BUDDHA HOME

KINH & SÁCH

 

  PHẬT CHUYỂN PHÁP LUÂN

 

Ngộ đạo rồi, Phật Çâkya Muni đi qua thành Vârânasi, tức là thành Bénarès ngày nay, vào rừng Mrigavana (Lộc uyển) tìm năm người đệ tử của Rudraka, đã từng theo Phật, cùng nhau khổ hạnh tìm đạo trong mấy năm trời ở ven sông Nairanjana, và đã bất bình vì Phật "ngã mặn" mà bỏ sang đây.

Năm người đệ tử nầy xin Phật thuyết pháp cho. Thấy đệ tử có lòng thành như vậy, canh năm Phật gọi năm người mà dạy rằng: "Các ngươi nên lánh hai cái cực đoan: không nên hoang dâm, cũng không nên ép xác. Con đường giải thoát phải cách xa hai cái cực đoan ấy. Con đường giải thoát có tám ngả ( Mârga , Tàu gọi là bát chánh ): một là chánh kiến, hai là chánh tư duy, ba là chánh ngữ, bốn làø chánh nghiệp, năm là chánh mạng, sáu là chánh tinh tấn, bảy là chánh niệm, và tám là chánh định."

Sau khi đã chỉ đường bát chánh, Phật thuyết pháp lần đầu, hay là "chuyển pháp luân", nghĩa là quay cái bánh xe pháùp. Bánh xe pháùp ấy chữ Phạn gọi là dharmacakra , nó có ba vòng và mười hai đoạn.

Chuyển pháp luân lần thứ nhất nầy, ở nơi rừng Mrigavana, Phật thuyết minh "Tứ diệu đế" (âryasatyâni), nghĩa là bốn cái chân lý. Đế thứ nhất là "khổ". Đế thứ hai là "tập", nghĩa là nguồn gốc của nỗi khổ. Đế thứ ba là "diệt", nghĩa là làm cho tiêu diệt nỗi khổ. Đế thứ tư là "đạo", nghĩa là đường dẫn đến chỗ diệt khổ.

Khổ (duhkha) là gì? Là những nỗi khổ vì sinh, lão, bệnh, tử, khổ vì chia lìa với điều thích, khổ vì kết hiệp với điều không ưa. Điều ta ước vọng, điều ta tha thiết tìm tòi mà không đoạt được, ấy cũng là khổ. Tóm lại, cái mà ngũ quan ta cảm xúc là khổ, thế gian gọi nó là khổ.

Nguồn gốc của khổ là đâu? Ấy là "tập", tức là cái ước vọng không bao giờ nguôi (trisna) vẫn nối gót dục tình khoái lạc.

Diệt khổ (moksa) là làm thế nào cho nguồn gốc của khổ phải hoàn toàn tiêu tán.

Con đường nào dẫn đến chỗ diệt được khổ? Ấy là đạo, tức là con đường bát chánh (mârga), đã nói trên kia.

Lần đầu Phật chuyển pháp luân, thuyết tứ diệu đế (khổ, tập, diệt, đạo), đại khái như thế.

Trong thời kỳ hoạt động, sau khi ngộ đạo, Phật thường thuyết pháp trong hai cảnh vườn rộng là Jetavaha, ở thành Savâthi (nay là thành Sahet Mahet) và vườn Veluvana, ở thành Râjagriha (nay là thành Rajghir). Hai thành ấy cách nhau có sáu trăm cây số.

Dường như Phật ở vườn Jeta thường hơn, cho nên trong nhiều quyển kinh thường thấy mở đầu bằng câu: "Ta nghe như vầy: bấy giờ Phật ở tại Savâthi, trong vườn Cấp cô độc..."

Vườn Cấp cô độc là cái vườn cấp dưỡng kẻ cô độc của một nhà thương hào tên là Anathapindika mua của Thái tử Jeta để dâng cho Phật đến thuyết pháp.

