5) LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG CỦA KINH PHẬT
Ở trên mới chỉ nói về cái vỏ ngoài của kinh Phật, còn chưa tiếp xúc đến nội dung của kinh văn. Nhưng vỏ ngoài là chỗ thịt xương ở trong gởi vào. Nếu trong kinh Phật mà danh từ lộn xộn, đặt câu sai lầm, chữ viết lệch lạc, chương cú chẳng rõ ràng, thì tôi đã đem xếp vào một xó có thèm đọc làm chi. Chỉ vì cái vỏ ngoài của kinh Phật đoan trang tốt đẹp có thể đem so sánh với tướng-mạo trang nghiêm của chư Bồ-tát, nên tôi đối với lý-luận nghiên-cứu kinh Phật có cái xu-thế chẳng thể nào thôi đi mà không xem. Cuốn kinh Lăng-Nghiêm tôi bắt đầu đọc vốn là một cuốn kinh điển lời văn rất hay đẹp, điệu hành-văn rất tài tình khiến cho người ta ham mê đọc. Ngay đến sự tổ chức nghiêm chỉnh, thuyết-lý tinh-diệu của kinh lại khiến cho người ta càng ưa đọc chẳng thấy chán nản. Cho nên hồi ngài cư-sĩ Dương-nhân-Sơn được thấy cuốn kinh nầy ở trong quán bán sách cũ, liền đứng coi luôn một hơi hàng mấy tiếng đồng hồ, đến khi đọc xong rồi mới chịu ra đi. Cổ nhân lại có câu: "Từ lúc được thấy kinh Lăng-Nghiêm rồi thì không còn đọc những sách cặn bã trên thế gian nầy nữa". Tôi đối với câu trên cũng có cảm tưởng y như thế.
Tôi lại còn đem kinh nầy ra làm cuốn "Sách chỉ dẫn thực nghiệm" (instruction book), vì rằng kết cấu của sách nầy đích xác là có nhiều điểm tương đồng với "Sách chỉ dẫn". Một cuốn sách chỉ dẫn phổ thông cho học sinh thực nghiệm chia ra làm mấy đoạn như sau:
a) - Mục đích của sự thực nghiệm.
b) - Những đồ dùng và tài-liệu để thực nghiệm.
c) - Lý-luận của việc thực-nghiệm phải noi theo.
d) - Phương pháp và sự tiến hành của công-tác thực-nghiệm.
e) - Kết-quả của sự thực-nghiệm.
f) - Những việc dự phòng phải nên lưu-ý trong khi thực-nghiệm.
g)- Sau hết là kết-luận.
Kết quả của sự thực-nghiệm trong kinh Lăng-Nghiêm nầy của tôi có thể chia ra làm mấy đoạn như sau:
Duyên khởi của sự nói bộ kinh nầy (tức là lời tựa).
Nói rõ đối-tượng tu trị (như bảy chỗ Phật hỏi về cái tâm).
Lý-luận của sự tu hành (như mười phen chỉ rõ tánh thấy, hội thông tứ khoa, viên chương thất đại v.v...)
Phương-pháp và tiến hành của sự tu hành (Như các đoạn: 25 viên thông và đạo trường gia hạnh).
Hiệu quả thu được của phép tu hành này (như đoạn nói về chúng sanh, thì chỉ rõ mỗi người đều được ích lợi, nói về quốc độ thì chỉ rõ được ích lợi khắp hết, đó là sự lợi ích đối với quốc gia nhân dân).
Những việc cần phải lưu ý và đề phòng trong lúc tu hành (Như nói về thất thú và ngũ ấm ma đề răn sự đọa lạc của người tu).
Sau cùng thuyết minh công đức của sự lưu thông.
Sách "Thực nghiệm chỉ dẫn" là kinh điển của nhà khoa học đã thu hoạch được những trí thức khoa học, còn kinh Phật là sách thực nghiệm chỉ dẫn của người học Phật để thu-hoạch được Phật quả.
