BUDDHA HOME

KINH & SÁCH

 

II. NHẬN THỨC LUẬN

 

"Bất kỳ cái triết học nào xứng đáng danh hiệu ấy, cũng có vũ trụ luận, cũng có nhận thức luận cho nó. Triết học nào lìa nhận thức luận ra là phải chịu cái số kiếp ngưng trệ lại, không nảy nở ra được" (Luận Tùng, cùng một tác giả). Triết học Ấn-độ vẫn có nhận thức luận hẳn hoi. Phật giáo chịu ảnh hưởng nhiều trong đó.

Khảo về nhận thức luận, nhà triết học khảo những vấn đề: bản nguyên của tri thức, giới hạn và hiệu lực của tri thức, bản chất của tri thứùc. Riêng về Ấn-độ trong nhận thức luận lại còn có nhân minh luận.

1- Bản Nguyên Của Tri Thức. Triết học phương tây luận về bản nguyên của tri thức, phân ra hai phái. Một cho rằng bản nguyên của tri thức là ở nơi tiên thiên (apriorisme), một cho rằng bản nguyên của tri thức là ở nơi kinh nghiệm (empirisme).

Cũng luận về bản nguyên của tri thức, triết học Ấn-độ gọi là tri lượng. Ở đây cũng cho tri thức là do hai nguồn mà ra. Một là thánh giáo lượng, một là hiện lượng với tỉ luợng. Thánh giáo lượng là nguồn tri thức của thần linh mách cho (như kinh Veda). Thuyết nầy tức là một loại với thuyết tiên thiên. Hiện lượng hay là chứng lượng, là chỉ tri thức do giác quan thân chứng mà phát sinh. Tỉ lượng, là chỉ tri thức do lý trí ta tỉ giảo mà phát sinh. Sánh với triết học phương tây, thuyết hiện lượng và tỉ lượng giống như thuyết kinh nghiệm.

Phái Mimansa chủ trương lục lượng. Một là hiện lượng (pratiyaksâta), tức như évidence trong triết học tây phương. Hai là tỉ lượng (anumana). Ba là thí dụ lượng (upamâna), tức là analogie: như muốn biết con bò rừng ra sao, lấy con bò nhà mà thí dụ. Bốn là nghĩa chuẩn lượïng (arthapatti) tức là signification, như nói: pháp vô ngã thời chuẩn định mà biết rằng: pháp vô thường. Năm là thánh giáo lượng (sabda). Sáu là vô thể lượïng (abhâva): chữ abhâva nghĩa là vắng mặt (absence). Như thấy trời không mây, đoán biết là đất ruộng phải khô.

Phật giáo nối dõi theo triết học trước nó cũng luận về bản nguyên của nhận thức. Nhưng nó ngược lại, chỉ giữ hai cái hiện lượng và tỉ lượng mà thôi. Trong hai cái lượng nầy, lại cho hiện lượng là hơn hết. Xem như Thế Thân bảo rằng: "Chứng lượng bất thành, tỉ dụ, thánh ngôn giai thất". Chứng lượng tức là hiện lượng. Cho biết một câu nói ấy có cái khí vị vô thần luận, phá tan thánh giáo lượng của Bà la môn giáo.

Chủ trương hiện lượng và tỉ lượng là hai cái bản nguyên của nhận thức, do nơi Trần Na (Jina bôdhisattva) mà người ta gọi là khai tổ của tân luận lý ở Ấn-độ.

Trần Na, sinh vào khoảng một ngàn năm sau khi Phật nhập diệt, tức là vào lối thế kỷ thứ VI của tây nguyên. Người chủ trương rằng: để tự ngộ chỉ có hiện lượng và tỉ lượng.

Hiện lượng gồm có cảm giác (sensation) và tri giác (perception). Ta có quan niệm rõ rệt về một vật gì, tức phải có cảm giác về vật ấy, như là phải thấy màu nó, phải nghe mùi nó, phải biết vị nó, vân vân. Nhưng mà có cảm giác rồi, phải ra ngoài những cảm giác mới tìm được tri giác. Không có cảm giác thời không có tri giác. Mà không có tri giác, thời cũng chưa có quan niệm (conception) được, nghĩa là hiện lượng chưa thành.

