PHẦN THỨ BA
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO SAU KHI PHẬT NHẬP DIỆT
VŨ TRỤ LUẬN
Khảo về Phật giáo là một việc làm không phải dễ dàng, không phải mau chóng được. Vì Phật giáo không như các giáo khác, mà nó chia ra đến mười mấy tông, nó có những tám ngàn ngoài bộ kinh và luận. Phật giáo trải qua thời gian những hai ngàn năm trăm năm, trải qua không gian những mấy nước, tràn gần kháp cõi Á đông rộng lớn. Ấn-độ theo Phật giáo đã đành, ngoài ra còn những nước Thái (Xiêm), Miến điện, Tây tạng, Trung hoa, Triều tiên, Nhật bản, Đông dương.
Tuy nhiên, về phương diện tông giáo, Phật giáo có phân phái nhiều như thế, về phương diện triết học, nó cũng như các nền triết học khác, cũng xoay quanh bao quẩn có mấy vấn đề mà thôi.
Nay ta xét Phật giáo về ba phương diện. Một là phương diện vũ trụ luận, hai là phương diện giải thoát luận, ba là phương diện luân lý.
Vũ trụ bởi đâu mà có?
Từ thuở nào đến giờ, trí con người vừa hiểu biết, là vừa phát ra câu hỏi đó. Tông giáo nào, triết học nào, cũng phải băn khoăn với câu hỏi đó.
Trong vũ trụ có những hiện tượng. Mà có hiện tượng tất có thật thể. Vậy triết học đi tìm khảo sát hai phương diện ấy của vũ trụ. Chẳng những khảo sát riêng hiện tượng và tự thân thật thể, triết học còn khảo sát thêm một từng nữa cho biết hiện tượng với tự thân của thật thể quan hệ nhau làm sao. Một khi đã thấy, hoặc tưởng là đã thấy chỗ quan hệ ấy rồi triết học còn khảo sát xem hiện tượng sinh ra cách nào. Xong, mới quy kết vũ trụ luận.
Giáo hệ nào chủ trương hữu thần, thời cho rằng vũ trụ là do một tạo-vật-chủ dựng nên. Như thế là vũ trụ có thỉ (commencement). Và có khi cũng có chung (fin). Như Thiên chúa giáo chủ trương.
Phật giáo rành rành là vô thần giáo, không chủ trương có tạo-vật-chủ. Đối với Phật giáo vạn hữu sinh ra, không nhờ phép nào ở ngoài nó cả, mà chỉ tự kỷ nhân quả nối tiếp nhau mà thôi. Cái quả ở bây giờ là do cái nhân ở trước, cái nhân ở trước là do cái quả ở trước nữa, cứ như thế đi ngược trở lên mãi, nhân nầy do quả nọ, quả ấy do nhân trước, không bao giờ cùng. Tức là đối với Phật giáo, vũ trụ vô thỉ. Và nó cũng vô chung. Vì, theo luận điệu trên đó, quả ở bây giờ là nhân cho cái quả sau nầy, rồi quả sau nầy làm nhân cho cái quả kế đó nữa. Cứ như thế mãi.
Nhân quả nối tiếp xây vần không bao giờ đứt.
Trong cuộc nhân quả tương tiếp tương thừa ấy, nếu lấy riêng một vật, thời vật nầy thấy như có thỉ có chung, tức là có sinh có hoại. Nhưng mà hoại lại là cái nhân cho tái sinh. Mất rồi lại có. Có rồi lại mất. Đảo đi đảo lại vô cùng tận. Như thế cho nên nhân của cái nhân, thời vô thỉ. Mà đã có nhân thời có quả. Quả của cái quả thời vô chung.
Trong hiện-tượng giới, ta thấy có sinh có diệt, có thỉ có chung, ta cho là vô thường. Nhưng nếu xét toàn thể vũ trụ, đứng về thật-tại giới, thời chẳng còn sinh diệt, mà vạn-hữu là thường trụ.
Khảo về hiện-tượng giới, Phật giáo có ‘duyên khởi luận’. Khảo về thật-tại giới, Phật giáo có ‘thật tướng luận’. Nhưng phân ra hai luận như thế để xét về hai phương diện, kỳ thật kết cuộc lại chỉ cốt đến chỗ rõ ‘nhất như’.
