B. Thật Tướng Luận.Thật tướng luận giải bày cho biết thật thể của vũ trụ như thế nào. Tức là nó đi tìm thật tại (le réel). Tôn giáo nào, triết học nào cũng không thể không luận đến vấn đề thật tại. Nhưng thật tại chỉ có lấy trực quan mà xem nó, chớ không có ngôn ngữ văn tự gì diễn tả nó được. Cho nên các nền triết học phải dùng đến phương pháp tỉ dụ loại tợ (methode analogique) mà diễn tả thật tại.
Phật giáo, về thật tại luận dùng ba phép tiêu cực, tích cực và lý tưởng.
1- Tiêu Cực Thật Tại Luận. Thuyết nầy cho rằng ngôn ngữ văn tự có diễn tả được chăng là diễn tả hiện tượng giới, chớ còn về thật tại quyết là không thể nào diễn tả được. Nó lại cũng cho rằng: nói thật tại với hiện tượïng là đồng hoặc là khác hoặc là một hoặc là hai, đều cũng không đúng; nói thật tại là có là không, là cũng có cũng không, là không phải có không phải không, đều cũng không đúng chân tướng của thật tại.
Thật tại vốn là không tịch.
2- Tích Cực Thật Tại Luận. Thật tại chỉ có trực quan mà biết. Điều ấy đã đành. Nhưng biết rồi cũng phải làm sao mô tả nó cho được. Lòng người bao giờ cũng nghĩ đến chỗ nầy. Do đó phát sinh ra tích cực thật tại luận.
Tích cực thật tại luận của Phật giáo có hai lối. Một lối trừu tượng cho rằng hiện tượng giới là mê vọng, rồi do đó mà có cái quan niệm phản động lại, trừu tượng nghĩ ra thật tại, và diễn tả thậït tại bằng những tiếng chân như, chân tâm, chân giác, thắng nghĩa. Một lối cụ thể, tả thật tại bằng những tiếng pháp thân (dharmakâya), như lai (tathâgata), hoặc là lục đại (mahâbhuta).
Lại xét về chỗ quan hệ giữa thật tại và hiện tượng, thời tả thật tại bằng những tiếng nhất như, như như, hoặc là pháp giới.
Những tiếng: trung đạo, chân thiện, chân đế, cũng chỉ về thật tại, khi xét đến phương diện hoạt động của nó. Còn khi xét về cá thể của nó thời có những tiếng để tả tướng nó, như là: phật tánh, giác tánh, pháp tánh.
Tóm lại, dầu cho dùng tiếng nào để tả thật tại, cũng cùng có một ý, là nói rằng thật tại là thiện, là hay động.
3- Lý Tưởng Thật Tại Luận. Thuyết nầy đứng về phương diện giả định mà đặït ra. Nói rằng thật tại là chung cuộc của sự giải thoát.
Gọi nó bằng lý tưởng thật tại luận là thủ cái nghĩa con người ở trong cõi hiện tượng, lấy lý tưởng mà nghĩ ra nó.
Lý tưởûng thật tại luận phân ra hai thuyết. Một thuyết tiêu cực, một thuyết tích cực.
Thuyết tiêu cực là chủ trương của tiểu thừa giáo. Giáo phái nầy bảo rằng: ‘chư hành vô thường’. Nghĩa là vạn hữu có sinh có diệt, chuyển biến, chớ không phải thường trụ. Thoát cho được cái cảnh giới sinh diệt chuyển biến vô thường mà đến cảnh giới thường tịch, không chuyển biến sinh diệt, là đến niết bàn. Thuyết như thế là hình dung cái trạng thái của tâm được nhất trí với thật tại. Nhưng mà hình dung một cách tiêu cực.
Tiểûu thừa giáo lại bảo rằng: ‘chư pháp vô ngã’. Nghĩa là bảo rằng: tâm thân của ta chuyển động không định, già chết chẳng lường. Lìa cho được chỗ chấp trướùc của cái bất định đó mà diệt thân diệt trí thời đến được cảnh giới vô vi. Cảnh giới nầy gọi Arhat (A la hán, hay là la hán, nghĩa là vô học; bởi đến đó thời là vô pháp khả học). Thuyết như thế cũng lại là một thuyết tiêu cực. Thuyết trên hình dung cái trạng thái của tâm được cùng với thật tại nhất trí. Thuyết dưới hình dung cái trạng thái của thân được cùng với thật tại nhất trí.
Hai thuyết cũng đều là phủ định cái hiện tượng giới, mà ra ngoài hiện tượng giới, để, một đàng tìm thật tại ở nơi cảnh giới không tịch, mộât đàng tìm thật tại ở nơi cảnh giới vô vi.
Đối lại với hai thuyết tiêu cực trên đây của tiểu thừa Phật giáo, có thuyết tích cực bảo rằng ngoài hiện tượng giới có viên mãn thật tại giới. Thật tại giới nầy khác với thật tại ở trong hiện tượng giới. Ấy gọi là Phật, hay Tịnh độ.
Kết Luận Về Thật Tướng Luận. Nguyên thỉ Phật giáo, một mặt vì thời thế xui nên, một mặt vì nhân trí, trình độ, toàn nhiên phủ định hiện tượng giới, dùng phương pháp tiêu cực mà mô tả thật tại, rồi lại vì tư tưởng tôn giáo mà xướng ra lý tưởng thật tại luận.
Duyên khởi luận cùng thật tướng luận, hai thuyết ấy đeo đẳng với nhau mà khai triển, biểu lý nhau mà giải bày một vật là thật tại.