BUDDHA HOME

KINH & SÁCH

 

 

 

NHƯ VUA RẮN NHÌN NGÓ QUAN SÁT

CÁC ĐẠI TỲ KHEO VÀ CÁC ĐẠI BỒ TÁT

GIẢNG KINH GIỚI LUẬT QUYẾT ĐỊNH

VÀ SÁM HỐI NGHIỆP CHƯỚNG

 

 

PHẠM CÔNG THIỆN

 

 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Đại Bảo Tích là một bộ kinh lớn của Đại thừa chứa đựng nhiều pháp hội như kho tàng bảo vật vô giá mà trong đó đức Phật đã giảng dạy về nhiều pháp môn tu tập thích ứng với những căn tánh sai biệt của chúng sinh hầu dẫn dắt chúng hội thành tựu mục tiêu cứu cánh giác ngộ thành Phật. Pháp môn tuy nhiều, nhưng tựu trung không ngoài tam vô lậu học: giới - định - tuệ. Giới để thúc liễm thân khẩu ý, kiềm chế việc tác nghiệp; Định để lắng đọng vọng thức, tịnh hóa thân tâm; Tuệ để thắp sáng chân tánh, liễu ngộ bổn thể diệu minh chân thường.

Như Vua Rắn Nhìn Ngó Quan Sát Các Đại Tỳ Kheo và Các Đại Bồ Tát là bản giảng giải về một số pháp hội trong kinh Đại Bảo Tích mà Triết gia Phạm Công Thiện đã dùng để làm tài liệu giảng dạy cho khóa học tốt nghiệp các tín chỉ Phật học của Viện Triết Lý Việt Nam Và Triết Học Thế Giới tổ chức trong mùa hạ năm 2001 tại California, Hoa Kỳ. Trong tài liệu này, Triết gia Phạm Công Thiện, đã đối chiếu nhiều bản dịch và sớ giải về kinh Đại Bảo Tích từ nhiều ngôn ngữ khác, đặc biệt là các bản tiếng Phạn, Tây Tạng và Trung Hoa, để dịch và diễn giảng một cách tường tận từ ý nghĩa thâm áo của ngôn ngữ đến diệu nghĩa vi mật của liễu nghĩa kinh. Chính vì thế, đây là bản dịch và giảng chuẩn xác và tinh túy nhất của kinh Đại Bảo Tích từ trước đến nay trong tiếng Việt. Đặc biệt trong tài liệu này còn có bản dịch từ nguyên gốc kinh Sám Hối Nghiệp Chướng mà trong truyền thống Phật giáo Việt Nam gọi là kinh Hồng Danh Bửu Sám thường được trì tụng vào mỗi ngày tại các Thiền môn.

Vì nhận thấy đây là một tài liệu vô cùng quý giá, cho nên Viện đã xin phép Triết gia Phạm Công Thiện cho ấn hành để mong giúp ích cho những ai có tâm nguyện tu học Phật Pháp. Trong niềm tri ân sâu xa công đức pháp thí của Triết gia Phạm Công Thiện cho Phật giáo nước nhà, Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới trân trọng kính giới thiệu tác phẩm "Như Vua Rắn Nhìn Ngó Quan Sát Các Đại Tỳ Kheo và Các Đại Bồ Tát" của Triết gia Phạm Công Thiện đến quý độc giả.

Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới

Mùa an cư kiết hạ năm 2001

 

 ª

 

NHƯ VUA RẮN NHÌN NGÓ QUAN SÁT

CÁC ĐẠI TỲ KHEO VÀ CÁC ĐẠI BỒ TÁT

 

   

 

1. NGHE

Có nhiều cách nghe, và tất cả cách nghe đều nghe tiếng động, nghe âm thanh, nghe tiếng nói. Xuyên qua tiếng động, âm thanh, tiếng nói thì vẫn còn âm thanh, vẫn còn tiếng động và tiếng nói; đồng lúc với tiếng nói, âm thanh và tiếng động mà nghe được sự im lặng, đó là điều khó thực hiện và đáng thực hiện nhất.

Như Thị Ngã Văn: tôi nghe như vậy, tôi nghe như thế, như vậy tôi nghe, như thế tôi nghe; nghe ở đây là nghe sự im lặng của toàn thể nhân loại, sự im lặng của toàn thể văn tự ngôn thuyết, sự im lặng của tâm thức và sự lặng lẽ của việc bất liễu nghĩa. Nghe Phật Pháp, chứ chẳng phải nghe người; nghe nghĩa, chẳng nghe ngôn ngữ, ngôn thuyết; nghe Trí Huệ, chứ chẳng phải nghe cái thức của mình; và nghe kinh liễu nghĩa, chớ không phải kinh bất liễu nghĩa (Pháp Tứ Y: y pháp, bất y nhân; y nghĩa, bất y ngữ; y trí, bất y thức; y liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh).

Tôi nghe như vậy: như thế được tôi nghe, cái "tôi" ở đây là tịnh ngã hay ngã tịnh, như thế không còn là cái "tôi" của người, của ngôn ngữ, của thức và của sự bất liễu nghĩa chân lý. Cái nghe cũng chẳng còn năng văn và sở văn; chỉ còn lại Như Thị (Như Thế, Như Vậy) không trụ vào người, không nương tựa vào người (bất y nhân), không nương vào ngôn ngữ và ngôn thuyết (bất y ngữ), không nương vào thức (bất y thức) và không nương vào kinh bất liễu nghĩa (bất y bất liễu nghĩa kinh). Như vậy, Như thế chính là thực pháp, thực nghĩa, thực trí và thực liễu nghĩa vậy.

Có bốn nguyên lý để đạt đến Chân lý; theo trật tự thông đạt truyền thống:

     

  1. Y nghĩa, bất y ngữ (nương tựa vào nghĩa, chứ không nương tựa vào ngôn ngữ và ngôn thuyết: artha-pratisaranena bhavitavyam na vyanjana-pratisaranena);

  2. Y Pháp, bất y nhân (nương tựa vào Phật Pháp, chẳng nương tựa vào người, vào cá nhân, vào nhân vị, nhân thể, nhân tính: Dharma-prati-saranena bhavitavyam na pudgala-pratisaranena);

  3. Y trí, bất y thức (nương tựa vào trí, chẳng tựa vào thức: jnana-pratisaranena bhavitavyam na vijnana-pratisaranena);

  4. Y liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh (nương tựa vào kinh điển có tính cách liễu nghĩa, chớ chẳng nương vào các kinh điển chỉ có tính cách chưa được thông đạt trọn vẹn, chưa có tính cách quyết định toàn diện: nitartha-sutra pratisaranena bhavitavyam na neyartha-sutra pratisaranena).

 

Nghĩa, Pháp Trí thì phải có tính cách liễu nghĩa ; còn việc bất liễu nghĩa vẫn là bản chất của ngôn ngữ, của nhân giả và của ý thức (của tất cả dạng thái thô tế của tâm, của ý và của thức).

Nghe được sự im lặng thanh tịnh trong tất cả ngôn ngữ và ngôn thuyết là liễu nghĩa ; chỉ nghe được lời, tiếng nói và âm thanh thôi, rồi đeo dính vào lời, tiếng và thanh là bị xâm chiếm và thống trị bởi thanh và hưởng, bị xâm chiếm và thống trị bởi ngũ dục (sắc, thanh, hương, vị, xúc). Chúng ta không thể hiểu rõ (bất liễu) bất cứ ý nghĩa của bất cứ sự việc gì, hay chúng ta không thể nghe được sự thực như thế , vì chúng ta vẫn trọn đời bị xâm chiếm và bị thống trị bởi "ngã tính", cái tính của cái "tôi", gọi là ahamkara.

 

 

 

2. MỘT THỜI

 

Như Thị Ngã Văn Nhất Thời: như thế tôi nghe một thời. Có thể dịch "Nhất Thời" là: một thời, một lúc, một thuở, một thủa; dịch "một thời" là chính xác nhất, vì chữ Sanskrit và Pali samaya, samayo có nghĩa là thời gian.

Vấn đề của mấy học giả Tây phương là xác định hai chữ "nhất thời" (Sanskrit: ekesmin samaye; Pali: ekam samayam) là thuộc về ba chữ đằng trước (evam maya srutam / evam me sutam) hay thuộc về mấy chữ đằng sau (chẳng hạn: "Phật trụ Vương Xá Thành..."; "Phật tại Xá Vệ Quốc..." Sanskrit: bhagavan sravastyam viharati sma; Pali: bhagava savatthiyam viharati); một số thì cho rằng "nhất thời" thuộc đằng trước, một số khác thì cho rằng thuộc đằng sau.

Đây là trường hợp "y ngữ", cái bệnh của tất cả những nhà Phật học Tây phương. Nếu y nghĩa thì "nhất thời" vừa thuộc về trước vừa thuộc về sau, còn nếu y pháp, y trí y liễu nghĩa kinh thì "nhất thời" có nghĩa là "một thời", và một thời ở đây một thời phi thời gian; "một thời" không thuộc về quá khứ, không hiện tại và không vị lai.

Ngày xưa, ngày xửa, ngày xưa, một thuở kia, một thủa nọ là những chữ mở đầu những truyện cổ tích, những chuyện trẻ con, những truyện thần tiên, những chuyện hoang đường, những "huyền thoại", những thần thoại, vân vân.

