CHÌA KHÓA ĐẠI GIÁC NGỘ
TRI ÂN
CHÌA KHÓA ĐẠI GIÁC NGỘ đặt căn bản trên hai khóa thiền do Hòa Thượng Geshe Tsultim Gyeltsen thuyết giảng cho các đệ tử của Thubten Dhargye Ling, như yếu giải hai nguyên bản kinh văn cổ điển: LUYỆN TÂM BÁT ĐOẠN của Kadam Geshe Langri Tangpa và TAM THẬP THẤT BỒ TÁT HÀNH của Bodhisattva Togmey Zangpo.
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ Lobsang Gyaltsan đã đóng góp khả năng và sự tận tụy tuyệt vời trong việc chuyển dịch lời thuyết giảng của tác giả từ Tạng văn sang Anh văn trong các khóa thiền đầu tiên.
Các luận giảng sau đó được Gary Schlageter và Karen Gudmundson ghi chép và tái duyệt. Dưới sự trông nom của Robert Stone, các văn bản trên được hiệu đính và nhuận sắc với sự trợ lực của Pat Aiello, Paul McClelland, Nancy Nason, và các người khác. Bản thảo duyệt lại được phối kiểm cùng tác giả để rõ ràng và hoàn chỉnh hơn. Việc hoàn tất bản thảo cuối cùng được thực hiện do Pat Aiello, Karen Gudmundson, Gary Schlageter, và Robert Stone. Trình bày do Mooky Ben-David thực hiện rất khéo léo. Ấn loát do Pat và Gabriel Aiello đảm trách, với đầy lòng hảo tâm và tận tụy.
Trên tất cả, xin chân thành tri ân tác giả, Hòa Thượng Geshe Tsultim Gyeltsen, với lòng từ đã thuyết giảng và quản lý đề án này. Nguyện quyển sách này thực hiện trọn mục tiêu cung ứng cho chư tu sinh muốn học Phật giáo các chỉ dẫn thực tiễn hầu dấn thân trên Bồ tát đạo.
GHI CHÚ KỸ THUẬT
Các luận giảng này đặt tiêu điểm vào sự áp dụng thực tiễn, chứ không phải triển khai một tác phẩm học viện. Do đó, các chi tiết kỹ thuật giảm xuống tối thiểu. Các danh từ riêng Tạng ngữ được viết bằng ngữ âm giản dị hầu thuận tiện cho độc giả.
Các từ Bắc Phạn (Sanskrit), viết không có dấu âm tiêu, nhưng để giúp cho việc phát âm, có khi thêm vào chữ "h", như trong trường hợp chữ bodhichitta hoặc shunyata.
Chữ nghiêng dùng để chỉ các câu nguyên bản, trích dẫn, tựa đề của văn bản, và vài từ ngữ ngoại quốc.
Việc chuyển ngữ tác phẩm này cố giữ thật sát nguyên tác Anh văn. Những chữ nằm trong hai ngoặc [.....] trong suốt quyển sách là ghi chú thêm của người dịch bằng các thuật ngữ Phật học Hán-Việt, hầu làm sáng tỏ hoặc mạch lạc hơn.
Các danh từ riêng, danh hiệu của chư Phật, Bồ tát, và chư Cổ đức, Tổ sư và Đại sư, được chuyển âm sang Việt ngữ dựa theo các Từ điển Phật học Hán-Việt phổ thông như: Phật học Từ điển của Đoàn Trung Còn, Từ điển Phật học Hán-Việt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam... Một số danh từ riêng Tạng ngữ chưa được ghi trong các từ điển Việt Nam, sẽ được ghi nguyên ngữ âm Anh văn.
Để tiện việc tham khảo của độc giả, ngữ âm Anh Phạn (Hybrid Sanskrit) sẽ được kèm theo, cũng như sơ lược về tiểu sử của chư vị Thánh giả và Đạo sư được trình bày trong Phần Chú thích các Thuật ngữ. Phần Thuật ngữ và Thư mục được thực hiện vào cuối quyển sách, với đối chiếu Anh-Phạn-Việt, hầu giúp độc giả muốn tra cứu thêm các dữ kiện căn bản.
