BUDDHA HOME

KINH & SÁCH

 

  KINH KIM-QUANG-MINH

Dịch giả

THÍCH THIỆN TRÌ

 

LỜI NGƯỜI DỊCH

 

Sự thuyết giáo cuœa đức Phật đều căn cứ theo THỂ TƯỚNG DỤNG cuœa baœn thể nhân sanh và vũ trụ mà thiết lập, nên ba chữ danh đề KIM QUANG MINH cũng có nghĩa là THỂ TƯỚNG DỤNG.

Thể tánh cuœa chúng sanh vốn kiên cố bất hoại, như kim cương, thường tồn không biến đổi, sáng suốt chiếu soi, tại Thánh không tăng, tại Phàm không giaœm. Đó là nghĩa KIM QUANG MINH.

Nhưng chúng sanh không thể nhận và sống theo baœn tánh ấy, đành trôi lăn theo dòng luân hồi sanh tưœ mãi, quên mất baœn tánh thường tồn và sáng suốt cuœa tự mình sẵn có. Phật vì thương xót chúng sanh và chính Ngài cũng từ trong dòng luân lưu cuœa chúng sanh ấy mà vượt thoát, bằng vào công phu tích công lũy đức, thật tu thật chứng mà nhận thấy rõ nguyên nhân lưu chuyển sanh tưœ cuœa chúng sanh, đồng thời trao cho chúng sanh chìa khóa để mơœ cưœa và dẫn nhập kho tàng bí mật thậm thâm cuœa pháp tánh. Ấy là mật nghĩa cuœa kinh KIM QUANG MINH.

Xét về ngũ thời giáo thì kinh KIM QUANG MINH thuộc về ĐẠI THỪA VIÊN ĐỐN nên được gọi là Mãn tự giáo.

Kinh KIM QUANG MINH là một bộ kinh bí mật thậm thâm không thể nghĩ bàn. Điểm chính là nói về bổn hạnh sâu xa cuœa chư Phật và các vị Đại Bồ Tát, đồng thời Phật khaœi phát lý vi diệu nhiệm mầu cuœa Pháp tánh để chỉ mê khaœi ngộ. Như phẩm TỰA đã giới thiệu cho chúng ta biết, khi Phật thuyết kinh nầy là Ngài "nhập Pháp tánh thậm thâm vô lượng, bổn hạnh cuœa chư Phật và các công hạnh thanh tịnh cuœa các vị Đại Bồ Tát đã từng tu hành," mà tự giới thiệu pháp môn Phật sắp thuyết bằng lối trực khơœi: "LÀ KIM QUANG MINH VUA TRONG CÁC KINH." Đây chính là pháp môn mầu nhiệm "vô vấn tự thuyết," chứ không như nhiều kinh khác là có một vị Bồ Tát đương cơ đại điện chúng hội để khaœi thỉnh.

Điều đáng lưu ý, về địa điểm thuyết kinh nầy là tại núi Kỳ Xà Quật thành Vương xá. Chính nơi đây đức Phật đã thuyết kinh Pháp Hoa, một bộ kinh cao siêu mầu nhiệm vô cùng, mà hầu hết quý vị đều nghe biết... Vì vậy cho nên kinh nầy có nhiều điểm tương đồng với kinh Pháp Hoa, như phẩm THỌ KÝ, phẩm THỌ LƯỢNG. Lại nữa, ơœ đoạn hiện Baœo tháp trong phẩm XAŒ THÂN cũng giống như kinh Pháp Hoa, nhưng khác nhau ơœ chỗ kinh Pháp Hoa là Baœo tháp cuœa đức Phật Đa Baœo, kinh nầy là Baœo tháp Xá lợi tiền thân cuœa đức Phật Thích Ca. Baœo tháp ơœ kinh Pháp Hoa là nói về "Quaœ địa Phật," còn Baœo tháp kinh nầy là thâm ý khai thị về "Nhơn địa Phật," mà đặc biệt Phật chú trọng về "Nhơn địa giác," nên Phật đã tự thân lễ bái tháp Xá lợi tiền thân, còn ơœ kinh Pháp Hoa thì đức Phật Đa Baœo phân nưœa tòa đồng ngồi. Nhưng mật ý cuœa Phật ơœ hai kinh, dù là "Tự Phật," hay "Tha Phật," "Nhơn Địa Phật," hay "Quaœ Địa Phật" cũng đều là "bình đẳng hỗ tương tuyên dương pháp sự khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến" là baœn nguyện hoằng thâm cuœa chư Phật vậy.

Xét theo mười hai bộ loại trong kinh giáo cuœa Phật thuyết thì kinh nầy rất đầy đuœ vừa Trường hàng, vừa Kệ tụng, Cô khơœi, Bổn sanh, Bổn sự, Vị tằng hữu, Vô vấn tự thuyết, Thọ ký v.v... Lại vừa hiển ngôn, vừa mật chú mà quí vị đi sâu vào sẽ thấy rõ.

Vì là kinh Đại thừa bổn hạnh cuœa chư Phật, Bồ Tát, nên phần nhiều được gián tiếp hoặc trực tiếp thuyết minh về hạnh lục độ, tương đồng với kinh Lục Ba La Mật. Lại nữa, phối hợp kinh nầy với mười hạnh nguyện vương cuœa đức Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát trong kinh Hoa Nghiêm, từ "Lễ kính chư Phật, xưng tán Như Lai cho đến Phổ giai hồi hướng," đối chiếu đều rất tương đồng.