Nhất Thời, Một Thời của tất cả kinh điển Phật Giáo không phải thuộc về thoại , cũng chẳng thuộc về Phật thoại , vì tất cả kinh điển Phật giáo đều chuyển hóa thoại thành ra phi thoại, vô thoại bất thoại; nhất tướng vô tướng , nhất hành vô hành , nhất thoại vô thoại , nhất tự vô tự , nhất ngôn vô ngôn , và nhất thời vô thời.

Một Thời ở đây là tất cả thời; nhất thời nhất thiết thời , và tất cả thời là không thời.

"Tôi nghe như vầy một thời Đức Thế Tôn ở tại nước Xá Vệ..." (Như thị ngã văn nhất thời Phật tại Xá Vệ Quốc... Evam maya scrutam ekasmin samaye bhagavan sravastyam viharati sma... / evam me sutam ekam samayan bhagava savatthiyam viharati...)

Đây không phải là kể truyện; Đức Phật không phải chỉ là một nhân vật thuộc Lịch Sử mà lại là bất sinh bất diệt. Mỗi khi chúng ta xem Phật như là một vĩ nhân của lịch sử nhân loại thì chúng ta bị dính kẹt vào việc "bất liễu nghĩa", còn liễu nghĩa có nghĩa rằng Đức Phật không còn phải được xác định trong thời gian, không gian và tác động của thế gian.

"Như thị ngã văn nhất thời Phật tại...", "Như thế được tôi nghe một thời Phật ở tại..." (Evam maya scrutam ekasmin samaye bhagavan... viharati sma / evam me sutam ekam samayam bhagava... viharati...) phải được chúng ta tôn kính thờ lạy như tất cả đại thần chú của Chư Phật, vì ở đây không còn là ngôn ngữ hay ngôn thuyết thông thường, ở đây không còn là lãnh vực của tâm thức hay của ý thức (bất y thức) mà là Pháp Giới Bất Tư Nghị của Đại Trí Huệ vô ngôn thuyết được Đại Bi Tâm của tất cả đấng Như Lai khai mở cho chúng ta hiện nay.

 

 

 

3. THẾ TÔN

 

"Như thế được tôi nghe một thời đức Thế Tôn ở tại vườn Anàthapindala (Cấp Cô Độc) nơi rừng cây Jeta (Kỳ Thọ) gần thành Sravasti (Xá Vệ) cùng một ngàn hai trăm năm chục đại Tỳ Kheo và năm trăm ngàn Đại Bồ Tát (Bodhisattva-Mahasattva) theo đến đó câu hội".

Jetavana vihàra (Kì Hoàn Tịnh Xá, Kỳ Viên Tịnh Xá) cũng là tên gọi gọn lại Kì Đà Lâm Tu Đạt Tinh Xá; Kỳ thọ, Kỳ thụ, Kỳ Đà Lâm, Kỳ Hoàn Lâm, Kỳ Đà, Kỳ Đa bàn na, Thệ Đa Bàn Na, Thắng Lâm, Kỳ Hoàn Phạn Na, vân vân, đều là diễn dịch Jetavana , rừng cây của Thái Tử Jeta (Kì Đà hay Thệ Đa hay Thắng, con vua Ba Tư Nặc nước Xá Vệ); trưởng giả Cấp Cô Độc (Anàthapindada) còn có tên là Tu Đạt (Sudatta) hay Chuẩn Bần Vô Y hay Ana bân đàn hay Chẩn Tế bần pháp hoặc Cấp chư cô lão, vân vân. Chữ Phạn Sudatta (Tu Đạt) có nghĩa: kẻ cho thức ăn uống cho những người nghèo đói.

Sravasti (Xá Vệ) còn được dịch là Văn Giả, Kiến Đạo, Phong Đức, Văn Vật, Thất la phạt để, Thất la phiệt; Xá Vệ là tên thành (Xá Vệ Thành) mà cũng dùng để gọi tên nước (Xá Vệ Quốc).

Theo Dharmagupta-vinaya (Đàm Vô Đức Tì Ni) thì số 1250 chúng đại Tỳ Kheo gồm có 500 đệ tử của ngài Uruvilva-Kàsyapa (Ưu lâu Tần loa ca diếp), 300 đệ tử của ngài Gayà Kàsyapa (Già da ca diếp), 200 đệ tử của ngài Nadi-Kàsyapa (Na đề ca diếp), 150 đệ tử của ngài Sàriputra (Xá lợi phất) và 100 đệ tử của ngài Maudgalyàyana (Mục kiền liên).

Năm trăm ngàn Đại Bồ Tát: Năm trăm ngàn ở đây có tính cách hữu lượng, nhưng thực ra là vô lượng, vì mỗi một vị Đại Bồ Tát thực hiện ít nhất mười thập nguyện vương từ vô lượng kiếp. Năm trăm ngàn Đại Bồ Tát là năm trăm ngàn đại thệ nguyện, đại hạnh và đại phương tiện. Đại Bồ Tát thường được sử dụng để gọi tắt Bồ Đề Tát Đóa Ma Ha Tát Đóa, tức là cách phiên âm của người Tàu đối với hai chữ Phạn là: Bodhisattva-Màhasattva mà họ dịch nghĩa là: Đại chúng sinh hoặc Đạo chúng sinh hay Đại hữu tình. Chúng ta có thể dịch lại mấy chữ Phạn Bodhisattva-Màhasattva Thực Thể Giác Ngộ-Đại Thực Thể . Trong năm trăm ngàn vị Đại Bồ Tát có mặt ở đây gồm có nhiều bậc Đại Bồ Tát rất quen thuộc với chúng ta như Di Lặc Bồ Tát, Vô Tận Ý Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Đắc Đại Thế Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Kim Cương Bồ Tát và Trì Thế Bồ Tát, vân vân.

Hiện tại, dầu chúng ta đang ở bất cứ nơi nào khắp thế giới, trong nhà hay ngoài trời, đi đứng ngồi nằm, chúng ta đều có thể tập nhìn vào hư không trước mắt hay nhìn vào trong hư không nội tại và thấy rõ ràng rằng mình đang cùng tham dự một cách rất cụ thể, rất sung sướng, với một ngàn hai trăm năm chục vị đại tỳ kheo và năm trăm ngàn bậc Đại Bồ Tát: nhìn thấy bằng Trí Huệ rằng mình đang ở tại thành Xá Vệ, tại vườn Cấp Cô Độc, nơi rừng cây Kỳ Thọ, nhìn thấy bằng Trí Huệ rằng mình đang nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp: "Như thế tôi được nghe một thời Đức Thế Tôn ở tại vườn..."

"Một thời" nơi đây là tất cả thời, bao nhiêu vô lượng tỷ kiếp, lúc nào tôi cũng đang nghe Đức Phật thuyết pháp ở tại vườn Cấp Cô Độc..."

Nếu nương tựa vào trí thì có thể nhìn thấy tất cả mọi sự bất cứ lúc nào. Còn mỗi khi tu hành, ngồi thiền, quán tưởng mà nương tựa vào thức thì chẳng tu hành gì cả và chẳng thấy gì cả ( y trí, bất y thức ).

  

 

 

4. NHƯ LONG TƯỢNG VƯƠNG

 

"Đức Thế Tôn nhìn ngó chư Đại Tỳ Kheo và chư Đại Bồ Tát và xem xét quan sát toàn bộ đại chúng, như vị vua chúa của loài rồng hay của loài voi."

Vua chúa của loài rồng và loài voi, tức là Long Tượng Vương của chữ Tàu hay nàgaràjà của chữ Pali hay của chữ Sanskrit (cũng là nàgaràja như Pali).

Có một điều đáng nhận xét, chữ Sanskrit gọi "con rắn" là nàgá; chữ Pali cũng gọi "rắn" là nàga. Chữ Sanskrit và chữ Pali đều cùng gọi "con voi" là nàga. Người Ấn Độ không có rồng, và người Tàu thì sợ rắn và không ưa rắn, cho nên họ đổi "rắn" thành "rồng": họ phiên âm chữ nàga thành na già, và ngôn ngữ đời Tần gọi na già long (rồng), vì nàga vừa có nghĩa là rắn vừa có nghĩa là voi, cho nên người Tàu dịch luôn là "long tượng" (rồng voi).