Sau khi tôi đã đọc kinh Lăng-Nghiêm, thấy nội dung kinh nầy tổ-chức một cách khoa học như thế, lòng tôi rất làm kinh dị và tán thán, tôi rất ăn năn rằng hồi trước đã coi kinh Phật cũng đồng loại với các kinh thánh đạo Gia-tô và Hồi-hồi. Không dè nguyên lai kinh Phật là một thứ học vấn có thể thực-nghiệm, có thể thu hoạch được kết quả thực tiễn. Từ đó tôi đã được sự kết luận như sau: Phật giáo chẳng phải là tôn giáo, vì tôn giáo chỉ chú trọng về tín (tin) mà chẳng chú trọng về giải (hiểu biết). Phật giáo thì trái lại, lại chú trọng về giải chớ không chú trọn về tín. Tôn giáo là bất bình đẳng, vì tôn giáo chẳng thể cho người nào cũng đều được làm thượng-đế, Phật-giáo thì bình đẳng, mọi người đều có Phật tánh, mọi người đều có thể thành Phật. Tôn giáo là thứ chấp tướng, Phật giáo là phá hết thảy các chấp. Tóm lại Phật-giáo và các tôn-giáo khác cách xa nhau một trời một vực phàm người nào đã đọc kinh Phật đều thấy được điểm nầy.
Tôi lại được một kết luận nữa: Phật-giáo chẳng phải là triết-học, vì triết-học chẳng thể chứng nghiệm được, Phật giáo thì có thể chứng nghiệm. Triết-học là thứ chỉ nói món ăn mà không thể làm cho người no bụng, còn Phật-giáo là thứ làm lợi cho người và lợi cho mình. Triết học là chỗ chấp của biên-kế-tính nhờ dùng tâm phân biệt mà biết được. Phật học là viên-thành thực-tính nhờ dùng trí không phân biệt mà biết được. Còn như sự liên quan của Phật-giáo với khoa-học tôi không thể nói thêm nữa, vì chẳng những không thấy có chỗ nào xung đột nhau, trái lại tôi thấy rằng có nhiều chỗ giống nhau như đã trình bày ở trên. Ít ra thì sự tổ chức của kinh Phật cũng là khoa-học-hóa mà bản thân khoa-học lại cũng vô ngã chấp (Không chấp ta).
Sau khi đọc kinh Lăng-Nghiêm càng tăng thêm hứng thú đọc kinh Phật, vì thế tôi lại đọc Tâm kinh, Kim-Cang kinh, Pháp-Hoa kinh và bốn bộ Trung-Luận. Tôi càng xem kinh luận nhiều, lần lần càng thấy những điểm trong kinh hội-thông với khoa-học lại cũng nhiều. Cái trí thức khoa học mà tôi đã học được, gần như dùng trọn vẹn để làm căn bản cho tôi giải nghĩa kinh Phật, và biến thành hộ pháp của Phật-pháp. Vả lại nhờ Phật-pháp mà khoa-học có nhiều điều chỉ dẫn và cải-chính, nay tôi xin thuật như sau:
– Ba phép quán không, giả, trung, nơi hết thảy vật chất
Kinh Kim-Cang là một cuốn kinh truyền bá rất rộng, nhưng trong kinh này có rất nhiều câu mà những người tầm thường không thể hiểu thấu. Như câu: "Cái gọi là Phật-pháp, tức chẳng phải Phật-pháp, nên gọi đó là Phật-pháp" đối với các Tôn-giáo chủ trương thuyết "Nhất thần" nhận có một vị chủ tể tạo ra muôn loài vạn vật tất nhiên câu nói này sẽ bị coi là phản tôn-giáo. Nếu lấy X thay cho Phật-pháp thì câu này có thể đổi thành một công thức là: "Cái gọi là X, tức chẳng phải X, nên gọi đó là X" Chữ X này có thể dùng để chỉ cho chúng sinh, cho trời đất, mặt trời, mặt trăng, núi sông cây cỏ, cho hết thảy dụng cụ máy móc, các thứ khoa-học công-nghệ, và bao nhiêu danh từ về tinh thần và vật chất. Có một hạng người cho câu trên là chẳng thông hoặc là câu nói hoạt-kê, vì rằng X quyết chẳng thể nào biến thành chẳng phải X. Nếu lấy đại số ra mà giảng thì X ≠ X (tức là X chẳng thể nào bằng với X). Nhưng vì đã có sự huấn luyện của khoa học, tôi quyết chẳng phải như hạng người đưa ra lời phán đoán vội vàng, kết quả tôi đã dùng sự thực của khoa học để giải đáp cái điều có vẻ nghịch lý này.