- Duyên Khởi Luận
Duyên khởi luận trong Phật giáo có nhiều thuyết.
1- Nghiệp cảm duyên khởi. Nghiệp cảm duyên khởi luận ở trong nguyên thỉ Phật giáo phát-đoan ở tứ diệu đế và thập-nhị nhân duyên thuyết. Tứ diệu đế trên đã thuật, là khổ, tập, diệt, đạo. Hai đế diệt đạo thuộc về giải thoát luận. Hai đế khổ tập, thuyết minh duyên khởi của nhân sinh. Hai đế khổ tập diễn rộng ra, tức là thập-nhị nhân-duyên.
Thập-nhị nhân-duyên, nhắc lại là: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, và lão tử. Gom lại mà nói thập-nhị nhân-duyên để cắt nghĩa cái nghiệp lực của tự ta làm ra, và cắt nghĩa cuộc nhân quả tuần hoàn. Cái nghiệp lực của ta, từ vô thỉ mà dẫn đến, sinh tửû luân chuyển vô cùng. Chí như vạn hữu cũng chẳng qua là nghiệp lực của ta cảm ứng mà có. Ấy gọi là tự nghiệp, tự đắc.
Ta ở hiện tại có hình hài như thế nầy, là do ở đời trước tạo nghiệp mà ra. Tâm thân của ta là do ở một cuộc tập hiệp mà có. Tâm thân tập hiệp nầy lại lầm tạo nghiệp, để sẽ làm nguyên nhân cho cuộc tập hiệp về sau. Ấy gọi là dẫn nghiệp.
Sự hành vi của ta hằng ngày sinh ra tam nghiệp (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp). Tam nghiệp cứ lớp trước tàn, lớp sau nối, liên liên như những khoen dây xích. Thân tâm ta bởi đó mà tiếp dẫn với chủ-quan giới và khách-quan giới. Ấy gọi là nghiệp cảm duyên khởi.
Phật giáo chủ trương như thế, không có ý gì nói đến sự luân hồi của linh hồn, mà chỉ về cái tác nghiệp vô hình là khiến cho ngũ uẩn tập khởi. Cũng như hoa tàn thì quả kết, không phải hoa biến thành quả, nghiệp lực không phải biến thành ngũ uẩn, mà ngũ uẩn nếu không có nghiệp lực cũng là thành không.
Quả không phải đồng thời sinh với hoa. Có hoa rồi mới có quả. Hoa là nhân của quả vậy. Hoa chưa tàn quả chẳng kết được. Hoa với quả tuy là hai vật khác nhau, mà thật cùng nhau có quan hệ như thế.
Quả rồi sẽ sinh ra cây. Cây rồi sẽ khai hoa. Hoa rồi sẽ kết quả. Cứ như thế tuần hoàn vô cùng.
Vạn hữu cũng thế, ta ở trong vạn hữu cũng thế, cũng như hoa quả kia, có sinh, trụ, dị, diệt, một lớp vinh một lớp khô, vinh khô tiêu-trưởng, luân hồi triển chuyển, từ vô thỉ cho đến vô chung.
2. A lại da duyên khởi.
Nghiệp cảm duyên khởi luận là chủ trương của tiểu thừa Phật giáo. Trong nghiệïp cảm duyên khởi luận có sinh khởi gián đoạn, có sinh diệt vô thường. Như thế cho rằng ta như thần lâu hải thị, hốt nhiên tập khởi, rồi cũng như mộng, huyễn, bào, ảnh, tu du ly tán. Thời nghiệp dầu còn, mà lấy cái gì giữ gìn nghiệp quả, khiến cho nó triển chuyển trong thời gian dài dặc mà không dứt.
Cái nghiệp lực ấy quá trừu tượng, mà nó lại tập hiệp ngũ uẩn, ngũ uẩn ấy lại làm cho ta cảm sinh vạn hữu. Thuyết như thế, chẳng phải thường thức hiểu nổi được.
Đại thừa Phật giáo, bổ khuyết vào chỗ ấy, chủ trương A lại da duyên khởi.
