PHẬT GIÁO TRIẾT HỌC Phan Văn Hùm
PHẦN THỨ NHẤT
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO
NGUỒN TƯ-TƯỞNG Ở ẤN-ĐỘ TRƯỚC THỜI PHẬT GIÁO RA ĐỜI
Thời đại thái-cổ, bất luận ở xứ nào, xã-hội loài người cũng sùng-bái Thiên-nhiên. Ngoài cái tư-triều tôn-giáo ra, chưa từng có ý-thức gì về triết-học hoặc về luân-lý.
Còn ngu muội, không cắt nghĩa được những hiện-tượng quanh mình. Còn hèn-yếu, mà không chước gì chống lại được sức thiên-nhiên lăm-le hại mình. Như thế đối với bầu trời man-mác, hãi-hùng lo-sợ, người ta chỉ biết có một điều là kiền thành kỉnh lễ, sùng-bái nhất thiết những lực gì có thể hại mình hoặc có thể giúp mình. Hại mà sợ, giúp mà ơn, đều là được phụng-thờ.
Điều ghê sợ nhất của người thời thái-cổ là những đêm tối tăm. Bởi phần thời lạnh-lùng, phần thời không thấy đường để tránh ác thú. Cho nên được có ánh sáng, là lấy làm hạnh phúc. Nhật, nguyệt, tinh, thần, chiếu-diệu ở không trung, bởi đó mà được thờ, được coi là thần-linh.
Thờ như thế, rõ-ràng là bởi cái lòng muốn trừ tai, cầu phúc, để giữ-gìn lấy sự sống còn.
Lòng muốn ấy lần lần hiện ra bề ngoài bằng những nghi-thức cúng-tế, van-vái, ca-tụng.
Nghi-thức đã sinh, thời lại sinh có những hạng người chăm nom, gìn-giữ nó. Hạng người ấy bao giờ cũng được dân-gian kính-trọng. Ấy là hạng tăng lữ.
Ở Ấn-độ, thời thái-cổ, hạng tăng lữ nầy gọi là phái Brahman.
Trước còn sùng-bái ánh sáng thiên-nhiên, lần lần về sau, gió, mưa, nước, lửa, đều cũng được coi là thần-linh. Đó là từ độc thần-giáo (monothéisme) đã bước qua thời-kỳ đa-thần-giáo (polythéisme).
Bước một bước nữa, thì nhất thiết vật gì cũng được coi là có thần-cách. Ấy là thời kỳ phiếm-thần-giáo (panthéisme).
Về sau, tư-tưởng phát-đạt, mới nẩy ra một cái nghi-vấn. Người ta tự hỏi: căn-bản của vũ-trụ là đâu?
Trả lời câu hỏi nầy, ở Ấn-độ thời thái-cổ, có phái Veda bảo rằng: Brahma (Phạn-thiên) là căn-bản của vũ-trụ. Nhất thiết sự vật đều là hình thành của brahma. Vạn hữu đều ở brahma mà sinh ra. Lúc trụ thì ở brahma. Lúc diệt trở về brahma.
Brahma như thế. Nó vô thỉ vô chung.
Con người cũng là một hình-thái của brahma. Sống đây là sống gởi. Chết sẽ trở về brahma đời đời khoái-lạc.
Chật vật với sự sống khổ, người ta đều hy-vọng cái khoái - lạc đời đời ấy. Mầm yếm-thế ở đó. Kiếp sống nầy không ra gì. Thôi thời mong để một khi chết yên vui ở kiếp sau. Mới sinh ra tư-tưởng luân-lý, khắc-kỷ, cấm dục, để tự giải-thoát.
Tóm lại mà xem: đầu tiên, người ta lấy khách-quan nhận ra thần cách, sau rồi, kết cuộc, người ta cũng tự cho mình là một hình thái của brahma, tức là cũng tự cho mình có thần cách. Bởi tự cho mình có thần cách cho nên mong được trong sạch để trở về brahma, mà ra có tư tưởng khắc kỷ, cấm dục, để cầu giải thoát.
Từ đây, mới từ thần-giáo bước sang luân-lý, triết-học.