Có lần một ông kỹ-sư hỏi tôi câu trên phải cắt nghĩa bằng cách nào? Tôi liền chỉ cái chén trà trên bàn mà nói: Nay tôi đem cái chén này thay cho X thì câu trên sẽ thành ra "Cái gọi là chén trà, tức chẳng phải là chén trà, nên gọi nó là chén trà". Tôi muốn thức tỉnh anh bạn kỹ-sư nên giảng thêm: Định nghĩa của cái chén là món đồ bằng sứ hình tròn và dài như cái ống dùng để uống nước trà. Như thế thì trừ "sứ" ra chỗ nào còn có bản thể của chén nữa? Vả lại cùng một cái chén này, ngày nay uống nước trà nên gọi nó là chén trà, đến ngày mai uống rượu, nó há chẳng đổi thành chén rượu? Theo cách xem như trên thì chén trà rốt cuộc là một danh-từ giả-định mà thôi, bản thể của nó là "không". Câu thứ nhứt "cái gọi là chén trà" ở trong Phật-giáo đặt tên là "giả quán". Câu thứ hai "Tức chẳng phải là chén trà" là "không quán". Câu thứ ba "Nên gọi nó là chén trà" là "Trung quán". Chấp chén trà cho là thực có, đó là kiến thức của thế tục, kẻ chủ-trương duy-vật-luận cũng có kiến thức nầy. Hoặc bảo rằng duy-vật-luận của Các-Mác (Karl-Marx) là khoa-học, thực ra thì khoa-học hiện nay cũng chẳng công nhận vật-chất là còn hoài chẳng mất, cho nên duy-vật-luận ở mấy năm gần đây đã chẳng còn là khoa học nữa. Chỉ có kẻ hiểu sâu khoa-học mới biết chất sứ là thiệt, chén trà là giả, chất sứ là có, chén trà là không. Lại chỉ có kẻ nào hiểu sâu lẽ "tam-quán" của Phật-pháp, mới biết rằng bản thể của chén trà tuy là không, mà vẫn chẳng mất tác-dụng của chén trà, cho nên chẳng ngại gì mà không đặt cho nó một cái tên giả là chén trà. Tuy hiểu rõ cái "Không" và cái "Giả" mà chẳng nghiêng về hai phía không và giả, đó là "Trung-quán". Tam quán không, giả, trung hợp làm một thì mới có lý đúng để quan-sát, nghĩa là đối với cái chén trà trên có sự hiểu biết rất hợp lý và thấu suốt. Ông bạn kỹ-sư cũng công-nhận lời giải nghĩa trên của tôi là đúng, nhưng ông ta cho bản chất của chén trà là sứ, chén trà tuy là không, nhưng chất sứ thì có, chén trà tuy là giả nhưng chất sứ thì thiệt. Tôi trả lời: Thành phần của sứ chẳng ngoài bốn chất: chất khinh (Hydrogène), chất dưỡng (Oxygène), chất nhôm (Alumunium), chất si-li-cát (Silicate), trừ bốn chất nầy ra thì chất sứ có đâu? Nay dùng công thức lấy sứ thay cho X liền thành: "Cái gọi là sứ, tức là chẳng phải sứ, nên gọi đó là sứ". Lại tiến lên một bước nữa thì bốn chất nầy là do hạt nhân nguyên-tử và điện-tử hợp nhau mà thành. Điện-tử xoay vòng quanh hạt nhân nguyên-tử cũng như hành-tinh xoay vòng quanh mặt trời, thế thì bốn chất khinh, dưỡng, nhôm, Si-li-cát nầy cũng chẳng phải là khinh, dưỡng, nhôm, Si-li-cát, nó chỉ là hạt nhân nguyên-tử mà thôi! Bốn chất nguyên-tử lại vẫn có thể đem thay vào công thức nói trên mà thành ba phép quán không, giả, trung. Cứ như thế mà ta suy ra đến hạt nhân nguyên-tử thì lại cũng vẫn như vậy. Phàm cái gì đã có tên gọi, đều có thể quán theo phép nầy, tuy Phật-pháp cũng chẳng ở ngoài công-lệ đó. Bạn tôi tới đây mới gật đầu công nhận.