Trong truyền thống đạo lý Ấn Độ, rắn nói lên Trí Huệ và Minh Triết; riêng trong truyền thống Phật Giáo Ấn Độ, rắn hay nàga còn được sử dụng một cách tôn kính để nói gọi: đạo sư, hiền nhân, thánh nhân, đạo nhân; còn voi, cũng gọi là nàga, nói lên sự kiên nhẫn phi thường và sức mạnh lớn lao. Chữ duy nhất nàga của ngôn ngữ linh thiêng Sanskrit và Pali đều rất nhiều ý nghĩa bí mật, ngoài việc đồng chỉ voi và rắn đồng lúc, nàga còn nói lên người, thú, vật hay bất cứ việc gì vượt cao hơn tất cả đồng loại, tối thượng, thù thắng, siêu việt: chữ nàga cũng được dùng để chỉ chư Phật, nhất là chữ nàgaràja (vua của rắn, vua của rắn-voi) mà Tàu chuyển dịch là Vua của rồng voi (Long Tượng Vương), nghĩa là Vua của Trí Huệ, của Thánh Triết, của Đại Thế Lực và của Đại Nhẫn Nhục Tinh Tiến. Hồi nhỏ, chúng ta thường nghe câu chuyện người mù sờ voi, trong kinh Phật thì voi ở đây là Phật Tính, còn những người mù là tất cả chúng ta, đầy vô minh, cho nên mỗi người đều hiểu Phật Tính một cách phiến diện, sai trật, khác nhau. Đó là y ngữ, bất y nghĩa; y nhân, bất y pháp; y thức, bất y trí; y bất liễu nghĩa kinh, bất y liễu nghĩa kinh. Muốn hết mù mắt và nhìn thấy được toàn diện thì nhất định phải cần lặp lại rằng y nghĩa, y pháp, y trí y liễu nghĩa kinh . Tuy nhiên, muốn hiểu nghĩa pháp tứ y một cách linh động, một cách dứt khoát liễu nghĩa hoàn toàn thì phải tu tập nhìn thấy quan sát qua ba giai đoạn vững chãi:

     

  1. Giai đoạn đầu: nương dựa vào ngôn ngữ, văn tự, ngôn thuyết, học kỹ càng từng chữ một, nghe kỹ lưỡng từng tiếng một, nói kỹ cân nhắc từng lời một (đây là y ngữ ); nương dựa vào chúng sinh, vào thiện tri thức, vào đạo sư, vào sư phụ, vào thánh nhân, đại nhân (đây là y nhân ); nương tựa vào sự tác ý như lý, nương tựa vào thiện tâm thức, nương tựa vào sự chuyển hóa của chính ý thức (đây là y thức ), và sau cùng nương tựa dè dặt, cẩn thận một cách đầy sự kính trọng đối với tất cả kinh điển bất liễu nghĩa, vì tất cả kinh điển bất liễu nghĩa đều có khả năng giúp đỡ những người mới bước vào Phật Đạo (đây là y bất liễu nghĩa kinh ).

  2. Giai đoạn thứ hai: y nghĩa, bất y ngữ; y pháp, bất y nhân; y trí, bất y thức; y liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh. Đây là giai đoạn tu tập Bồ Tát Đạo, hành một cách vô sở hành tất cả Ba La Mật từ Bố Thí Ba La Mật đến Trí Ba La Mật.

  3. Giai đoạn cuối cùng: nương tựa vào cái không có nương tựa, đặt căn bản vào cái không có căn bản, một cách bí mật thậm thâm; không có nương tựa vào bất cứ cái gì cả, không còn phân biệt: ngữ là nghĩa, nhân là pháp, thức là trí, bất liễu nghĩa là liễu nghĩa, Tiểu Thừa là Đại Thừa. Tóm lại: bất y ngữ, bất y nghĩa; bất y nhân, bất y pháp; bất y thức, bất y trí; bất y bất liễu nghĩa kinh, bất y liễu nghĩa kinh.

 

 

5. Ở ĐỜI MẠT THẾ VẪN CÓ KHẢ NĂNG HỘ TRÌ PHẬT PHÁP

 

"Rồi Đức Thế Tôn mới hỏi các chư Đại Bồ Tát: Này các thiện nam tử, trong các người, ai có khả năng che chở, bảo vệ, duy trì, giữ gìn Chính Pháp trong thời Mạt Thế? Đạo Pháp ấy đã được Như Lai tích lũy từ vô lượng trăm nghìn triệu tỷ vô số kiếp, trong các người, ai có khả năng nhiếp thụ Đạo Pháp ấy khả dĩ dẫn đến sự Giác Ngộ Vô Thượng Bồ Đề và có thể trú ngụ một cách thoải mái an lành trong Giáo Pháp Bí Mật để thành thục chúng sinh bằng các phương tiện khéo léo?"

Nói đến thời Mạt Thế là để phân biệt niên hạn tam thời: Chính Pháp, Tượng Pháp và Mạt Pháp. Thông thường, Chính Pháp được nhận là kéo dài năm trăm năm, Tượng Pháp được một ngàn năm, và Mạt Pháp thì tới mười ngàn năm. Có nơi cho Chính Pháp kéo dài được một ngàn năm, có chỗ cho rằng Tượng Pháp kéo dài năm trăm năm, nhưng tất cả đều đồng ý cho rằng Mạt Pháp kéo dài mười ngàn năm.

Theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng, Phật Pháp có thể kéo dài năm ngàn năm, tức là Giáo Lý của chính Đức Thế Tôn giảng dạy, được trải qua mười giai đoạn, mỗi giai đoạn kéo dài năm trăm năm. Ba giai đoạn đầu, tức là một ngàn năm trăm năm, là giai đoạn của chư A La Hán. Ba giai đoạn kế tiếp, cũng một ngàn năm trăm năm, là giai đoạn của tam học (giới học, định học và tuệ học) và tam vô lậu học (giới là nhiếp tâm, từ giới sinh định, từ định phát tuệ), thời kỳ này tam học và tam vô lậu học được tu tập thể hiện một cách tốt đẹp. Ba giai đoạn tiếp theo sau đó, cũng kéo dài một ngàn năm trăm năm, chỉ có Tam Tạng kinh điển (Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng A Tỳ Đạt Ma) là còn lưu truyền, nhưng đến giai đoạn thứ mười chỉ còn hình thức bên ngoài của Giáo Pháp. Cũng có những luận mật cho rằng Chính Pháp có thể tồn tại ở thế giới loài người trong 1000 năm, 2000 năm, 2500 năm và 3000 năm, nhưng ở cõi trời cao nhất của chư thiên thì Phật Pháp vẫn tồn tại cho đến khi đại kiếp hủy diệt.

Niên hạn tam thời có khác biệt chi tiết, nhưng có một điều dứt khoát là tất cả truyền thống Phật Giáo Việt Nam, Tàu, Nhật, Đại Hàn, Ấn Độ và Tây Tạng đều nhận rằng hiện tại chúng ta đang sống thời Mạt Pháp, chữ Phạn gọi là Kàliyuga. Thời Mạt Pháp hiển hiện một cách rõ ràng ở năm bình diện: giới hạn của đời sống con người thu ngắn lại, thời gian càng lúc càng xấu tệ, phiền não càng lúc càng tăng trưởng đến mức vỡ tim hay vỡ óc, những tỳ kheo và những ni cô càng ngày càng bỏ bê tu hành và chỉ còn danh tự tỳ kheo hay danh tự tỳ kheo ni. Thời Mạt Pháp (Kàliyuga) chính là thời ngũ trược (panca-kasàya) phát triển mạnh nhất:

     

  1. Mệnh trược (Phạn: à ynh-kasàya ; Tây Tạng gọi là tshe'i-snyigs-ma );

  2.  

  3. Kiến trược (Phạn: drsti-kasàya ; Tây Tạng: lta-ba'i-snyigs-ma );

  4.  

  5. Phiền não trược (Phạn: kle'sa-kasàya ; Tây Tạng : nyon-mongs-pa'i-snyigs ma );

  6.  

  7. Chúng sinh trược (Phạn: sattva - kasàya ; Tây Tạng: sems-can-gyi-snyigs-ma );

  8.  

  9. Kiếp trược (Phạn: kalpa-kasàya ; Tây Tạng: dus-kyi-snyigs-ma ).

 

Có thể giảng nghĩa "ngũ trược" (hay "ngũ trọc": năm thứ ô trọc) một cách ngắn gọn như sau: mệnh trược là khoảng đời sống con người, tuổi thọ bị giảm sút nhanh chóng; kiến trược là tất cả thái độ, ý thức hệ, lập trường, chủ nghĩa, chủ thuyết, học thuyết, triết lý, triết học, văn hóa, học thuật, quan điểm, nhân sinh quan, vũ trụ quan, hệ thống tư tưởng đều đồi trụy, sa lầy; phiền não trược là tất cả cảm thức, cảm giác, cảm tình, cảm thụ tính đều bại hoại, điên loạn, bất thường, khổ, sầu, bi, ưu; chúng sinh trược là tất cả sinh thể đều bại hoại; kiếp trược là bao nhiêu thời đại đều hư đốn, suy liệt.

 

  

 

 

6. VÔ SỐ KIẾP

 

Bây giờ chúng ta hãy ngó sơ qua chữ Kiếp (Phạn: Kalpa ).

Có chỗ cho rằng một Kiếp (Kalpa) gồm có 1.344.000 năm, có chỗ khác cho rằng mỗi một kiếp gồm có 1.280.000.000 năm.

Trong Kinh Lalitavistara (tương ứng với Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh Phổ Diệu Kinh ), Đức Thế Tôn được chư thiên tán tụng rằng "Cả hàng chục triệu triệu kiếp, Ngài đã tu hành bố thí, trì giới và tự điều phục, cho đến lúc được Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, cho nên Ngài chiếu ngời rực sáng khắp nơi". Theo Kinh Mahàvastu (cf. H. Dayal, The Bodhisattva Doctrine, trang 76 - 77), chư thiên nói với Mục Kiền Liên (Maudgalyàyana) rằng Đức Thế Tôn đạt được Vô Thượng Bồ Đề sau một trăm ngàn kiếp, nhưng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho rằng chư thiên đã sai lầm, và Thế Tôn đã xác nhận rằng Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác chỉ có thể đạt được qua vô lượng vô số kiếp (aprameyehi asankhyeyehi kalpehi).