Về sự truyền thừa thì sau khi Phật thuyết, ngài A Nan, kết tập và lưu truyền mãi cho đến ngày nay, hầu hết các nước thuộc Đại thừa Phật giáo đều có lưu hành, và đã có rất nhiều nhà phiên dịch chú giaœi. Như ơœ Trung Hoa đời Bắc Lương có ngài Tam Tạng pháp sư Đàm Vô Sấm (Dharmarkasa) dịch từ Phạn ngữ sang Hoa ngữ, đời Tùy (589-618) ngài Trí Khaœi (538-597) tạo bộ Kim Quang Minh Huyền Nghĩa (1 quyển), và Kim Quang Minh Văn Cú (6 quyển); cũng đời Tùy, ngài Cát Tạng (tức Gia Tường là sơ tổ hoằng truyền Pháp Tánh tôn ơœ Trung Hoa) tạo bộ Kim Quang Minh Sớ (1 quyển). Đời Tống (960-1279) ngài Tri Lễ (960-1028) tạo bộ Kim Quang Minh Huyền nghĩa Thập Di Ký (6 quyển) và Kim Quang Minh Văn Cú Ký (12 quyển). Ngoài ra chưa kể các nước khác và rất nhiều nhà giaœng giaœi hoằng truyền. Riêng ơœ Việt Nam, hồi đầu thế kyœ nầy (20) được các bậc tôn túc Hòa thượng lưu tâm san khắc (baœn chữ Hán) phổ biến. Như Hòa thượng Hoằng Phúc (Tổ đình Thiên Ấn Quaœng Ngãi), với sự chứng minh và hộ niệm cuœa các Ngài như Hòa thượng Vĩnh Gia (Tổ đình Phước Lâm Quaœng Nam), Hòa thượng Phước Huệ (Tổ đình Thập Tháp Bình Định), Hòa thượng Tâm Tịnh Tây Thiên, Hòa thượng Huệ Pháp Thiên Hưng, Hòa thượng Trí Tuệ Tường Vân, Hòa thượng Phước Như Kim Quang, Hòa thượng Viên Thành Ba La, Hòa thượng Chí Thanh Duy Tôn, Hòa thượng Giác Viên Thệ Đa Lâm, Hòa thượng Huệ Minh Từ Hiếu (Huế), cùng các Phật tưœ góp phần công đức san khắc lưu thông.

Kinh nầy là một bộ kinh chuyên dụng trong mật tôn rất được thạnh hành, đồng với các kinh như: Đại Nhật, Kim Cang Đaœnh, Du Kỳ, Tô Tất Địa, Lục Ba La Mật, Thuœ Lăng Nghiêm v.v...

Nói đến thần lực hiệu nghiệm và sự lợi ích mầu nhiệm thực tế thì kinh nầy là phương thần dược cứu đời, nhất là trong tình trạng cuœa chúng ta hiện tại, kinh nầy như một tấm gương sáng lớn, phaœn chiếu cho ta thấy rõ từ nguyên nhân đến hậu quaœ một cách trọn vẹn.

Kinh nầy không những dành riêng cho một hạng người nào, mà là cho tất caœ mọi giới, mọi phạm vi, mọi hoàn caœnh đều được cần đến.

Kinh nầy là viên baœo châu như ý đối với những người có trách nhiệm lãnh đạo quốc gia, muốn cho nước trị, dân an, cũng như những người làm bổn phận đại diện cho dân, cần phaœi hết lòng trân trọng.

Kinh nầy là sách thuốc gia truyền đối với các bậc lương y.

Kinh nầy là kho tàng trân baœo đối với những người đang bị nghèo thiếu.

Kinh nầy là tư lương cuœa các vị Bồ Tát vì công hạnh lợi tha.

Kinh nầy là cánh cưœa hòa bình mơœ rộng cho thế giới nhân loại... Nói tóm lại, kinh nầy có thần lực không thể nghĩ bàn, đem lại sự phong nhiêu thạnh trị cho quốc gia, dân tộc, nếu chúng ta biết sưœ dụng.

Vì thấy những sự cao siêu mầu nhiệm ấy, và từ lâu tôi được thiện duyên nghe các bậc trươœng lão kể lại thần lực linh nghiệm cuœa kinh nầy, nên để tâm nghiên cứu, đọc tụng và mùa hạ năm Kyœ Dậu (1969) tôi đã dịch và chú thích xong. Nay đầy đuœ thiện duyên, được sự khích lệ cuœa quí Ngài, và các Phật tưœ góp phần công đức để cho baœn kinh này được phổ biến, hầu mong Pháp baœo lưu thông, mọi người triêm phần lợi lạc.

Toàn bộ kinh nầy gồm 4 quyển, 19 phẩm, nay tôi cho in chung trọn bộ một quyển. Về văn dịch, tôi cố gắng dịch theo lối văn đọc bốn chữ và dùng những âm vận không quá trắc để dễ đọc tụng. Vì vậy không tránh khoœi những chỗ vụng về, khiếm khuyết, mong Chư Tôn Hiền Đức chỉ giáo và bổ khuyết cho, để baœn kinh sau nầy được thập phần hoàn haœo.

Mong tất caœ các Phật tưœ, lưu tâm đọc tụng, nghiên cứu và phổ biến rộng rãi, để đem lại sự lợi lạc cho mình, cho người, hầu đền đáp bốn ơn và cứu giúp chúng sanh trong muôn một.

Nguyện hồi hướng công đức cho tất caœ pháp giới chúng sanh đồng sớm thành Phật đạo.

Linh Quang Huế

Xuân Tân Hợi

Dịch giaœ cẩn đề.