– Sắc tức là Không, Không tức là Sắc
Đây là hai câu biểu ngữ tuyên-truyền rất rộng trong Phật-pháp người nào cũng đều biết cả, nhưng chẳng phải người nào cũng có thể hiểu nổi câu nầy. Nay đem ngay hạt nhân nguyên tử tiến lên mà bàn luận: Sự nghiên-cứu về hạt nhân nguyên-tử trong khoảng mười năm gần đây đã thấy có tiến bộ rõ ràng, vì thế nên mới có sự phát minh ra nguyên-tử năng và Bom nguyên-tử. Chất-lượng (mass) của bom nguyên-tử là tập trung ở hạt nhân nguyên tử, chất lượng của điện tử chỉ bằng 1/2000 của hạt nhân nguyên tử. Bởi sự phát minh được bom nguyên tử nên chứng minh rằng vật-chất có thể biến thành năng lực (energy). Xét ra cựu vật-lý-học có hai định luật trọng yếu:
1)- Luật vật chất chẳng diệt (Law of Conservation of Matter).
2)- Luật năng lực chẳng diệt (Law of Conservation of Energy).
Vật-chất và năng-lực là hai thứ thường tồn tại vĩnh viễn chẳng tiêu-diệt mất. Quan niệm nầy nguyên trái với Phật-pháp, vì Phật-giáo thì nói hết thảy các Pháp đều là vô thường. Hiện nay cái định-luật trái với Phật-pháp này đã thành ra cũ-kỹ quá rồi, mà vật-chất và năng-lực đã trở nên một nhà. Vật-chất tức là chỗ trong kinh Phật nói là "Sắc" từ vật chất mà biến thành năng-lực chẳng còn là vật-chất, thì bản-thể của vật-chất có thể nói là "không". Ta hãy xem sau khi vật-chất biến thành năng-lực nó như thế nào? Sau khi bom nguyên-tử liệng xuống Quảng-Đảo nổ, một bảng chất nổ nầy (dấu hiệu của hóa-học là U235) biến thành ra năng-lực công tác đem vật sống biến thành ra vật chết, đem một tòa kiến trúc biến thành ra vô số hạt bụi nhỏ, đem một tảng đá bự từ phía đông dời qua phía tây. Nói tóm tắt là Sống biến làm chết, một biến làm nhiều, đông biến làm tây; lại nói tóm tắt thêm nữa ấy là biến đổi hẳn một cái quan-niệm. Lại tra trên vật-lý-học đối với định nghĩa của chữ "Năng-lực" nguyên là tích số (số nhân) của lực và khoảng cách xa, lực là biểu-hiện sự hành-động của vật-thể. Động là một thứ quan-niệm của thời-gian và không-gian liên hợp lại. Thời-gian là quan niệm sinh ra của vật-thể hành-động. Những cái bảo là: Thời-gian, không gian, động lực v.v... nói trên đều nương cậy lẫn nhau mà hiển hiện phát sanh, không có một cái nào là độc lập chân thường có thể đưa ra cho người ta thấy. Ví dụ như chúng ta tính dòng thời gian là lợi dụng trái đất tự nó xoay và xoay chung quanh mặt trời để định ra năm, tháng, ngày; lại lợi dụng đồng hồ để tính phút, giây. Giả sử trên thế giới nầy hết thảy mọi vật đều đứng yên, ngay cả đến hơi thở và mạch máu của chúng ta đều ngưng lại, thì thử hỏi từ đâu mà phân chia ra năm, tháng, ngày, giờ...? Đã không có quan-niệm về thời-gian, từ đâu ta có thể biết được sự động? Đã không có động tức là không có "lực", đã không có "lực" tức là không có "năng", đã không có năng tức là không có "vật", đã không có vật thì từ đâu mà sinh ra sự cảm-giác về không-gian? Một chuỗi quan niệm liên-tục như thế đều là không, thì làm sao mà "sắc" chẳng là "không"?
Nhưng không tại làm sao lại tức là sắc? Xin trả lời: Vật chất biến làm năng-lực là "sắc tức là không", thì năng lực biến làm vật-chất là "Không tức là sắc". Hiện nay giới khoa-học nước Anh đã có chứng minh xác thực, nhưng từ một thứ năng lực nào biến ra thành một thứ vật chất nào, và dùng phương pháp nào đạt được, thì hiện nay còn chưa thể biết. Tương lai hoặc là có thể từ ánh sáng mặt trời (ánh sáng là một hình thức năng-lực) tạo nên được lương thực, quần áo và món người ta ai cũng thích là vàng. Hoặc lợi-dụng sức nước của sông Trường-Giang, cho đến năng lực của trái đất tự nó xoay, hoặc năng-lực của địa-vị trái đất đối với mặt trời cũng đều có lý do thực hiện được cả. Đến đây tôi chẳng còn có thể nói thêm được nữa, sợ rằng người đời cho tôi là anh chàng si ngốc nói chuyện chiêm bao. Nhưng những lý-luận trên đều từ khoa học thực nghiệm mà ra, cho dẫu không tin lời nói của Phật, há rằng ngay đến lời nói của khoa-học cũng không tin nốt ư? Nếu khoa-học có thể tin được thì chỗ trong kinh Pháp-Hoa nói: "Từ trong đất vọt hiện ra tháp Đa-Bửu cao 500 do tuần, rộng 200 do tuần (1 do tuần bằng 40 dặm), lại vọt hiện ra trăm ngàn vạn ức chư Bồ-tát" thì cũng đều có thể tin được hết thảy. Vì rằng đức Như Lai là người nói chơn, nói thật, nói như, không nói dối, không nói khác. – Như lai thị chơn ngữ giả, thiệt ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả (kinh Kim-Cang ). Lời nói trung thực của Ngài chẳng kém gì lời nói của nhà khoa-học chúng ta.