Chúng ta hãy coi lại những số đếm rất quen thuộc thường thấy trong kinh điển Phật Giáo, như câu chi (Koti), na do tha (nayuta), kiếp (Kalpa), và vô số hay a tăng kỳ (asankhyeya, phiên âm theo điệu H. Dayal).

Một câu chi (koti) gồm có mười triệu (theo H. Dayal); một na-do-tha (nayuta) thì gồm có một trăm nghìn triệu (theo S. Hardy, W. Kirfel và H. Dayal). Một trăm câu chi làm thành một a do đa hay a dũ đa (ayuta), và một trăm ayuta (a do đa) làm thành một na do tha (nayuta) (chú ý: theo Mochizuki, một koti gồm có 100 triệu).

Một na do tha (nayuta) gồm có một trăm nghìn triệu.

Một cái gọi là a tăng kỳ hay vô số (asankhyeya) thì có nhiều sự ước lượng khác nhau, từ số 1 và theo sau là 17 con số không (100.000.000.000.000.000) hoặc số 1 theo sau là 140 số không. L. de la Vallée Poussin cho rằng một a tăng kỳ (hay vô số hay vô ương số ), tức là một asankhyeya gồm có 1 và theo sau số 1 đó là 206 số không (tính theo Hoa Nghiêm Kinh, Avatamsaka-sùtra ), nhưng theo truyền thống Câu Xá (A tỳ đạt ma Câu xá luận - Abhidharma-Kosa ) thì gồm có số 1 và theo sau đó là 51 số không.

Thông thường mỗi khi nói đến sở hành của một Bồ Tát, chúng ta thường được nghe nói rằng Bồ Tát phải tu hành trải qua ba vô số kiếp mới thành Phật. Chúng ta ngạc nhiên: tại sao vô số lại còn ba ? Nhưng chúng ta phải hiểu một cái gọi là vô số (a tăng kỳ = asankhyeya) trong truyền thống số học Phật Giáo thì gồm có 1 và theo sau là 51 số không; theo sự ước lượng của H. Dayal (op. cit., tr. 78 - 79), ba vô số kiếp gồm có ba nghìn tỉ tỉ tỉ tỉ kiếp (một tỉ coi như một triệu triệu).

Theo một học giả Nhật Bản, một vô số kiếp (asamkhya kalpa) là số 1 theo sau đó là 59 số không (do đó 3 vô số kiếp là 3 x 10 như cách tính của H. Dayal) (cf. Akira Sadakata, Buddhist Cosmology , tr. 97).

Tất cả những gì được trình bày ở trên là " y ngữ, bất y nghĩa ", là "y bất liễu nghĩa", chớ không phải "y liễu nghĩa". Những học giả rất thích tranh luận chữ nghĩa với nhau đến độ bất tận, bệnh nặng "hý luận", nặng chữ, nặng số, mất nghĩa và lộn số.

Điều đáng y nghĩa nhất là mỗi lần tụng kinh gặp vô số, vô lượng, a tăng kỳ (nhất là phẩm A Tăng Kỳ trong Hoa Nghiêm Kinh : "a tăng kỳ, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả số, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, bất khả thuyết, bất khả thuyết" thì chúng ta nên nhớ rằng chúng ta đang được đưa vào cảnh giới bất khả tư nghị mà khả năng trí óc của loài người phải bùng vỡ và tất cả sự vận hành của tâm thức và ý thức con người đã bị hủy diệt: số đếm trở nên vô nghĩa, chỉ còn cái không bất tận, vô sở tri, vô sở chứng. Bây giờ, chúng ta mới thấy được cái thời gian vô biên, vô hạn trong câu kinh "...Pháp Vô Thượng Bồ Đề được Như Lai tích lũy tích tập từ trăm ngàn vạn ức na do tha a tăng kỳ kiếp..." Dù có tính được thời gian này đi nữa thì chỉ y số, chứ không phải y nghĩa , vì ở đây là vô lượng nghĩa .

 

  

7. DI LẶC BỒ TÁT

 

Bậc Đại Bồ Tát đầu tiên trả lời câu hỏi của Thế Tôn là Đại Bồ Tát Di Lặc.

"Bồ Tát Di Lặc liền đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vạch trần y ở vai phía hữu, quì gối hữu chấm đất, chắp lòng hai bàn tay lại, và kính cẩn bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn, trong thời Mạt Pháp, con có khả năng hộ trì Đạo Pháp khả dĩ đưa dẫn đến Vô Thượng Bồ Đề, Đạo Pháp mà Như Lai đã tích lũy tích tập từ vô lượng trăm ngàn triệu tỉ na do tha kiếp."

Trong Tam Thiên Phật Danh Kinh , chúng ta có thấy liệt kê ba ngàn danh hiệu Phật.

Có Đại Kiếp quá khứ gọi là Trang Nghiêm Kiếp , gồm có một nghìn Đức Phật thị hiện, như Phật Tỳ Bà Thi, Thi Khí, Tỳ Xá Phù. Đại Kiếp tương lai có tên là Tinh Tú Kiếp gồm có chư Phật thị hiện, cũng một nghìn Đức Phật liên tiếp xuất hiện từ Phật Nhật Quang cho đến Phật Tu Di Tướng. Còn đại kiếp của chúng ta hiện nay cũng có một nghìn Đức Phật liên tiếp xuất hiện, đã có bốn Đức Phật ra đời: Ca-la-ca-tôn (hay Câu Lưu Tôn), Câu Na Hàm Mâu Ni, Ca Diếp và Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật Di Lặc sẽ là vị Phật thứ năm trong Hiền Kiếp này. Đại Kiếp hiện tại của chúng ta có tên là Hiền Kiếp . Mạt Thế và Mạt Pháp là đối với Chính Pháp và Tượng Pháp (nhiều khi chúng ta dùng chữ mạt kiếp là muốn nói kiếp trọc, đúng hơn phải nói là mạt pháp và mạt thế). Chúng ta hiện nay đang sống trong thời mạt pháp và mạt thế trong Đại Kiếp hiện tại của một ngàn Phật, tên là Hiền Kiếp , mà Đức Phật thứ tư là Phật Thích Ca Mâu Ni, và chúng ta phải chờ đến Đức Phật thứ năm là Phật Di Lặc (Maitreya).

Theo sự tính toán, dựa vào kinh luận, nhà học giả Nhật Bản Mochizuki đã đưa ra số năm là 5.760.000.000 năm, sau Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệt thì Phật Di Lặc sẽ xuất hiện như Đức Phật mới, kế tiếp Phật Thích Ca Mâu Ni.

Học giả Nhật Bản khác, Giáo sư Akira Sadakata, cho rằng Phật Di Lặc sẽ xuất hiện, không phải 5.760.000.000 năm sau Phật Thích Ca mà lại là 5.670.000.000 năm (Akira Sadakata, op.cit., tr. 109), nhưng sau đó, nhờ thấy sự khác biệt giữa số năm của ông nêu ra và số năm của Mochizuki, ông liền tính số năm lại từ những kinh luận có liên hệ trực tiếp và gián tiếp với vấn đề xác định số đếm chính xác, mới thấy rằng không phải 5.670.000.000 năm, cũng không phải 5.760.000.000 năm, mà lại là 576.000.000 năm, sau Phật Thích Ca nhập diệt (op.cit., tr. 201 chú thích 10 và 11; tr. 201 - 204, chú thích 11).

Mỗi một sát na ( ksana ) gồm có 1/75 của một giây. Theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng, thở ra hít vô là một hơi thở, một hơi thở là bốn giây, một ngày có 21.600 hơi thở.

Nếu trong một sát na, một khoảnh thời gian ngắn ngủi nhất, bất ngờ chúng ta cảm thấy yêu thương tất cả chúng sinh trong khắp vũ trụ bao la thì lúc ấy chính Phật Di Lặc đang hạ sinh ngay lập tức trong lòng ta, chớ chẳng phải tính toán thời gian đúng số 576.000.000 năm.

Nếu trong một hơi thở (hít vô thở ra) hay trong 21.600 hơi thở của một ngày, tự nhiên chúng ta muốn đem niềm vui sướng hạnh phúc bất tận cho tất cả chúng sinh khắp mười phương mênh mông thì lúc ấy chính Đức Phật Di Lặc đang hạ sinh lập tức trong đời sống ta, chứ chẳng bận tâm với thời gian trải qua là 5.670.000.000 hay 576.000.000 năm.

OM MAITREYA SVÃHÀ.

 

  

 

 

8. BỒ TÁT DI LẶC VÀ PHÁP SƯ HUYỀN TRANG

Đại Bồ Tát Di Lặc đã tác động mãnh liệt đến cuộc đời phi thường của Đường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang. Một nhà đại thông thái lỗi lạc như Huyền Trang lại có lòng ngưỡng mộ sùng bái vô biên đối với Đại Bồ Tát Di Lặc, với tất cả sự khiêm hạ vô tận, với tất cả đức tin tuyết sơn tột đỉnh đối với Đức Di Lặc: đây là một sự kiện vượt qua trí nhớ của loài người và phá hủy tất cả lý luận chằng chịt của loại bác học vô minh hiện đại và "hậu hiện đại" bây giờ đang lan tràn khắp thế giới của thế kỷ hai mươi mốt đầy bát nạn ngu xuẩn.

