‘sơ sở duyên’. Tâm với tâm sở (objet de la conscience) là năng duyên. Phàm khi tâm khởi, tất nó dựa vào cảnh giới khách quan mà khởi. Cảnh giới khách quan ấy gọi là sở duyên.
Tăng thượng duyên là chỉ cái duyên giúp thế lực cho qua được chướng ngại mà toàn thành kết quả.
Do bốn cái duyên trên ấy hòa hiệp mà sinh ra, cái đó gọi là y tha khởi tánh.
Viên thành thật tánh, tức là cái sinh khởi của y tha pháp; là cái gốc của chân như lý tánh.
Chân như là cái tuyệt đối bất khả tri, khảo lự cũng không thể được mà chỉ có một phương pháp là dựa nơi hiện tượng giới rồi nghịch luận lên đến cái đứùc dụng của nó. Đức dụng ấy có những nghĩa: viên mãn, thành tựu, chân thật. Vì vậy cho nên dùng ba tiếng viên, thành, thật mà chỉ bản thể của chân như; gọi bản thể ấy là viên thành thật tánh.
Chân như có viên thành thật tánh, nên thường trụ bất biến, mà nhất thiết viên mãn. Y tha pháp có hiển hiện ra chẳng qua là ở nơi giả chân như thật tại, do bốn giống nhân duyên kết thành.
Như thế thời bản thể cùng hiện tượng cách lịch nhau. Viên thành chân như là bản thể của y tha, còn tướùng là hiện tượng của y tha.
Y tha cùng viên thành không khác, cũng không chung nhau.
Nếu chân như cùng y tha mà toàn nhiên khác nhau, thời ắt hai cái chẳng mảy may nào quan hệ nhau. Nhưng mà chân như là bản thể của y tha, chân như không dựa vào chi trước nó.
Nếu chân như cùng y tha mà đồng nhất, thời ở giữa hai cái chẳng mảy may nào có hở cách. Y tha vô thường như thế nào thời chân như cũng không thể không vô thường như thế ấy. Nhưng mà bản thể chân như không có cái lý vô thường. Cho nên chân như cùng y tha không phải một, cũng không phải hai,
Tóm lại viên thành thật là bản thể của bản hữu, cho nên nó thật là thật tại; y tha là cái sinh ra bởi các cái duyên, cho nên nó giả tại; biến kế là cái vọng hữu sinh ra bởi vọng tình của ta, không có thể, không có dụng gì cả1.
Trên đây đã chỉ ra chỗ quan hệ giữa thật tại và hiện tượng.
Dưới đây sẽ chỉ ra chỗ quan hệ giữa tâm và vật trong hiện tượng giới.
A lại da thức là căn bản thức của tất cả những hiện tượng. Trong A lại da thức lại có chủ quan và khách quan, bởi thế nên khu biệt ra gọi là tướng phần và kiến phần.
Tướng phần của A lại da thức là ngũ căn của chủng tử. Kiến phần của A lại da thức là cái danh để chỉ rằng nó hay soi được cảnh trước.
Thức thể chuyển biến, đồng thời sinh ra năng duyên và sở duyên. Năng duyên là kiến phần, sở duyên là tướng phần. Thống nhất hai cái năng duyên và sở duyên thời là làm tự thể phần cho A lại da thức. Tự thể phần cũng gọi là tự chứng phần.
Cái chứng tri thấy được cái tự thể phần (hay là tự chứng phần) đó gọi là chứng tự chứng phần.
Kiến phần, tướng phần, tự chứng phần, chứng tự chứng phần, ấy là ‘tứ phần thành tâm’.
Cái đối tượng nhận thức của chúng ta coi thời như là ngoại cảnh, kỳ thật nó không ngoài được ảnh tượng ở tâm nội, tức nó là cái tánh cảnh.
Nhưng mà hễ có ảnh tượng là có bản chất. Đối với bản chất của ảnh tượng ấy, tức có đới chất cảnh tồn tại. Bản chất và đới chất cảnh đều tựa như là pháp ở ngoài tâm ta, mà rốt lại cũng chỉ là cái tướng phần của A lại da trong tâm mà thôi.