– Luận Nhân-Duyên Hòa Hợp và Luật Nhân-Quả
Lời Phật dạy rằng: Những sự vật tinh-thần và vật-chất trên thế giới đều do nhân duyên hòa-hợp mà sanh ra. Chúng ta đứng trên lập-trường khoa-học, hiện tượng về tinh-thần vốn chẳng phải là đối-tượng để chúng ta nghiên-cứu, có thể gác qua một bên không bàn đến. Nay đem riêng một phương-diện vật-chất ra mà nói: Người làm ruộng đem một hạt thóc gieo trong ruộng, hạt thóc nầy được sự bồi dưỡng của ánh sáng mặt trời, nước, đất, phân bón, nhân công, bèn nảy ra một bông lúa, đó là sự sản xuất của người làm ruộng. Bông lúa nầy chẳng phải là bỗng không mà có, nó lấy hột thóc làm nhân (kinh Phật gọi là thân nhân duyên), lấy ánh sáng mặt trời, nước, đất, phân bón làm duyên (kinh Phật gọi là tăng thượng duyên) mà lần lần sanh sôi nẩy nở ra. Có nhân mà không có duyên, hay có duyên mà không có nhân cũng đều chẳng sanh ra được, đó tức là luận nhân duyên hòa hợp của Phật-pháp.
Nhà dệt một mặt đem bông sợi vào xưởng dệt, một mặt đem những tấm vải ra, đó cũng là một thứ sản xuất; sự sanh sản ra tấm vải lấy bông sợi làm nhân, máy móc nhân công làm duyên. Hết thảy sự sản xuất của nông nghiệp công nghiệp chỗ nào cũng có thể thay lời chú-giải luận nhân duyên hòa-hợp của Phật. Chẳng riêng gì sự chế tạo của nhân công như thế, ngay đến sự biến hóa của vật chất trên tự nhiên giới, sự diễn tiến của sinh-vật đều có thể đem luận nhân duyên hòa hợp nầy ra để giải nghĩa. Vì nó là nhân duyên hòa hợp, nên hết thảy sự vật đều không có bản-thể. Do đó ta có thể thông hiểu cái lý ba phép quán (không, giả, trung) như trên đã thuật, và lý "sắc không chẳng hai" thành ra cái lý luận nhất quán nói không nói có của Phật-giáo.
Nên kinh Phật có câu nói rất thấu suốt "Các pháp nhân duyên sanh, ta nói đó là không, cũng gọi là giả danh, cũng gọi nghĩa trung đạo = nhân duyên sở sinh pháp, ngã thuyết tức thị không, hựu danh vi giả danh, hựu danh trung đạo nghĩa" Luận nhân duyên hòa hợp nầy đánh tan bao nhiêu thuyết thượng đế tạo ra muôn vật của nhất-thần-giáo, thuyết thần quyền vạn năng và những kiến-thức sai lầm của nhà khoa học hồi xưa cho nguyên-tử là đơn-vị nguyên-thủy chẳng có thể lại phân chia ra được.
Nguyên nhân của những chỗ kiến thức sai lầm nầy chủ trương, Phật giáo gọi là nhân bất bình đẳng. Nguyên nhân của luận nhân-duyên hòa-hợp là nhân bình đẳng. Vì nếu quả của thượng đế là nhân để sanh thành ra vạn vật, thì thượng đế tất nhiên cũng chỉ là quả của một thứ nhân duyên nào đó sanh thành ra vậy thôi. Nguyên-tử thì cũng như thế. Hiện tại đã chứng minh trong nguyên-tử có hạt nhân (nucléaire) và điện tử (électron). Trong hạt nhân nguyên-tử lại có chất-tử (proton) và trung-tử (neutron). Chất-tử, trung-tử lại có thể phá vỡ ra mà biến thành năng-lực cứ xoay vần như thế mãi mãi rốt cuộc không bao giờ cùng tận. Cho nên nói thượng đế là chân thường tức là trái với khoa học, mà cũng là trái với Phật-pháp.