Đang khi còn ở Ấn Độ, vừa rời khỏi thành phố Ràjapuri ở vùng Punjab, Huyền Trang băng rừng, bị bọn cướp hung dữ giựt lấy trọn hành trang, ngài phải chạy trốn trong đầm lầy, lội qua sông, thoát nạn. Sau đó, ngài tiếp tục lên đường, đi thuyền dọc theo sông Hằng, lại bị bọn hà tặc còn ác độc hung dữ hơn bọn cướp đường rừng. Bọn cướp sông này là tín đồ của ác đạo thờ nữ thần Durgà, bọn cướp này mỗi năm đều phải tế cống một người đàn ông mạnh khỏe đẹp trai cho nữ thần. Họ dựng bàn thờ với tất cả nghi lễ ác đạo và sắp giết ngài Huyền Trang. Ngài sẵn sàng chờ chết và chỉ xin bọn cướp cho ngài được ngồi im lặng một thời gian ngắn trước khi bị hành hình. Họ miễn cưỡng chấp nhận để cho ngài ngồi yên.

Ngài liền chuyên tâm, tập trung tất cả tinh thần vào cung điện ở trời Đâu Suất (Tusita) và nhất tâm niệm Đức Di Lặc (Maitreya), phát nguyện được thượng sinh lại ở Trời Đâu Suất để được lễ lạy Đức Từ Thị và học đạo với Đức Từ Tôn. Ngài nguyện rằng lúc thành đạo, ngài sẽ ra đời lại ở thế gian ô trọc này để dạy bọn cướp giết người tại đây tu hành thiện nghiệp, lìa xa hắc nghiệp, đồng thời ngài sẽ hộ trì Chánh Pháp và rao giảng Phật Pháp khắp nơi vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Rồi ngài lạy chư Phật mười phương, nhất tâm chính niệm, tập trung tất cả tư tưởng vào Đức Di Lặc; tức thì ngay sau đó, ngài nhìn thấy trong tâm mình: ngài đang bước lên núi Tu Di và đi lên cõi trời thứ nhất, thứ hai và thứ ba, rồi lập tức ngài bỗng thấy cung Đâu Suất với Bồ Tát Di Lặc đang ngồi trên đài diệu báu và chư thiên đứng hầu chung quanh. Ngài nhập vào cảnh giới vi diệu một cách vui sướng lạ thường, xuất thần một cách bất khả tư nghị đến nỗi ngài quên hết bọn cướp và quên cả việc chúng sắp giết mình để tế lễ...

Đùng một cái, một trận bão lớn bất ngờ nổi lên hơn sấm động, thổi mạnh từ bốn phương trời, cây cối đều sụp đổ, bao nhiêu thuyền của bọn cướp đều bị cuốn trôi lật ngược lại, cả bọn đều run sợ cực điểm. Sau đó, chúng mới biết rằng chúng đang xúc phạm đến bậc thánh nhân, chúng liền sụp lạy ngài và xin tha tội. Ngài mỉm cười và bố thí cho chúng một bài thuyết pháp, giảng dạy cho bọn côn đồ cướp cạn về cái quả báo khủng khiếp mà chúng phải trải qua trong địa ngục; bọn cướp liền sám hối, thọ ngũ giới, trở thành đệ tử đầy đủ lễ phép với sư phụ...

Lúc nằm trên giường bệnh, giây phút cuối đời, bao nhiêu đệ tử Tàu vây quanh, ngài hồi hướng công đức vĩ đại của cả sự nghiệp, tu hành và trước tác siêu việt cho tất cả những đệ tử vây quanh được tái sinh lại cùng với ngài trên trời Đâu Suất để được sống với Đức Di Lặc Từ Tôn. Lúc ấy có một đệ tử có vẻ cứng đầu hỏi gạn lại: "Sư phụ có nghĩ rằng sư phụ được sinh lại trên cõi trời Đâu Suất của Đức Di Lặc không?" Ngài Huyền Trang trả lời dứt khoát nhanh chóng: "Chắc chắn hoàn toàn, con ạ!"

Nếu chúng ta học được cái gương trong sáng cực độ của Ngài Huyền Trang đối với Bồ Tát Di Lặc thì cuộc đời của chúng ta đã được thay đổi hoàn toàn, dù sống hay chết, lúc nào cũng đang sung sướng tri túc tuyệt diệu, nhất cử nhất động đều thấy mình đang ở trời Đâu Suất với Đức Di Lặc.

"Bay từ Đao Lỵ đến trời Đâu Suất..."

(Hàn Mặc Tử)

 

 

 

 

Chương Chín

CÁC ĐẠI BỒ TÁT HỘ TRÌ PHẬT PHÁP, NHIẾP THỤ PHÁP BỒ ĐỀ VÔ THƯỢNG VÀ THÀNH THỤC CHÚNG SINH NHƯ THẾ NÀO?

 

  

Tất cả chư Phật và tất cả chư Đại Bồ Tát đều là liên hệ chặt chẽ mật thiết với nhau đến nỗi chúng ta có thể nhìn thấy tất cả chư Phật là một Đức Phật, và một Đức Phật là tất cả Đức Phật, vì Như Lai là tất cả pháp giới. Mỗi một vị Đại Bồ Tát là tất cả chư Đại Bồ Tát. Ngài Huyền Trang được Đức Di Lặc hộ trì, vì chính Bồ Tát Huyền Trang hộ trì Chính Pháp cho tất cả chúng sinh tam thế. Thực ra chỉ một ý tưởng thoáng qua muốn hưng phát Bồ Đề Tâm thì liền được Bồ Tát Di Lặc thị hiện hộ trì ngay lập tức, điều này đã được biểu hiện một các bí mật trong cuộc đời của ngài Vô Trước (Asanga) và ngài Huyền Trang.

Bồ Tát Di Lặc đã trân trọng trả lời Đức Thế Tôn: "Bạch Đức Thế Tôn! Con xin thưa rằng con có thể hộ trì Pháp Bồ Đề Vô Thượng vào thời Mạt Thế...". Sau đó, bao nhiêu Bồ Tát khác đều cung kính trả lời câu hỏi của Đức Phật.

Bồ Tát Sư Tử Huệ cung kính lễ bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng an trụ Bí Mật, đưa dẫn chúng sinh đến chỗ thành thục bằng cách sử dụng nhiều phương tiện thiện xảo.

Bồ Tát Vô Tận Ý cung bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng giải thoát những lãnh vực vô tận của chúng sinh bằng những thệ nguyện rộng lớn của con.

Bồ Tát Bạt Đà La bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng khiến cho tất cả chúng sinh mỗi khi nghe tên con thì đều đạt tới sự thành thục không sai sót.

Bồ Tát Diệu Đức bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng khiến các chúng sinh mỗi khi nguyện cầu trong sạch thanh tịnh thì liền được đạt trọn vẹn.

Bồ Tát Vô Úy bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng nhiếp thụ thế giới vô biên của các chúng sinh để làm nhiều lợi ích cho họ.

Bồ Tát Kim Cương bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng thị hiện trong những ác đạo để giải thoát các chúng sinh.

Bồ Tát Trừ Chướng bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng giải thoát các chúng sinh ra khỏi gông cùm trói buộc của bao nhiêu phiền não.

Bồ Tát Trí Tràng bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng giải trừ cái màn Vô Minh đang che tối các chúng sinh.

Bồ Tát Pháp Tràng bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng thường xuyên thực hiện Pháp Thí để giải thoát các chúng sinh.

Bồ Tát Nhật Tràng bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng thường xuyên đưa dẫn các chúng sinh đến chỗ thành thục bằng cách đem đến cho họ sự thanh bình an tĩnh và niềm vui sướng thoải mái.

Bồ Tát Nguyệt Tràng bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng thành thục chúng sinh bằng cách thể hiện thực hành các công đức.

Bồ Tát Thiện Nhãn bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng ban tặng cho chúng sinh sự thanh bình an ổn và niềm hạnh phúc vui sướng đã có sẵn trong tự tính của họ rồi.

Bồ Tát Quán Tự Tại bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng giải cứu các chúng sinh ra ngoài các ác đạo.

Bồ Tát Đắc Đại Thế bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng độ thoát các chúng sinh chưa được ai độ trong những ác đạo.

Bồ Tát Phổ Hiền bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng khiến cho các chúng sinh tự mình giải thoát bằng cách nhớ lại bao nhiêu sự đau đớn khổ sở mà họ phải chịu đựng trong quá khứ.

Bồ Tát Thiện Số bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng điều phục tất cả chúng sinh khó điều phục.

Bồ Tát Diệu Ý bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng độ thoát những hạng người ham thích giáo pháp nhỏ hẹp để họ đến được chỗ thành thục.

