LUÂN LÝ TRONG PHẬT GIÁO
Căn bản của triết học Phật giáo là ở nơi phiếm thần quan. Theo quan niệm nầy thời vạn vật là nhất như, là bình đẳng. Tuy vạn hữu có thiên sai vạn biệt, mà thật ra nguồn gốc nó là một, nơi thật tại, không có thiện có ác gì.
Không thiện không ác, tà-chánh nhất như, cái tư tưởng ấy đã nảy ra, thời căn bản của luân lý đạo đức không cầu đâu mà được. Song le đó là về phương diện phiếm thần quan, chớ nếu xét về phương diện sai biệt thời lại phát sinh ý nghĩa đạo đức.
Vạn hữu có thiên sai vạn biệt, có sinh diệt chuyển biến, ấy là cái tướng của sự mê vọng. Trong cảnh giới mê vọng ấy, không có được thật ngã. Như thế tất phải cần giải thoát.
Cảnh giới mê vọng có được là tại ta lầm tạo nghiệp. Cho nên muốn giải thoát phải phá lầm, phải diệt nghiệp. Do tư tưởng như thế phát sinh chủ nghĩa cấm dục.
Luân lý của tiểu thừa Phật giáo không ngoài cái khuôn khổ cấm dục đó. Tức là một chủ nghĩa tiêu cực.
Đại thừa Phật giáo, trái lại, không cho hiện tượng là mê vọng, mà cho hiện tượng cùng thật tại là nhất như. Nghĩa là vạn hữu vẫn nhất như. Thân tâm ta cũng là hiện tượng, nó cũng là nhất như. Ta không được tưởng tượng có thật ngã đứng riêng biệt. Như thế đại thừa Phật giáo chủ trương vô ngã. Nhưng cái vô ngã ấy vẫn lẫn trong đại ngã (paramâtman).
Tư tưởng ấy dẫn phái đại thừa vào đường luân lý: đối với tự kỷ thì khắc kỷ, mà đối với kẻ khác thời giữ chủ nghĩa lợi tha, chủ nghĩa đại bi, bởi xem kẻ khác cùng mình là đồng thể nhất như. Do đó đại thừa Phật giáo theo chủ nghĩa tích cực mà hoạt động: tự giác nhi giác tha.
Chủ nghĩa khắc kỷ của đại thừa giáo không phải là chủ nghĩa cấm dục của tiểu thừa giáo mà là chủ nghĩa tôn trọng chủ quan, chủ nghĩa nghiêm túc, để đạt đến viên mãn Phật tánh mà vào cõi thường lạc, hay tịnh độ.
Tiểu thừa giáo theo giới luật cấm dục. Đại thừa giáo thời không ra ngoài sáu cái ‘ba la mật’ (pâramitâ): một là bố thí ( dâna , Tàu dịch âm đàn na); hai là trì giới ( sila ) tức là ngăn điều ác để được điều thiện; ba là nhẫn nhục ( ksânti ); bốn là tinh tấn ( virya ); năm là thiền định ( dhyâna ); sáu là trí tuệ ( prajna ). Sáu ba la mật ấy tức là đối với tự kỷ thời khắc kỷ, đối với kẻ khác thời bác ái.
Tiểu thừa giáo lấy cái kết quả của hành vi mà phân biệt thiện ác. Đại thừa giáo không dựa nơi kết quả luận như thế, mà dựa nơi tâm pháp giới thể, bảo rằng: ‘nhất niệm khởi, thiện ác dĩ phân ‘’. Tức là đại thừa giáo dựa nơi động cơ luận, mà khắc kỷ, bác ái.