Theo lý-luận nhân duyên hòa hợp này thành lập nên luật nhân quả mà người đời nay đều biết, như chỗ bảo "Trồng dưa thì được dưa, trồng đậu thì được đậu". Suy ra đến lý nhân-sinh thì thành ra thuyết "Trồng nhân lành thì được quả lành, trồng nhân dữ thì được quả dữ". Lý luận nầy của Phật-giáo ở Trung-quốc tuyên-truyền rất rộng và rất ăn sâu vào trong dân chúng, ngay đến kẻ chẳng phải là tín đồ Phật-giáo cũng có sự tín-ngưỡng nầy. Lý luận trên theo duy-thức-học mà giảng giải thì rất dễ hiểu, vì duy-thức-học là một học thuyết tâm vật kết cấu, học thuyết này nhà tâm lý học hiện đại còn chưa theo kịp.
Duy thức học phân-tích thành phần các thứ "Tâm" rất là kỹ lưỡng chẳng kém nhà hóa-học phân tích thành phần của vật chất. Ở trên hóa-học chúng ta được rất nhiều công-thức, tóm lại thì chẳng ngoài vật hóa-hợp của chín mươi hai thứ nguyên-chất. Nhà duy thức học thì có thể bày tỏ trong một động tác nào của chúng ta nó dắt dẫn bao nhiêu phiền não của tâm vương, tâm sở, chẳng ngoài một trăm pháp (Xin đọc thêm cuốn Bách pháp minh môn luận thì mới hiểu thấu được những thuật ngữ của môn học nầy). Cho nên duy-thức-học là "Tâm lý hóa-học". Ở đây tôi thành thật khẩn thiết khuyên các nhà tâm lý học nước ta bớt chút thì giờ đọc cuốn Duy-thức-học , thì nhứt định họ có thể mở rộng thêm tầm hiểu biết của họ ra.
Theo duy-thức-học mà giảng, thì mỗi sự móng tâm, động niệm của chúng ta là ở trong ruộng của tâm thức đã gieo xuống một hạt giống rồi. Hạt giống nầy liền biết nảy nở mọc lớn thành ra thân thể, khí-quan của sinh vật và hoàn cảnh chung quanh mình. Hạt giống lành liền sanh ra sinh vật khí-quan cao-đẳng, và hoàn cảnh tốt đẹp, nhưng hạt giống dữ thì trái lại. Đem khoa học ra mà phán đoán, từ một ý niệm mờ mịt chuyển biến làm ra vật chất hữu hình, thử hỏi khả năng nầy có hay là không? Tôi cho là có. Như trên tôi đã chẳng nghiên-cứu đến sự quan hệ của vật chất với năng lực, động, thời gian, không gian, rồi ư? Không gian, thời gian, và động (hoặc tốc độ), ba cái đó thực là yếu tố làm thành ra năng lực và vật chất, ở trong sách Bách-Pháp gọi là: Phương, thời, thế-tốc, chẳng qua là tên gọi xưa và nay khác nhau mà thôi. Phương, thời, thế-tốc đã liệt vào trong 24 thứ tâm bất tương ứng hành pháp. Chỗ bảo tâm bất tương ứng hành pháp là chẳng phải chỉ tương ứng riêng với tâm pháp, tất nhiên phải đợi tâm và sắc đối nhau sau mới thành hình. Chúng ta đối với vật chất, khi nổi lên một niệm gì là lúc tâm và vật đối nhau, thì liền có thời, phương, thế-tốc (thời-gian, không gian, tốc-độ) theo đó mà nổi dậy. Đã có thời-gian, không-gian thì liền có tốc-độ, tốc độ cùng với vật-chất hòa hợp nhau mà thành ra lực (Force F=Ma=MPt2). Lực cùng với không-gian hòa-hợp thì có năng (Energy E=Fd). Có năng tức là có vật chất. Vật chất nầy cùng với tâm niệm đối nhau lại tạo thành ra vật chất mới. Tóm lại vật lý học hiện nay chứng thật vật-chất và năng-lực có thể biến đổi lẫn nhau, chẳng riêng đem năng lực và vật chất sắp đặt làm một thứ, lại cũng có thể khiến cho tâm và vật chất dung-thông làm một thể. Vật-chất đã cùng với thời-gian và không-gian phát sinh ra sự quan-hệ mật thiết (Cựu vật-lý-học thì cho là vật-chất không quan hệ gì với thời-gian và