Vào khoảng năm 480 trước Chúa Jésus giáng sinh, bấy giờ Phật già tám mươi tuổi, ngài lìa thành Rajagriha, đi lên phía bắc, vượt qua con sông Gange, gần lối thành Patna ngày nay, ở phía tây thành Bénarès. Năm ấy, đương ở Beluva, ngài nhuốm bệnh, ngài bèn sang thành Kusinârâ mà mất ở giữa hai cây cala.

(Bổn Thảo Cương Mục nói là cây bông vải: mộc miên), trong một đám rừng ở mé sông Hiranyavati.

Người nước Xiêm truyền rằng Phật diệt năm 543 trước chúa Jésus ra đời, và, cho nên, họ lấy năm ấy làm kỷ nguyên.

Ít tháng sau khi Phật nhập diệt, năm trăm đệ tử hội nhau lại tại thành Râjagriha, hiệp tụng qui luật của Phật đã thuyết pháp lúc còn tại thế. Các giáo đoàn ở các địa phương suy tôn những vị trưởng lão, mời lên ngồi ở thượng tọa (sthavira) tức là ngôi chủ tịch, như ta gọi theo danh từ mới.

Một trăm năm sau, nhân trí có tấn bộ, tập tục có đổi dời, lại các đệ tử gần Phật đã qua đời hết rồi, phép Phật truyền lại bởi thế mà sai lạc, mỗi giáo đoàn giải thích khác nhau. Cho đến đỗi, về giới luật cũng phân ra khoan và nghiêm, hai phái. Các vị trưởng lão muốn cởi sự dị nghị ấy, bèn triệu tập bảy trăm tăng lữ, hội tại thành Vesali để thảo luận dưới quyền chủ tịch của Yaca. Kết cuộc quyết nghị rằng: lấy khoan dung mà giải thích giới luật của Phật là trái Phật pháp. Song phần đông tăng lữ không chịu nghe theo như vậy, mới khai hội nghị riêng, chủ trương khoan đại. Từ đó, Phật giáo bị chia ra Thượng tọa và Đại chúng hai phái, tức là phái chánh thống (Orthodoxe) và phái không chánh thống (Hérétique). Phái sau tự do, phái trước bảo thủ vậy.

Thuở Çâkya Muni còn tại thế, ở Ấn độ những nước lớn nước nhỏ chia ra thực nhiều. Đến khi vua Ajâtacatru nước Magadha lên ngôi, người có tài hùng vĩ nắm được trung ương bá quyền, gồm thâu Savathi ở bắc, Magadha ở nam. Nhưng năm 327 trước Chúa Jésus ra đời Alexandre le Grand xâm nhập xứ Ấn độ. Tư tưởng Hy lạp từ đó truyền sang, đã làm cho xã hội Ấn-độ đổi thay, lại trong nước bạn loạn thừa thời nổi dậy, xã hội Ấn-độ trải qua một cơn đại biến.

Vào lối năm 315 trước Chúa Jésus ra đời, nhà Maurya thống nhất được toàn xứ Ấn-độ. Đến năm 260 trước Chúa Jésus ra đời có vua Açoka nhà Maurya, là người rất sùng đạo Phật làm cho Phật Giáo được hưng vượng lên lạ thường. Quan niệm yếm thế mới tiêu lần, mà lòng người khuynh hướng về hiện thực. Năm Açoka thứ XVIII, vua hội Thượng tọa trưởng lão hơn ngàn người, phí hết chín tháng trời để chỉnh lý ghi chép bảy bộ kinh điển. Từ đây Phật giáo mới có kinh điển thành văn, không còn lối hiệp tụng khẩu truyền như trước kia. Vua Açoka lại sai người đi truyền đạo các nơi. Phật giáo khi ấy được một thời long thạnh.

Vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất sau Chúa Jésus giáng sinh, có vua Kanishka cũng sùng tu Phật đạo. Vua sai trăm vị arhat (A la hán) triệu tập một hội nghị lớn.

Cuộc hội nghị nầy là chót, về sau trong sangha (tăng già) không còn có cuộc hội nghị nào nữa.