Tỉ lượng gồm phán đoán (judgement) và suy lý (raisonnement). Chỉ sau khi có hiện lượng thời mới có thể có tỉ lượng được. Cho được có tỉ lượng phải biết phân biệt. Tỉ phải có ít nữa là hai vật. Trong hai vật ấy phải phân biệt được chỗ đồng, chỗ dị, mới tỉ được. Chỗ đồng trong Phật giáo gọi là cọng tướng, chỗ dị gọi là tự tướng. Lấy một thí dụ: như ngũ uẩn. Ta vẫn biết ngũ uẩn là vô thường. Vô thường ấy là cọng tướng của ngũ uẩn. Còn ngũ uẩn là tự tướng. Trong ngũ uẩn lại lấy sắc uẩn mà nói, thời sắc uẩn là cọng tướùng, còn sắc xứ là tự tướng. Trong sắc xứ lấy màu xanh mà nói, thời màu xanh là tự tướùng mà sắc xứ là cọng tướùng. Trong những màu xanh, lấy một cái hoa thêu trong một cái áo mà nói, thời màu xanh ấy là tự tướùng mà cái hoa thêu trong áo là cọng tướng. Trong cái hoa thêu ấy, lấy một phần thật nhỏ mà nói, thời phần thật nhỏ nầy là tự tướng, còn cái hoa kia là cọng tướng. Cứ như thế mà thâu hẹp lại mãi, cho đến chỗ ly ngôn (không còn lời gì nói được), thời chỗ ly ngôn ấy là tự tướng, còn phần thật nhỏ kia là cọng tướng. Trong chỗ ly ngôn thời thánh trí ngầm hiểu bản chân, thánh trí ấy là tự tướng mà cái gọi là ly ngôn kia là cọng tướng.

Cọng tướng vốn là giả hữu, bởi giả trí ta tìm thấy. Tự tướng vốn là khả chân, thời hiện lượng dựa vào đó, và thánh trí chứng lượng được nó.

Cọng tướng như sợi dây trong một tràng hoa, tự tướng như mỗi cái hoa trong tràng hoa ấy.

Tỉ lượng dựa vào cái tướng mà xem cái nghĩa. Cái nghĩa ấy nó ‘tự chứng ly ngôn’.

Ngược lại, một khi nghĩa đã thấy rồi, thời tướng cũng thấy rõ.

Ngoài cái ‘tự chứng ly ngôn’, nghĩa là ngoài cái tự tướng, mà hiện tượng thấy được, thời có cái gì không phải là cọng tướng.

Cọng tướng, duy chỉ có tỉ lượng là thấy được.

Cho nên nhất thiết không có cái gì là không nhờ tỉ lượng mà biết được.

Sau khi ta tỉ lượng, thời ta thấy được cái nghĩa. Nghĩa do tỉ lượng mà có. Trước khi ta tỉ lượïng, ta phải dựa vào cọng tướng. Nhưng mà cọng tướng cũng do tỉ lượng mà có.

Tóm lại, hiện lượng hay là chứng lượng cho ta biết tự tướng của sự vật. Tỉ lượng cho ta biết cọng tướng của sự vật. Cho nên Trần Na bảo rằng: ‘Vị tự khai ngộ, duy hữu hiện lượng cập tỉ lượng’.

2- Giới Hạn Và Hiệu Lực Của Tri Thức. Tri thức biết được gì, và biết đến đâu? Một câu hỏi ấy triết học thời nào cũng phát ra. Nhưng giải đáp không bao giờ đồng nhau. Triết học Âu châu có những phái độc đoán, phái hoài nghi, phái phê bình, giải đáp mỗi thiên chấp.

Phật giáo không đồng với triết học nào cả về vấn đề nầy.

Trên kia đã nói: tri thức chỉ do hiện lượng và tỉ lượng mà có. Nhưng có tri thức như thế đã có được gì? Có biết được bản thể không?

Trần Na bảo rằng: hiện lượng và tỉ lượïng đều không từng được vật, nghĩa là không từng nắm được vật tự thân (la chose en soi). Mắt trông thấy cái bình, là thấy cái sắc tướng của nó, chớ không phải là thấy cái bình tự thân. Nói về một tri căn (bud dhindriya) như thế. Nói về các tri căn khác cũng thế. Như mũi biết được mùi của vật, không biết được vật tự thân. Vậy cái tri thức thuộc về một vật, góp lại cũng chỉ biết được sắc tướng của nó, không thể biết được thật thể của nó.

Nói về hiện lượng như thế. Còn tỉ lượng thời dựa vào hiện lượng mà xem nghĩa, cũng không biết được thật thể. Như hiện lượng thấy màu, tỉ lượng dựa vào đó mà biết cái nghĩa của màu, không sao biết được cái thể của màu, tức là không sao biết được cái thể của vật có màu ấy.

Biết được thể, chỉ nhờ ở nơi ‘phi lượng’. Cái thể vốn siêu quá nhận thức. Lý không biết được nó. Chỉ tình là bảo rằng thể phải có mà thôi. Bởi lý không biết, mà tình rằng có, nên gọi là phi lượng. Phi lượng hàm ý nghĩa phi tri thức.

Mắt ta trông thấy màu trắng. Ta có cảm giác, rồi có cái cảm giác về màu trắng đó (perception du blanc). Ta hiểu được nghĩa của màu trắng. Nhưng còn cái thật thể của màu trắng (la blanchéité) chỉ có phi lượng là hiểu nó thôi.

Tri thức của ta phải dựa vào cảm giác mới có. Cho nên tri thức bị cảm giác làm giới hạn cho nó. Nhưng cảm giác không phải là tri thức. Cho nên tri thức ngoài cảm giác.