Nguyên trong tiểu thừa Phật giáo chỉ nói có lục thức (sáu đường nhận thức) là: nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý. Nhãn nhập sắc, nhĩ nhập thanh, tỷ nhập hương, thiệt nhập vị, thân nhập xúc, ý nhập pháp. Đại thừa Phật giáo thêm vào đó hai thức nữa, là bát thức. Hai thức thêm vào là mạt na và A lại da. Mạt na (mâna) nghĩa là cầm bắt lấy chỗ thấy biết, tức có lẽ như trong tâm lý học gọi là aperception, hay conscience de soi même. A lại da (âlaya)1 nghĩa là bao tàng (gồm chứa), tức là gồm chứa lấy pháp.
Đại Thừa Khởi Tín Luận nói rằng A lại da thức là chỗ hòa hiệp mà không thành một cũng không khác nhau của sự bất sinh bất diệt. A lại da thức có hai nghĩa: một là nhiếp nhất thiết pháp, hai là sinh nhất thiết pháp. A lại da thức, cũng gọi là vô cấu thức (vô cấu, amala, là không bụi nhơ).
Thức thứ tám nầy không phải vô thường như ngũ uẩn, mà nó hằng khởi thường tại. Nó bao hàm hết thảy những chủng tử của chư pháp1. Như thế tức nó phát hiện được hết năng lực vô hạn của vạn tượng. Cho nên căn thân của ta vừa phát sinh là nó bao hàm khách-quan giới (tức là vạn vật). Khách-quan giới thiên sai vạn biệt là do trong chủ-quan giới có ý thức tác dụng mà ra. Nếu ta không có tri giác, thì vạn tượng cũng không có.
Xem đó thì vũ trụ duyên khởi luận của Phật giáo thật ra chỉ là nhận thức duyên khởi luận. Bỏ nhận thức không còn vũ trụ.
Nhưng mà nói thế không phải nói rằng vạn vật mà ta cảm giác được không có bản chất. Vạn vật ta cảm giác vẫn có thật tại, vẫn có khách-quan. Mà cái bản chất của thật tại ấy không ngoài những cái chủng tử của A lại da thức. Bảy cái thức kia phân biệt khách-quan hiện tượng mà tập thành chủng tử, để chứa vào A lại da thức.
Một khi chủng tử đã gieo vào A lại da thức rồi, nó sẽ triển chuyển vô cùng.
Bao những nỗi động tác của ta hữu tâm làm ra, bao những sự tác dụng của chủ quan đều là bóng vang của khách quan. Bóng vang ấy rồi lại dẫn khởi bao nhiêu thứ động tác khác, làm thành sinh tử luân hồi, chẳng bao giờ ngừng.
Ấy tức là ‘hữu lậu chủng tử’, cùng hai đế khổ tập trong tiểu thừa Phật giáo có chỗ đồng.
Đối với hữu lậu chủng tử, là ‘vô lậu chủng tử’. Chủng tử nầy đối với ngoại giới biết có hư vọng, cho nên không để cho tâm vọng động. Ấy là nguyên nhân của giải thoát luận, cùng với hai đế diệt đạo trong tiểu thừa Phật giáo có chỗ đồng.
Tóm lại, A lại da thức là cái căn bản của hiện tượng giới. Từ vô thỉ A lại da thức đã bao tàng chủng tử. Hiện tượng giới do chủng tử nầy mà phát hiện. Hiện tượng đã phát hiện thời lại kích thích, tự thức, khiến cho phát sinh duyên mới, dẫn đến chỗ tác dụng. Như thế, chủng tử cùng hiện tượïng nhân quả nhau mãi, mà làm cho hiển hiện vạn hữu.
3- Chân Như Duyên Khởi. Chân như duyên khởi luận là một thứ tuyệt đối duy tâm luận. Thuyết nầy cho rằng nhất thiết đều do tâm tạo. Toàn thể thế giới cũng lấy tâm làm tự thân.
Tâm đây là gì? Nó là toàn thể thế giới. Về phương diện động nó là cái cửa của sinh diệt. Về phương diện tịnh, nó là cái cửa của chân như 1. Chân như là bản thể của thế giới, thế giới nầy tuyệt đối, thế giới nầy bình đẳng. Sinh diệt là hiện tượng, là thế giới tương đối, là thế giới sai biệt.