không-gian). Mà thời gian và không gian lại là sự liên hệ của tâm và vật, nên tâm và vật có ý nghĩa đồng sống chết, cùng còn mất. Sở dĩ hễ một niệm nổi dậy thì thời-gian, không-gian, động, lực, năng, chất cũng theo đó mà nổi dậy. Do đó mà chứng minh, thì nếu tâm động, niệm nổi dậy, đích xác là có thể tạo thành ra hoàn cảnh và thân thể khí quan tức là vật-chất. Đến như thứ tâm niệm nào tạo nên thứ vật-chất nào, trải qua thứ trình độ nào, thì giới vật-lý-học hiện nay còn chưa thực-hành thí nghiệm nổi, nên chưa dám đoán bậy. Tương lai đợi phương pháp năng-lực và vật-chất biến đổi lẫn nhau công bố xong, thì tự nó có đáp án đích xác.
Phật dạy: Thiên đường, địa ngục, người, quỷ, bàng-sinh đều do tâm tạo, hết thảy thiện-ác tội-phước đều là chúng sinh tự mình làm tự mình chịu, chẳng phải thượng đế, thiên-thần có thể ban phước hay làm tội mình được. Như câu: Ví như trăm ngàn kiếp, nghiệp mình làm chẳng mất, lúc nhân duyên gặp gỡ, quả báo lại tự mình chịu lấy = "Giả sử bách niên kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên hội hợp thời, quả báo hoàn tự thụ". Luật nhân-quả nầy của Phật đã ăn sâu vào tâm con người nay được sự nâng đỡ ủng-hộ của khoa-học hiện đại thì chẳng còn là chỗ mê tín của kẻ ngu dốt nữa.
d)- Ba Tự Tánh
Phật dạy hết thảy pháp tướng trên thế-gian này có thể chia ra làm ba thứ tự tính:
1)- Tính biến kế sở chấp.
2)- Tính y tha khởi.
3)- Tính viên thành thực.
Tính y-tha-khởi là nhân duyên hòa-hợp của tự thân hết thảy sự vật nương nhờ các sự vật khác mà bắt đầu có. Như một sự vật A ắt do những nhân duyên hòa hợp của sự vật B, C, D, khác mà thành. Nếu chúng ta ở trên những sự vật A, B này làm bao nhiêu sự đo lường phân-biệt chủ-quan, rồi sanh ra bao nhiêu ý-kiến, hoặc thành lập ra bao nhiêu học thuyết, đó gọi là "tính biến kế sở chấp". Nếu ở trên tính y tha khởi ta chẳng làm sự phân biệt chủ quan này, chỉ còn có lý sự khách quan, đó gọi là "tính viên thành thực". Đem khoa học ra mà giảng, thì tính y tha khởi là sự lý khách quan. Ví dụ như do sự quan hệ của thời-gian và không-gian mà thành lập quan niệm của "động" do sự vận động của chất và lượng mà thành lập quan niệm của "lực", lại do sự quan hệ của lực và không gian mà thành lập quan niệm của "năng"; đó đều là tính tha khởi. Nếu theo trên phương diện năng-lực đó làm một thứ đo lường phân biệt rồi nói rằng năng-lực là thường trú bất diệt, mà lập nên luật năng lực bất diệt, thì luật này chẳng phải là chân-lý nhất định có thể tin được. Sau khi giới khoa-học hiện đại đem năng-lực và vật chất dung thông nhau, thì đã có thể biết rằng: Năng lực có thể tiêu diệt đi mà biến làm "chẳng phải năng lực", nên định luật nầy đã chẳng còn thích hợp nữa. Phật học cũng chẳng phản đối sự tồn tại của sự vật khách quan, cho nên nói tính y-tha-khởi là có, nhưng nó có cái chân, cái vọng khác nhau. Còn đối với sự đo lường phân biệt chủ quan, hoặc những học thuyết thành lập nên phép quy nạp chẳng hoàn toàn, thì đều cho hết thảy là không có, ví như lông rùa, sừng thỏ, thuần là viễn-tưởng mà thôi. Người Phật-giáo chỉ chấp nhận sự thật một cách khách quan, hiểu rõ lý y-tha duyên-sinh của nó, chẳng nổi dậy sự vọng tưởng phân biệt, đó gọi là tính viên-thành thực.