Việc chuyển Việt ngữ trong chủ đề các pháp môn thuộc Phật giáo Tây tạng, vào thời điểm này, tương đối đặc biệt và mới mẻ, nên cách sử dụng thuật ngữ khá phức tạp, với nhiều từ mới. Tuy người dịch nỗ lực trong tinh thần phục vụ Phật Pháp, nhưng khó tránh khỏi sơ xuất. Rất mong các bậc cao minh thiện trí bi mẫn bổ chính.
Cẩn bút
LINH THỤY
California, U.S.A. 23/12/2000
ĐỀ TỪ
Tất cả mọi người đều mong cầu hạnh phúc và an vui, nhưng bởi một số lý do, nhiều lần chúng ta khổ trong các vấn đề tái lập, đau đớn, ẩn ức, và lo lắng. Cho dù chúng ta có nhiều tiện nghi tân tiến khiến đời sống hiện đại dễ dàng hơn, nhiều người trong chúng ta thường đặt tiêu điểm vào lạc thú tức thời, và không ý thức đến tổn hại cùng kết quả khổ đau của những gì tưởng chừng mang đến hạnh phúc cho ta. Lấy thí dụ, khi mua căn nhà mới, người ta thường kinh nghiệm niềm vui vào lúc mới mua. Nhưng chẳng bao lâu niềm vui đó chuyển thành lo lắng về tiền trả góp hàng tháng, trộm cướp và sửa sang tốn kém. Thí dụ này nói lên sự thật là hầu hết các đồ vật tạo tác nhằm mang hạnh phúc, thay vì vậy, chỉ biến thành đau khổ và phiền não.
Nhằm đạt chân hạnh phúc, thật ra chúng ta cần diệt nhân duyên khổ. Hai ngàn năm trăm năm trước, đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đưa ra các pháp môn hướng dẫn người ta tìm chân an bình và thiết lập một trạng thái hoàn toàn tự do. Đặt trên nền tảng từ bi và trí tuệ, ý niệm đàng sau các phương pháp là nhằm lợi lạc cho cả những người tu tập, và người khác tiếp xúc cùng họ.
Những pháp thiền quán và tu tập mô tả trong các luận yếu giải về "Luyện Tâm Bát Đoạn" và "Tam Thập Thất Bồ Tát Hành", do Hòa Thượng Geshe Tsultim Gyeltsen từ bi ban phát, mô tả hai hành động chính (tích lũy công đức và tịnh hóa ác nghiệp) mà chúng ta phải làm hầu đạt an bình và phúc lạc dài lâu.
"Luyện Tâm Bát Đoạn" tuy giản dị nhưng sâu sắc. Các đoạn kệ này nhấn mạnh đến sinh hoạt hàng ngày kết thành một tiêu điểm hầu mang đến sự chuyển hóa niệm tưởng thiện lành. Vài tiêu đề trong "Luyện Tâm Bát Đoạn" gồm có: Cầu giác ngộ độ tha và ái tha; Nhìn người như tối thượng; Ngăn ngừa ảo cấu; Thân quý người khó khăn; Chấp nhận thua bại; và Xem kẻ hại ta như thầy.
Luận giải thứ nhì, "Tam Thập Thất Bồ Tát Hành" mô tả các hành động thực tế của một hữu tình (một vị Bồ tát) đang đi trên đạo lộ đến Đại Giác Ngộ. Khi học theo các hành của chư vị, các ác nghiệp sẽ được tịnh hóa và công đức được tích lũy. Chúng ta sẽ trở nên tương tự một vị Bồ tát, và dần dà hóa thành một vị Bồ tát.
Các kinh văn này có thể đưa vào thực hành ngay hôm nay. Với nghiên cứu liên tục và áp dụng những điều chúng ta học, các lối sống ích kỷ vô vị sẽ thay thế bằng ý, ngữ, hành được soi sáng, đặt căn bản trên từ và bi dành cho tha nhân. Kết quả các tu tập này thật sự lợi lạc cho chúng ta cũng như người khác.