Dựa vào cảm giác cho nên tri thức lấy giới hạn nơi cảm giác. Ngoài cảm giác, cho nên tri thức lại không có giới hạn.

Như thế Phật giáo chủ trương không giống các học thuyết khác. Trong giới hạn vẫn có tri thức, mà ngoài giới hạn tri thức vẫn còn. Trong giới hạn thì hiện lượng và tỉ lượng biết được. Ngoài giới hạn thời phi lượng đem tri thức lại cho ta. Nhưng tri thức không thể cho biết cái mà ta biết bằng phi lượng, tức là cái bản thể. Cho nên nói phi lượng hàm ý nghĩa phi tri thức.

3- Bản Chất Của Tri Thức. Vấn đề bản chất của tri thức trong mấy chương trên tuy không nói rõ ra, nhưng đã có đá động đến rồi. Các học phái trong triết học Ấn-độ luận về vấn đề nầy đều bảo rằng những cái cực vi hòa hiệp lại làm đối tượng (objet) cho tri thức. Nghĩa là lìa tri thức ra đối tượng của tri thức vẫn có thật. Như thế là chủ trương một thứ thật tại luận chất phác (réalisme grossier).

Đại thừa Phật giáo về vấn đề bản chất của tri thức, có phái duy thức luận là nói được tách bạch hơn hết.

Thuyết duy thức khác hẳn với thật tại luận chất phác đã nói trên đây. Thuyết duy thức chủ trương rằng: cái dẫn tri thức đến cho ta chỉ là tri thức của ta biến ra mà thôi. Như thế thời cái biết của ta nằm trong cảm giác của ta, chớ không phải nằm trong thể chất của sự vật. Điều ấy nơi nói về A lại da thức đã tường rồi.

"Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức". Một câu ấy thật là ách yếu của đại thừa Phật giáo. Thức ở đây, là cái thức ‘tự thể’, không phải cái ‘dụng ‘’ của thức, như nơi triết học Âu tây. Thứùc tự thể ấy biến ra tri thức trong khi nó tác dụng.

Thức, của duy thức luận, nó như thế, cho nên ta không được nói là nó có ngang có dọc, hay có thể lượng. Nhưng mà bảo rằng nó là vô thể thời cũng không nhằm. Nó cùng chân như không rời nhau, mà không cùng là một.

Tâm, ở trong câu ‘tam giới duy tâm’, là chỉ ý thức. Duy thức luận vẫn nói luôn: ‘Tam giới duy thức’.

Tóm lại, cái mà ta biết được (sở giác, sở thức) vẫn là do thức mà biến ra nó.

4- Nhân Minh Luận. Ở Ấn-độ, những học phái nào phát triển cũng đều có nhân minh luận. Nhưng sáng thiết ra nhân minh luận là phái Nyâya (nghĩa là phái Chánh lý). Truyền rằng thỉ tổ của phái nầy là Gotama (trùng tên với Phật Thích Ca) cũng gọi là Aksapada . Người Tàu dịch nghĩa chữ Aksapada là Túc Mục. Lịch sử của Túc Mục thất truyền. Người đời duy biết được học thuyết của nhà luận lý học nầy mà thôi.

Nhưng các nhà học giả khảo hạch quyển kinh Nyâya (mà cựu truyền cho rằng của Túc Mục viết) quyết đoán rằng: cứ thể tài và lập thuyết trong kinh ấy, thời kinh nầy không phải do một tay hay một thời đại tạo ra, và có lẽ nó xuất hiện lối thế kỷ thứ III trước tây nguyên. Nó được hoàn chỉnh vào khoảng thế kỷ thứ IV hay thứ V sau tây nguyên.

Đây không thuật lại nhân minh luận của phái Nyâya, chỉ thuật nhân minh luận của Trần Na (Jina Bôdhisattva) đã cải cách.

Trần Na có quyển luận gọi là Nyâya Pravêca Târaka Câstra (Nhân minh nhập chánh lý luận). Đại lược Trần Na chủ trương rằng: để tự ngộ chỉ có hiện lượng và tỉ lượng. Đã tự ngộ rồi, muốn làm cho người khác cùng ngộ (ngộ tha). Trần Na dùng phép "tam chi". Nguyên phái Nyâya đặt ra ‘ngũ chi’ thí dụ:

       

  1. Tông. Trên núi kia có lửa.

  2. Nhân. Bởi vì có khói.

  3. Dụ. Phàm chỗ có khói tất có lửa, như ở bếp kia.

  4. Hiệp. Trên núi kia có khói.

  5. Kết. Cho nên biết là có lửa.

Trần Na giảm hai chi sau, chỉ còn giữ có ba chi: tông, nhân, dụ. Tam chi ấy không khác nào tam đoạn luận mà lật ngược lại. Tông tức là chỉ cái tông nghĩa (nghĩa gốc), đã thành, đã phân biệt rồi.