Nhưng sao lại cùng một tâm mà có hai mặt đối nhau, gồm chánh và phản như thế? Ấy bởi dầu cái bản thể của tâm là thường trụ bất động, mà bên ngoài bị vô minh làm duyên, khiến cho nó vọng động, làm ra vạn biệt thiên sai.
Vô minh, ở trên đã nói qua, nơi thập-nhị nhân-duyên luận. Bởi tại vô minh nên đáng tịnh làm động, đáng bình đẳng lại làm sai biệt. Vô minh không phải là vật có thật: nó dựa nơi tâm thể mà có. Tâm thể là chân, lại sinh vô minh là vọng. Cho nên nói rằng ‘hốt nhiên niệm khởi gọi là vô minh’.
Vô minh sinh ra vọng niệm. Vọng niệm có chủ quan, có khách quan, có tự ngã, có phi ngã, nó phát triển vạn hữu. Nhưng vạn hữu không phải ngoài tâm mà tồn tại được.
Vậy chỉ tâm thể, gọi rằng chân như. Chân như nầy bị vô minh kích thích mà diêu động thời gọi là cửa sinh diệt, hoặc là A lại da thức. A lại da thức mở nguồn cho nhất thiết hiện tượng. Mà ấy cũng chẳng qua làbởi tâm thể chân như động diêu mà ra.
Chân như tuy bị vô minh kích thích mà diêu động, nhưng trong động có tịnh, tịnh lại không rời động. Chân như vẫn ở trong sinh diệt, mà nó cũng ở ngoài sinh diệt.
Động, hay là nó sinh diệt, tịnh hay không sinh diệt, chân như gồm hai. Động hay có sinh diệt tức là ăn với hai đế khổ tập của nguyên thỉ Phật giáo. Tịnh hay là không sinh diệt là ăn với hai đế diệt đạo.
Phương diện trước là nói về nguyên nhân phát triển của hiện tượng. Phương diện sau nói về nguyên nhân của giải thoát.
Tóm lại, thế giới ấy là tâm (học thuyết của Schopenhauer khác nào?).
Một cái tâm ấy hoặc nói rằng không, hoặc nói rằng có, hoặc nói rằng động, hoặc nói rằng hữu tướng, hoặc nói rằng vô tướng, đều là không nhằm cả. Tâm nầy không thể gọi tên là gì được. Chỉ nên khảo sát nó về hai phương diện động với tịnh mà thôi. Tâm thể là tịnh. Bày hiện tượng là động. Vạn tượng của thế giới đều do tâm thể hoạt động mà hiển hiện. Tâm thể cùng vạn tượng không lìa nhau, mà không cùng nhau là một. Hai cái ấy vốn quan hệ nhau như nước với sóng. Sóng không là nước, nước không là sóng. Hai vật nầy chẳng rời nhau, mà chẳng cùng nhau là một.
Nơi chương A lại da duyên khởi luận, ta thấy A lại da như con hát trên sân khấu chân như. Ở đây thì chân như tự thân làm con hát.
Trước bảo rằng có A lại da thức mới phát khởi hiện tượng. Đây thời tự thân chân như hoạt động mà hiện tượng phát khởi.
4- Pháp Giới Duyên Khởi. Chân như duyên khởi luận bảo rằng có vô minh là căn bản của hiện tượng.
Pháp giới duyên khởi luận cho rằng vũ trụ là một cuộc đại hoạt động của hiện tượng tự thân. Hoạt động từ vô thỉ đến vô chung, nối tiếp mãi như những đợït sóng. Nhân có hoạt động mới có sinh diệt chuyển biến. Nếu không hoạt động thời không chuyển biến, tức là không có vạn tượng, không có vũ trụ.
Pháp giới duyên khởi luận có lẽ sánh với triết học Âu châu giống với thuyết chủ trương rằng nguyên thỉ có hoạt động (au commencement c’était l’action)1.
Biết thuận theo cái lẽ hoạt động là thành. Kẻ phàm phu không rõ cái lẽ ấy, nên ghét sinh diệt, ép vật vô thường làm vật hữu thường.
5- Lục Đại Duyên Khởi. Lục đại (mahâbhutas, les six éléments) là: địa, thủy, hỏa, phong, không, thức. Ở đây lấy địa, thủy, hỏa, phong, tứ đại, mà thêm vào không (tức là không gian) và thức (tức là ý thức, tức là tâm).