Bồ Tát Thiện Thuật bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng đưa dẫn những hạng người hạ liệt ít trí đến chỗ thành thục.

Bồ Tát Quang Tích bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng cứu độ những kẻ bị đọa làm súc sinh và khiến cho họ thoát khỏi phận làm súc sinh.

Bồ Tát Bất Tư Nghị bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Vì lòng thương đối với các chúng sinh phải đọa làm ngạ quỉ và muốn đưa dẫn họ đến chỗ thành thục, con có khả năng khiến họ được giải thoát khỏi thân phận làm ngạ quỉ.

Bồ Tát Đại Oai Lực bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng đóng cửa tất cả những ác đạo để các chúng sinh khỏi phải chịu đọa vào đó.

Bồ Tát Vô Tránh Luận bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng khai mở chỉ tỏ con đường giải thoát cho các chúng sinh.

Bồ Tát Hiền Cát Tường bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng đoạn trừ tất cả khổ não của các chúng sinh một cách rốt ráo tận cùng.

Bồ Tát Nguyệt Quang bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng ban tặng các chúng sinh sự thanh bình an tĩnh và sự hạnh phúc vui sướng một cách rốt ráo cùng tận.

Bồ Tát Nhật Quang bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng đưa dẫn các chúng sinh nào chưa được thuần thục thì được trở thành thuần thục.

Bồ Tát Vô Cấu bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng khiến cho các chúng sinh đều đạt được những chí nguyện của họ một cách viên mãn.

Bồ Tát Đoạn Nghi bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng giải thoát tất cả chúng sinh thấp hèn suy nhược, hạ liệt.

Bồ Tát Vô Úy (lại một lần nữa) bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn! Con có khả năng thu nhiếp đưa dẫn các chúng sinh vào trong Phật Pháp bằng cách khen ngợi họ và làm lợi ích cho họ.

Bồ Tát Huệ Thắng bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng khai mở Thắng Giải, tùy thuận với các chúng sinh và khiến họ đều đạt đến chỗ thuần thục.

Bồ Tát Quang Minh bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng thường xuyên áp dụng Chính Cần để cứu độ chúng sinh.

Bồ Tát Vô Lượng bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng chỉ bày cho các chúng sinh chân lý Vô Vi ở nơi tất cả các pháp.

Bồ Tát Vô Sở Úy lại bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng thị hiện bất cứ sự việc gì mà các chúng sinh mong muốn theo đúng chí nguyện của họ.

Bồ Tát Bửu Thắng bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng chỉ bày bao nhiêu khối trân bảo vi diệu cho các chúng sinh.

Bồ Tát Diệu Huệ bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng khiến cho các chúng sinh mỗi lần nhìn thấy con đều được vui sướng thoải mái và con đưa dẫn họ đến chỗ thành thục

Bồ Tát Bảo Tạng bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng làm cho các chúng sinh thoát khỏi tất cả những chướng ngại.

Bồ Tát Bảo Hiền bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng khiến cho các chúng sinh đều được thành tựu bằng cách tự mình biết được túc mệnh của mình.

Bồ Tát Bảo Thủ bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng khiến cho chúng sinh được an lành vui sướng bằng cách đem tặng cái trân bảo cho họ.

Bồ Tát Thắng Ý bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng khiến cho các chúng sinh thoát lìa sự khốn khó bần cùng, dứt hẳn tình cảnh nghèo cực.

Bồ Tát Hỉ Kiến bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Bất cứ đồ vật gì mà chúng sinh ưa thích, con đều có khả năng bố thí cho họ đầy đủ.

Bồ Tát Kim Cương (lại một lần nữa) bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng tỏ bày khai thị Chính Đạo cho các chúng sinh.

Bồ Tát Phước Tướng bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng giải thoát các chúng sinh bằng cách làm vui lòng họ.

Bồ Tát Pháp Siêu bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng diễn nói Chính Pháp và trừ sạch tất cả dơ bẩn cấu nhiễm.

Bồ Tát Vô Cấu (lại một lần nữa) bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng thương yêu, che chở, đùm bọc tất cả chúng sinh và đưa họ đến chỗ thành thục qua tình yêu thương đùm bọc ấy.

Bồ Tát Pháp Hiện bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng luôn luôn thể hiện Chính Pháp để giải độ chúng sinh.

Bồ Tát Không Tịch bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng khiến cho các chúng sinh đều có thể diệt trừ các thứ độc phiền não.

Bồ Tát Nguyệt Thắng bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng chỉ bày đúng chỗ Chính Pháp cho các chúng sinh nhìn thấy đàng hoàng.

Bồ Tát Sư Tử Ý bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn! Con có khả năng luôn luôn thể biện Pháp Thí vì lợi ích cho các chúng sinh.

Bồ Tát Đồng Tử Quang bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng cứu thoát chúng sinh thoát khỏi chốn thấp hèn.

Bồ Tát Giác Cát Tường bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng khai mở chỉ bày Chính Đạo và đóng hẳn các cửa của những ác đạo.

Bồ Tát Kim Quang bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng xuất hiện trong nhiều thân tướng khác nhau để đưa chúng sinh đến chỗ thành thục.

Bồ Tát Cát Tường bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn! Con có khả năng liên tục thường xuyên làm lợi ích cho các chúng sinh.

Bồ Tát Trì Thế bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng đóng hết cửa địa ngục để độ thoát chúng sinh ở đó.

Bồ Tát Cam Lộ bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con có khả năng khiến cho các chúng sinh được vượt thoát khỏi sinh tử.

Bồ Tát Võng Minh bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! ở thời Mạt Thế sau cùng, con có khả năng làm xuất hiện Quang Minh cho chúng sinh để diệt trừ những nỗi phiền não của họ.

Tất cả các bậc Đại Bồ Tát trên đều phát thệ nguyện vĩ đại trước Đức Thế Tôn. Mỗi vị đều quyết tâm đưa dẫn tất cả chúng sinh đến Thành Thục, tức là chín muồi trái cây Bồ Đề Vô Thượng. Tất cả chư vị Bồ Tát đều tìm đủ mọi cách để đánh thức dậy Bồ Đề Tâm có sẵn trong mỗi chúng sinh. Tất cả chư vị Đại Bồ Tát đều đã trải qua vô lượng kiếp thực hành lục Ba La Mật và thập Ba La Mật, không phải cho chính bản thân mình mà cho tất cả chúng sinh với bao nhiêu phương tiện thiện xảo, tức là sức mạnh khủng khiếp dũng mãnh của lòng Đại Bi được trong sáng đến cực điểm nhờ thế lực vô hạn của Đại Trí.

Mỗi một Thệ Nguyện của mỗi một Đại Bồ Tát thu nhiếp tất cả những thệ nguyện khác của tất cả chư vị Đại Bồ Tát. Nếu chúng ta có khả năng trừ tuyệt tất cả ý niệm về quá khứ, hiện tại và tương lai thì chúng ta mới biết được rằng tất cả chư vị Đại Bồ Tát thực sự đều đã là Phật rồi, nhưng các Ngài, dường như hư không, an trụ Bí Mật, khi thì ẩn tàng, lúc xuất hiện một cách bất ngờ, lúc làm ma để độ ma, lúc làm quỉ để cứu quỉ, nhiều khi sống rất tầm thường trong thiên hạ như những hạng người thấp hèn khắp nơi, lắm lúc hóa hiện thành suối nước, cầu đò, bình nguyên xanh mát, hoặc làm con kiến nhỏ bé chạy quanh quẩn trên bàn để nhắc người ngạo mạn nhìn thấy cái đáng nhìn thấy rằng mình còn tệ nhỏ hơn một con kiến nhỏ nhoi vô tội.

Đại Bồ Tát nhiều khi thị hiện qua một cái nhìn lặng lẽ, một cử chỉ nhún nhường, một lời nói nhẹ nhàng, một hơi thở mát dịu, một chút ánh nắng chiều trên cây lá, một thoáng buồn thương mênh mông kỳ lạ đối với tất cả những gì đang di động một cách bơ vơ lạc lõng trên tất cả tinh cầu hoang phế.

Khi lòng mình đã được chín muồi thành thục thì tất cả chư Phật và chư Đại Bồ Tát đều xuất hiện sáng ngời, hay đúng hơn nữa, dầu lòng mình vẫn chưa đủ chín muồi thì tất cả chư Phật và chư Đại Bồ Tát đều thị hiện liên tục.

 

 

 

10. TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT XUẤT HIỆN

 

Sàriputra (Xá Lợi Phất) được coi như là kẻ sáng suốt nhất trong hàng đệ tử Đức Phật, được ca ngợi là Đệ Nhất Trí Huệ trong các Đại Tỳ Kheo. Lúc trẻ, thiết tha đi tìm Chân Lý, theo ngoại đạo một thời gian, nhưng không thấy gì đáng kể; ngài là bạn thân thiết với Mục Kiền Liên từ hồi còn nhỏ, cùng nhau hướng vọng đạt tới một cái gì đó khả dĩ đạp lên trên cuộc đời tầm thường của thế nhân. Một hôm cả hai được dịp tham dự một cuộc lễ lớn ở thành phố, thiên hạ đều say đắm ngắm nhìn bao nhiêu cô gái tuyệt đẹp nhảy múa như tiên nữ. Mặc dù hãy còn trẻ, Xá Lợi Phất bỗng bất thần nhìn thấu qua ảo mộng thế gian và thì thầm với bạn: "Sớm hay muộn gì, tất cả những kẻ say đắm vui sướng này, những hương trời sắc nước này, những cô gái trẻ đẹp thiên nga này cũng sẽ đều chết ở thế gian này; chẳng những họ mà thôi, chính tôi rồi cũng chết như vậy. Cái chết rình rập mình mải miết như thế thì sướng gì mà phung phí thời gian với những cảnh tượng phù du như vậy?"