Những trí-thức mà giới khoa-học tự nhiên dùng phép diễn-dịch và phép quy-nạp (trừ phép quy-nạp không được hoàn-thiện) tìm tòi ra được, tôi cũng công nhận đó đều là "tính y-tha khởi" đều có thể tin được. Như sự thành lập của môn toán học là dùng phép diễn dịch đem mấy thứ lý luận đã biết sẵn mà mọi người đều công nhận, suy rộng ra để biết được bao nhiêu thứ quan hệ mà mình chưa biết, đó là "tính y-tha khởi". Lại như dùng phương pháp thống-kê, từ rất nhiều sự thực quy nạp ra một cái lý luận, đó cũng là "tính y-tha khởi". Nhưng nếu dùng phép quy-nạp chẳng hoàn thiện, chỉ đem riêng một bộ phận ra lập luận, đã làm mất cái chân tướng của sự thật đi, lại thêm sự tính toán tầm bậy của chủ-quan, là "tính biến kế sở chấp". Ví như ông Đác-Vanh (Darwin) chỉ nhìn thấy sự cạnh-tranh sinh tồn của một bộ phận loài động vật, mà chẳng nhìn thấy sự sinh hoạt hỗ-trợ của loài động-vật, bèn nhắm mắt sáng lập ra học thuyết "Cạnh tranh thiên diễn, mạnh được yếu thua" theo con mắt nhà Phật xem thì những thuyết nầy đều là tính biến kế sở chấp, không còn nghi ngờ gì nữa. Lại như duy-vật sử quan của Các-mác, ông ta chỉ nhìn thấy sự chân-thường của vật-chất, mà chẳng nhìn thấy vật-chất có thể tiêu diệt mà biến ra quan niệm thời-gian, không gian, liền nhận lầm là hết thảy hiện-tượng của tinh-thần đều bị vật-chất chi-phối. Ông ta có biết đâu từ sau khi bom nguyên-tử nổ tung ra, thì toàn thể nhân loại trên thế-giới đều hiểu rằng vật-chất chẳng phải là chân-thường. Thuyết duy-vật sử-quan của ông ta đã bị bom nguyên-tử phủ định rồi. Lại như duy-vật biện-chứng pháp của Các-mác cũng chỉ nhìn thấy mấy thứ vật lý biến hóa mà đã vội thành lập nên những định luật biến đổi về chất, mâu thuẫn, thống nhất, và sự phủ-định trong phủ-định mà chưa nhìn thấy bản thể chân như là tùy duyên mà chẳng biến, chẳng biến mà vẫn tùy duyên, lìa xa hẳn hai thứ biên kiến, chẳng còn bị phủ-định nữa. Đem ngay vật lý biến hóa ra mà bàn, thì cũng chẳng phải hết thảy sự biến hóa đều từ lượng biến ra chất, mà sự biến hóa từ chất ra lượng cũng có. Đến như mâu-thuẫn hay không mâu-thuẫn lại ròng là chủ quan. Nên chỗ ông ấy cho là mâu-thuẫn lại là chỗ tôi cho là sự vô ngại, cho nên thứ học thuyết này chẳng những là tà-chấp biến kế, thực ra nó giống với học thuyết của ma!
Khoa học tự nhiên thuần chính thì tuyệt nhiên không có sự thấy lệch lạc chủ-quan. Ông Nưu-tông quyết chẳng phải vì bị ông Anh-tanh sửa đổi lại luật "Vạn hữu dẫn" của mình mà nổi dậy tướng nhân, ngã mà sanh ra lòng sân. Nếu nhà khoa học thực có thể đối với tất cả hiện tượng tự-nhiên, hiểu rõ lý chân như của nó, không dối trá, không xuyên-tạc, như thế thì liền được "tính viên thành thực" của các pháp. Nếu suy ra đến sự sanh-hoạt thực tế của cá nhân, thì thành Phật đâu phải là việc khó. Vậy nên tôi tin chắc rằng tinh-thần của khoa-học rất gần với Phật-pháp, mà nhà khoa-học là kẻ có thể tuyên dương Phật-lý.