A lại da bao tàng tất cả chủng tử của vạn hữu. Do chủng tử đó mà biến sinh vạn hữu. Tác dụng nầy gọi là nhân năng biến. Vạn hữu biến sinh ra đó tức là tướng phần của tự thức. Cái nầy gọi là quả năng biến.
Bảy thức trước (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý, mạt na) là tri giác tướng phần không biến sinh được tác dụng có bản chất. Chỉ có A lại da thức là một mình có nhân năng biến và quả năng biến đồng thời cùng có ảnh tượng và bản chất.
Bởi thế cho nên rốt lại vạn hữu không lìa được duy thức.
Mà chủng tử trong A lại da thức sinh ra cách làm sao? Đáp rằng: cách vô thỉ pháp.
Tóm lại: phàm hễ tâm dao động, tất xuất hiện ra ảnh tượng. Ảnh tượng nầy gọi là tướng phần.
Rồi ta lại lấy tướng phần nầy làm đối tượng, mới phát khởi bao nhiêu những giống tác dụng của tâm tượng. Cho nên tướng phần là khách quan của tâm, nên gọi là tánh cảnh .
Đối với tướng phần, tánh cảnh có cái bản chất đồng nhất với nó. Khi ảnh tượng xuất hiện, nó vẫn có cái đeo theo cái bản chất của nó mà ta không trực tiếp được. Ấy gọi là đới chất cảnh .
Bản chất ấy nguyên là do A lại da sinh, và đồng thời khiến nó theo thức thể mà biến ra.
Độc ảnh cảnh sinh ra là do nơi quan hệ giữa tướng phần và kiến phần. Nó gợi được tâm nhưng không có bản chất riêng, cho nên có câu "độc ảnh duy tòng kiến". Như sừng thỏ, lông rùa, là độc ảnh cảnh.
Rốt lại, nhất thiết vạn hữu đều là do A lại da biến ra. Cho nên nói rằng: "tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức".
Xem trên đó thời A lại da thức biến ra hết thảy vạn tượng và là căn bản của hiện tượng. Do A lại da mà phát sinh tâm và vật.
Nhưng tám cái thức, mỗi đều tự có duy thức, và mỗi người đều có duy thức riêng. Cho nên mỗi vật mỗi có A lại da thức của nó và bởi thế A lại da thức có vô lượng số.
Như thế thời tự thân của vũ trụ cũng vô lượng số (đa nguyên).
Nhân sinh quan. Pháp tướng tông cho rằng hiện tượng giới là mê vọng, và mê vọng như thế là khổ, cho nên phải đoạn diệt nó đi. Chỗ nầy không khác chủ trương của Câu xá tông là bao nhiêu.
Pháp tướng tông có chỗ đặc sắc của nó là chủ trương ngũ tánh. Một là Bồ tát định tánh tức là cái động cơ quyết định thành Phật. Hai là Giác định tánh. Ba là Thanh văn định tánh. Hai tánh nầy (giác định và thanh văn định) kết cuộc ngừng chỗ A la hán (arhat) không thành Phật được. Bốn là Bất định tánh, do tánh nầy mà tới thời đến chỗ Phật quả, lui thời chỉ tới quả của Thanh văn thừa cùng Duyên giác thừa mà thôi, hai cái đều không quyết định được. Năm là Vô tánh hữu tình; ấy là cái cơ không thành Phật được, cũng không đến được hai thừa Thanh văn và Duyên giác, mà phải chịu luân hồi sanh tử.
Nhưng mà thật đại thừa phản đối cái thuyết trên đó và cho rằng nhất thiết chúng sinh đều có Phật tánh, tức là đều có thể thành Phật.
Giải thoát luận. Muốn thành Phật, nghĩa là muốn đạt được giải thoát tối cao, phải tu lục độ, vạn hạnh, trải qua thời gian ba a tăng kỳ (asamkhyêyas). A tăng kỳ là con số vô cùng. Mỗi a tăng kỳ viết ra là một con số một với ở đằng sau bốn mươi bảy con zéros. Đó là nói giải thoát về phương diện đạo đứùc.
Về phương diện duy thức phải trải qua ngũ trùng duy thức và ngũ chủng duy thức. Đây không thuật lại, vì phiền phức quá, chỉ tóm tắt cái nghĩa của nó như vầy: bỏ cái vọng, theo cái chân, bỏ hiện tượng giới, về với thật tại giới, nhất trí với thật tại.