Sau đó, ngài bỏ hết tất cả và chỉ còn tập trung tất cả ý chí để tìm cho được Đạo Lý tối thượng. Ngài Mục Kiền Liên cũng quyết định lên đường như bạn mình. Cả hai học đạo với đạo sư Sanjaya (San-xà-gia) một thời gian, nhưng ngài Xá Lợi Phất vẫn không tìm thấy được gì cả.

Một hôm, bước đi thất vọng trên đường phố, bỗng nhiên ngài nhìn thấy một vị Tỳ Kheo đang đi khất thực, im lặng, bình an, sáng rực, oai nghi; đó là ngài Assagi (Mã Thắng). Khi ngài vấn đạo, chỉ có một câu nói của Tôn Giả Mã Thắng đã thay đổi toàn diện đời sống của ngài ("các pháp do nhân duyên sinh..."). Từ đó, ngài Xá Lợi Phất cùng ngài Mục Kiền Liên đều dứt khoát bỏ mọi tà thuyết ngoại đạo, suốt đời tu hành tinh tấn phi thường, trở thành hai Đại Thánh, hai đệ tử xuất sắc của Đức Phật: Xá Lợi Phất là Đệ Nhất Trí Huệ, đứng bên hữu Đức Phật, cùng với Mục Kiền Liên, Đệ Nhất Thần Thông, đứng bên trái Đức Thế Tôn.

Trong phần đầu Kinh, bao nhiêu bậc Đại Bồ Tát đã cung kính trả lời Đức Phật về việc hộ trì Chính Pháp và thành thục chúng sinh vào thời Mạt Thế, bây giờ chúng ta lại được nhìn thấy và lắng nghe Tôn Giả Xá Lợi Phất:

"Khi Tôn Giả Sàriputra (Xá Lợi Phất) đã nghe chư Bồ Tát phát hoằng thệ một cách dũng mãnh để thành thục các chúng sinh, ngài ngạc nhiên trước việc chưa từng xảy ra và bạch Đức Phật rằng: Thực là hi hữu! Bạch Đức Thế Tôn! Chư Đại Bồ Tát này đều thực là bất khả tư nghị; các ngài đều đầy lòng Đại Bi và có Phương Tiện thiện xảo; các ngài đều tự trang nghiêm với lòng dũng mãnh và đức tinh tiến. Không có chúng sinh nào có thể dò la hay lung lạc được các ngài, và cũng chẳng có gì có thể chiếu sáng mãnh liệt rực rỡ hơn được các ngài.

Bạch Đức Thế Tôn! Con xin ca tụng những sự việc phi thường chưa từng xảy ra, do chư Bồ Tát thể hiện. Các ngài có khả năng thoải mái ban cho bất cứ điều gì các ngài đang có sẵn, ban cho bất cứ ai muốn cầu xin, dù xin đầu, mắt, tai, mũi, thân thể, tay và chân, các ngài đều cho hết một cách nhẹ nhàng, không tiếc gì cả.

Bạch Đức Thế Tôn! Con thường nghĩ rằng nếu một bậc Bồ Tát không sợ hãi nao núng, ngay cả lúc họ bị người khác bức bách, bắt buộc Bồ Tát cho hết tất cả những gì mình có ở trong thân và ngoài thân thì đó đúng là bậc Bồ Tát được an trụ ở nơi Giải Thoát Bất Tư Nghị vậy."

Ở nơi phần đầu Kinh, chúng ta đã nghe Đức Thế Tôn hỏi: "Ở đời Mạt Thế, có ai có thể hộ trì Chính Pháp, nhiếp thọ Pháp Bồ Đề vô thượng... và an trụ Bí Mật và thể hiện các phương tiện thiện xảo để đưa dẫn chúng sinh đến chỗ thành thục?" Và Bồ Tát Sư Tử Huệ đã cung kính bạch: "Thưa Đức Thế Tôn! Con có khả năng an trụ Bí Mật ..." Khi mới vừa nghe mấy tiếng "An Trụ Bí Mật", chúng ta thắc mắc tự hỏi: "Bí Mật có nghĩa gì vậy?" Bây giờ, chúng ta được giải nghĩa: an trụ Bí Mật có nghĩa là an trụ Bất Tư Nghị Giải Thoát vậy.

 

 

 

11. ĐỨC PHẬT NÓI VỀ CHƯ ĐẠI BỒ TÁT

 

Đức Thế Tôn nói với Xá Lợi Phất: đúng như thế, đúng như thế, đúng như lời người nói. Không có hàng Thanh Văn (Sràvaka) hay hàng Bích Chi Phật (Pratyekabuddha) nào mà có khả năng biết được Trí Huệ, Phương Tiện và Cảnh Giới Tam Muội (Samàdhi) mà trong đó các chư Đại Bồ Tát an trụ.

Này Xá Lợi Phất! Giống như chư Phật, chư Đại Bồ Tát này có khả năng thực hiện được những thần thông biến hóa để thỏa mãn những mong cầu của các chúng sinh, thế mà tâm của chư Đại Bồ Tát này không hề bị xao động bởi bất cứ pháp nào cả.

Nếu có chúng sinh nào ham thích đời sống có gia đình, ham thích làm cư sĩ, làm kẻ tại gia, đầy lòng kiêu ngạo, và lêu têu, lêu lỏng, phóng dật thì những bậc Đại Bồ Tát này có thể hiện ra làm những người tại gia vĩ đại, đầy oai đức lẫm liệt để giảng dạy Phật Pháp cho họ, thuyết pháp, giáo hóa, để đưa dẫn họ đến chỗ thành thục.

Nếu có chúng sinh nào có sức mạnh thế lực lớn lao và trở nên tự thị kiêu mạn, các bậc Đại Bồ Tát này có thể hiện thân làm Na La Diên (Nàràyana) đầy đại lực để giảng giải Phật Pháp cho họ và khiến cho họ được điều phục.

Nếu có chúng sinh nào muốn cầu Niết Bàn thì những bậc Đại Bồ Tát này liền có thể hiện ra thành những bậc Thanh Văn để giáo hóa giải cứu họ.

Nếu có chúng sinh nào thích quán Duyên Khởi thì những bậc Đại Bồ Tát này có thể hiện ra thân Duyên Giác, giáo hóa giảng dạy Phật Pháp cho họ để độ thoát họ vậy.

Nếu có chúng sinh nào có chí lớn cầu Bồ Đề (Giác Ngộ Viên Mãn) thì các bậc Đại Bồ Tát này đều có thể hiện ra Thân của chư Phật, đưa dẫn họ nhập vào Phật Trí để độ thoát họ vậy.

Na La Diên là tên khác của Chấp Kim Cương. Na La Diên có nghĩa nhân bản sinh cũng là một vị đại lực sĩ ở cõi trời; Nàrà (Na La) là nhân , người; yana (Diên) là sinh bản , gốc hay nền tảng của sự sống: "Thiên Lực Sĩ Na La Diên thì chính trực và dũng mãnh" (như lời ngài Cưu Ma La Thập, Kumàrajiva).

Chữ Phạn Pratyekabuddha được người Tàu dịch là: Bích Chi Phật, Duyên Giác và Độc Giác. Trong truyền thống Việt Nam, Trung Hoa và Nhật Bản thì mỗi cách dịch đều mang ý nghĩa đại đồng tiểu dị: Không thầy dạy, tự mình thành Phật, gọi là Độc Giác ; còn nhờ quán nhân duyên mà giác ngộ thì gọi là Duyên Giác . Tông phái Thiên Thai lại cho rằng Độc Giác là thành đạo ở thời không có Phật, còn Duyên Giác thì đắc đạo vì quán thập nhị nhân duyên ở thời có Phật. Theo Đại Trí Độ Luận thì Bích Chi Phật có hai: đó là Độc Giác và Duyên Giác.

Chữ Phạn Pratyekabuddha nhiều khi được phiên âm theo lối Tàu là Bát-lạt-ê-già-Phật-Đà, hay Bích Chi Ca La (chữ Phạn: Pratyekabuddha; chữ Pali: paccekabuddha). Có một điều đáng để ý, theo giáo sư Leon Hurvitz, dịch giả Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ra chữ Anh Mỹ, có nhận xét rằng chữ phiên âm Tàu pi-chi-fo ngày xưa ở bên Tàu đọc là pyek-ci-but . Như thế chúng ta thấy rằng cách phiên âm Việt-Hán của dân tộc Việt Nam chính xác hơn cách phiên âm chữ Tàu hiện nay, vì cách phiên âm Việt-Hán của dân tộc ta còn giữ lại đúng hẳn cách đọc của dân Tàu cả trên hai ngàn năm trước, thay vì phiên âm là pi-chi-fo như Tàu bây giờ, ta gọi là Bích Chi Bụt (Tàu ngày xưa gọi Phật Bụt! ).