Thân ta do tứ đại mà có, không, thức do tâm của ta mà có. Vũ trụ bản thể cũng không ngoài lục đại. Đại , là tiếng người Tàu dịch tắt chữ mahâbhuta trong tiếng Phạn: mahâ là đại (grand), bhuta là vật (être, créature).
Địa, thủy, hỏa, phong, tứ đại, là vật. Không, thức, tức là tâm. Thuyết lục đại duyên khởi hiển nhiên là thuyết vật tâm nhị nguyên luận.
Vật tâm nhị nguyên là tại tri giác của ta phân biệt ra như thế. Chớ bản thể của thật tại vẫn có một, vẫn tuyệt đối.
Vật là hình tướng, tâm có lực hoạt động. Lực không lìa được hình. Lìa hình thời lực chẳng tồn tại được. Còn hình nếu không nhờ lực thời không phát hiện được.
Bởi thế nên vậât và tâm là hai phương diện của bản thể. Vật, hay là hình tướng, chỉ về hiện tượng. Tâm, hay là lực hoạt động, chỉ về thật tại.
Theo thuyết nầy thật tại là hoạt động lực mà hoạt động lực là bản thể của tâm. Cuối cùng, thuyết lục đại duyên khởi có khuynh hướng về duy tâm luận.
Nhưng mà vật đối với tâm, như sóng đối với nước. Sóng nước không lìa nhau. Sóng tức cũng là nước. Vật tâm cũng không lìa nhau. Vật cũng là một phương diện của thật tại, như tâm là một phương diện của thật tại. Hai cái vật và tâm cũng là biểu hiệu thật tại, nên gọi chung là nhất như.
Tóm lại mà nói: ta đây là do lục đại kết hiệp mà có. Lục đại ly tán thời ta không còn. Còn, mất, chẳng qua là một cuộc đổi thay của lục đại mà thôi.
Lục đại kết hiệp lại cùng tán ly ra làm thành vũ trụ hoạt động. Lìa lục đại không có vũ trụ, tức là không có hoạt động. Chân như là cái tự thân (chose en soi) của lục đại, mà lý tánh của ta trừu tượng ra.
Ngoài sự vật mới tìm được chân như, ngoài hiện tượng mới tìm được thật thể. Nhưng lìa vật không có lý được, lìa hiện tượng không có thật thể được.
Thánh-phàm khác nhau, thiện-ác khác nhau ở nơi biết hay là không biết phân biệt chân như với hiện tượng.
Xem thế thời lục đại duyên khởi luận với pháp giới duyên khởi luận chẳng khác gì về nội dung, chỉ khác nhau ở nơi luận pháp mà thôi. Pháp giới duyên khởi luận lấy lý tánh mà suy diễn chân như. Lục đại duyên khởi luận do kinh nghiệm mà quy nạp chân như.
Kết Luận Về Duyên Khởi Luận. Nghiệp cảm duyên khởi, là ba cái nghiệp lực: thân, khẩu, ý, ngày ngày động tác mà làm ra nguyên nhân của hiện tượng. Nghiệp bởi mê hoặc mà có. Cho nên muốn giải thoát thời phải đừng mê hoặc tạo nghiệp.
A lại da duyên khởi bao tàng tất cả những chủng tử hữu lậu và vô lậu. Do hữu lậu chủng tử mà sinh khởi hiện tượng giới. Do cái lực của vô lậu chủng tử mà giác ngộ chân lý. Giác ngộ được thời là giải thoát được.
Chân như duyên khởi là do vô minh mà có. Bản thể của chân như diêu động sinh ra hiện tượng. Biết được phương diện tịnh của chân như mà theo để phá thật tướng thời được giải thoát.
Pháp giới duyên khởi với lục đại duyên khởi, hai thuyết ấy mường tượng như nhau, đều chỉ ra hai phương diện hiện tướng và thật thể của nhất như, và bảo rằng bởi bất tri bất giác nên cứ sinh diệt. Bất tri bất giác là cái nguyên nhân của hiện tượng. Tri giác được thời giải thoát được.
Bao nhiêu những thuyết ấy đều có một chỗ đồng nhau: thuyết nào cũng cho rằng mê vọng là cái nguyên nhân phát khởi hiện tượng, và muốn giải thoát thời phải trừ cho được mê vọng.