 

 

 

12. NHƯ LAI CÓ NGHĨA LÀ GÌ?

 

Ngài Phất Ca Sa chỉ lặng nhìn làn gió hiu hiu thổi làm rung động những lá cây mà hốt nhiên ngộ đạo ( Bích Chi Phật Đắc Đạo Nhân Duyên Kinh ), ở đây, gọi là Duyên Giác, vì mượn duyên của những sự việc và những sự vật trước mắt, hiện tiền, hiện tại, ngay bây giờ, ngay tại chỗ. Cũng nên cần lưu ý những bậc thức giả hiện nay: về cái gọi là Ngộ hay Satori của những thiền sư hiện đại, dạy Thiền theo điệu hiểu hời hợt mà uyên bác của Daisetz Teitaro Suzuki thì chúng ta chợt thấy cái Ngộ (Satori) giống tương tợ gần gần như cái Ngộ của bậc Duyên Giác (tương tợ gần gần, chứ chưa được hẳn như bậc Duyên Giác).

Cả sự nghiệp tư tưởng của Đạo Sư Krishnamurti và của cả Đạo Gia nổi tiếng Gurdjieff đều cũng tương tợ theo hướng ngộ đạo của Độc Giác hay Duyên Giác... Đôi điều cần nêu ra cho đầu năm 2001 để cho những thế hệ trẻ tuổi của Việt Nam ở khắp thế giới biết phân biệt như thực, y theo Trí Huệ, chứ không y theo Ý Thức, dù là Ý Thức Mới...

Phải xác định như trên mới biết được thế nào là Bồ Đề Tâm (Nguyễn Du: Lòng Bồ Đề), thế nào là Bồ Đề Vô Thượng, thế nào là Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Nói tóm lại: Như Lai có nghĩa là gì? Như Lai là Bất Tư Nghị Giải Thoát.

Trở lại với Nhị Thừa: Thực ra cũng phải trải qua việc gieo trồng căn lành trong bao nhiêu tỉ triệu kiếp mới được quả A La Hán và quả Bích Chi Phật. Hiện tại ở thế giới có 6 hay 7 tỷ người, chưa chắc có được vài vị A La Hán hay Bích Chi Phật, Độc Giác hay Duyên Giác. Tuy nhiên có một điều không thể quên được rằng chỉ có Phật mới nhìn ra Phật, A La Hán mới thấy ra A La Hán, Bích Chi Phật, Duyên Giác, Độc Giác mới nhận ra Bích Chi Phật (Duyên Giác và Độc Giác), chỉ có Đại Bồ Tát là nhìn thấy hết tất cả. Hơn thế nữa, các Đại Bồ Tát có thể thị hiện là A La Hán hay Bích Chi Phật (Độc Giác hay Duyên Giác) tùy cách thể hiện Phương Tiện Thiện Xảo, tức là lòng Đại Bi.

Chúng ta hãy tôn kính quì lạy tất cả chư vị A La Hán và tất cả chư Bích Chi Phật, Độc Giác và Duyên Giác, tôn kính quì lạy tất cả những vị tương tợ gần gần Độc Giác hay Duyên Giác, tương tợ gần gần A La Hán, tương tợ gần gần Bồ Tát. Bài học vĩ đại siêu việt nhất, bí mật nhất của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là: Tất cả chúng sinh đều được Đức Thế Tôn thụ ký thành Phật, thành Vô Thượng Bồ Đề, Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, không khác một mảy may với Vô Thượng Bồ Đề của Đức Thế Tôn; tất cả mọi sự, mọi việc, mọi vật, mọi điều đều là Diệu Pháp Liên Hoa; tất cả chúng sinh đều thành Phật rồi, nhưng ít có ai có được Đại Tín Tâm Kim Cương như vâäy. Tất cả Kinh Diệu Pháp đều sắp nói về Kinh Diệu Pháp hay tất cả Kinh Diệu Pháp đều nói về chính Kinh Diệu Pháp hay Kinh Diệu Pháp nói về cái không thể nói được, đó là an trụ Bí Mật, An Trụ Bất Tư Nghị Giải Thoát. Kinh Diệu Pháp là vua của tất cả các Kinh, vì tất cả Kinh đều là Diệu Pháp Liên Hoa, ngay đến những kinh gọi là bất liễu nghĩa đều là liễu nghĩa một cách ẩn mật. Phải đi từ thấp đến cao nhưng lúc tới cao tột đỉnh rồi thì chỗ thấp nhất là chỗ cao nhất.

Giống như Đi Như Thế (Như Lai) là không đi đâu hết, chẳng đi và chẳng đến (bất lai bất khứ) vì không sống và không chết (bất sinh bất diệt).

"Như thế, như vậy, này Sàriputra (Xá Lợi Phất), chư Đại Bồ Tát này sử dụng nhiều Phương Tiện Thiện Xảo để thành thục các chúng sinh và khiến cho họ an trụ trong Phật Pháp. Tại sao thế? Bởi vì chỉ có Trí Huệ của Như Lai mới tựu thành nơi sự Giải Thoát và Niết Bàn tối hậu, tối thượng cứu cánh Niết Bàn; không còn có Thừa nào khác có thể đưa mình đến Giải Thoát (Độ Thoát). Vì lý do đó mà Như Lai (Tathàgata) được gọi là Như Lai (Tathàgata)."

Chữ Phạn Tathàgata vừa có nghĩa: Đấng Đi Như Thế, Đâáng Đến Như Thế ; mình quen gọi Đức Thế Tôn là Như Lai . Chân Lý tối thượng, vô thượng là Như, Như Thế, Như Vậy.

"Bởi vì Như Lai hiểu biết cái Tính của cái Như Thế, đúng thực là Như Thế (Như Thực Giác Liễu Như), cho nên được gọi là Như Lai (Tathàgata).

Bởi vì Đức Thế Tôn có thể thị hiện bất cứ cái gì mà các chúng sinh nguyện cầu, cho nên Đức Thế Tôn được gọi là Như Lai.

Bởi vì Đức Thế Tôn đã thành tựu căn bản của tất cả thiện pháp và đã trừ dứt hết căn bản của tất cả pháp bất thiện, cho nên Đức Thế Tôn được gọi là Như Lai.

Bởi vì Đức Thế Tôn có thể khai thị tỏ bày con đường đưa đến Giải Thoát cho các chúng sinh, cho nên Đức Thế Tôn được gọi là Như Lai.

Bởi vì Đức Thế Tôn có thể khiến cho các chúng sinh xa lìa tà đạo và được an trụ nơi Chính Đạo, cho nên Đức Thế Tôn được gọi là Như Lai.

Bởi vì Đức Thế Tôn có thể diễn thuyết giải nghĩa đúng cái ý nghĩa chân thực như thế (như thực nghĩa) của Tánh Không của tất cả các pháp, cho nên Đức Thế Tôn được gọi là Như Lai."

Đức Thế Tôn lại giảng dạy thêm về Bồ Tát Hạnh cho Ngài Xá Lợi Phất, giảng rộng thêm về Bố Thí, hai loại Bố Thí chính, và bốn loại Bố Thí cụ thể thực tế cho hàng xuất gia.

"Này Sàriputra (Xá Lợi Phất), bậc Bồ Tát đều biết rõ những chí nguyện của các chúng sinh, và nhờ thuyết giảng Phật Pháp cho họ, tùy thuận theo những sở chí và sở nguyện khác nhau của họ để đưa dẫn họ đến giải thoát. Bồ Tát mở bày khai thị Thực Trí (Thật Trí) cho hạng người ngu xuẩn. Bồ Tát có thể tạo hiện ra đủ loại trang nghiêm huy hoàng huyền ảo mà vẫn chẳng động Pháp Giới (dharmadhàtu) và khiến cho các chúng sinh được tiệm tiến tuần tự thứ đệ mà đến được bờ Niết Bàn.

Hơn nữa, này Xá Lợi Phất, bậc Bồ Tát tại gia mà an trụ nơi lòng từ mẫn và lòng không hại cái gì cả thì phải cần tu hành hai loại Bố Thí. Hai loại Bố Thí nào? Đó là Pháp thí và tài thí. Còn Bồ Tát xuất gia thì cần phải tu hành bốn loại Bố Thí. Bốn loại Bố Thí nào?

 

bullet

Một là cho bút viết (bút thí: để biên soạn, viết, vẽ, chép những kinh, luật, luận);

bullet

Hai là cho mực (mực thí);

bullet

Ba là cho những kinh điển Phật (Kinh bản thí);

bullet

Bốn là giảng dạy, giải rõ Phật Pháp, thuyết pháp (thuyết pháp thí).

 

Một bậc Bồ Tát đã thành tựu Vô Sinh Pháp Nhẫn (Anutpattidharma- ksànti) thì phải cần luôn luôn sẵn sàng an trụ bố thí ba thứ. Ba loại Bố Thí nào? Đó là:

 

 

 

bullet

Một là bố thí cả cái ngôi vua của mình;

bullet

Hai là bố thí vợ và con cái của mình;