Kết quả hữu ích của tu tập không nhất thiết phải hiển thị, mà giống như nước nhỏ giọt xuống tảng đá, các thiện hành sẽ ấn dấu vào sự an bình và thanh tịnh gia tăng dần.
Chúng con xin tri ân Hòa Thượng Geshe Tsultim Gyeltsen đã trình bày các yếu giải này một cách thật thực tiễn. Qua chính tấm gương của ngài, đã cho phép chúng con đạt đến hạnh phúc lâu dài cho chính mình và người khác.
Với nguyện xin tất cả độc giả quyển sách này đều thọ nhận được phúc lạc từ các yếu giải như chúng tôi.
THUBTEN DHARGYE LING
DẪN NHẬP
Có hai điều chánh người ta phải làm hầu đắc thành Phật quả lợi lạc trọn chúng sanh. Đó là tịnh hóa tất cả mọi ác nghiệp và tích lũy các công đức cần thiết. Để làm điều đó, trước tiên chúng ta phải vun trồng bồ đề tâm ("bodhichitta") tương đối và bồ đề tâm tuyệt đối. Bồ đề tâm tương đối là cảm nguyện đắc Đại Giác ngộ hầu lợi lạc trọn chúng sanh. Bồ đề tâm tuyệt đối là sự thức giác chứng nghiệm rằng mọi hiện tượng tự chúng vốn rỗng rang hiện hữu chân thật [chứng ngộ vạn cảnh giai không phi chân hữu].
Hai thứ bồ đề tâm đó mở khóa cửa vào đạo Đại thừa.
Nhằm sở đắc hai loại bồ đề tâm, người ta cần đến các giáo pháp thích đáng. Mục tiêu của quyển sách này là hướng dẫn tu sinh trước hết triển khai bồ đề tâm, rồi đạt đến Đại Giác ngộ.
Yếu giải về "Luyện Tâm Bát Đoạn" giải thích các phương pháp triển khai hai bồ đề tâm. Sau khi đạt đến bồ đề tâm một cách thích đáng, người ta cần phải dấn thân vào các hành của Bồ tát.
Do đó, yếu giải thứ nhì, "Tam Thập Thất Bồ Tát Hành", đặt tiêu điểm vào phương thức trở thành Bồ tát qua việc tu tập các pháp đề xướng qua ba mươi bảy đoạn kệ.
Sau nhiều thỉnh cầu liên tục của các đệ tử, tôi thuyết luận giảng về các kinh văn quý báu này vào năm 1988. Tôi rất cảm ơn Lobsang Gyaltsan, một thông dịch viên tài ba, với khả năng chuyển dịch các thuyết giảng kinh văn của tôi từ Tạng văn sang Anh văn.
Sau các khóa ẩn tu, chúng đệ tử tham dự thỉnh cầu các giáo pháp được soạn sẵn cho việc tu học. Tôi cảm thấy các pháp giảng này chẳng những hữu ích cho đệ tử khóa tu, mà còn lợi lạc cho bất kỳ ai chân thành tha thiết muốn học Pháp.
Tôi khuyến tấn quý vị tu học nghiêm túc nên đọc các yếu giải này thật chậm. Suy ngẫm các điều được giảng, và thật sự dành thì giờ chiêm quán về ý nghĩa. Rồi thiền định, sao cho ý nghĩa ngôn tự trở thành chứng nghiệm cho chính bản thân. Thêm vào đó, phối kiểm cùng chính bổn sư của quý vị hầu nhận thêm giải thích về các chủ đề này. Điều này sẽ cho phép quý vị nội nhập cùng ý nghĩa của cả hai kinh văn.
Những ai muốn phổ độ chúng sanh bất phân biệt phải đắc thành Phật quả. Hầu đắc Phật quả, phải hoàn tất mọi hành của Bồ tát. Để làm được điều đó, người ta phải trở thành Bồ tát. Muốn trở thành Bồ tát, phải có bồ đề tâm. Như thế, tu tập triển khai bồ đề tâm là chìa khóa mở cửa vào Bồ tát Đạo và thành tựu mọi kết quả tiếp nối. Hai thứ bồ đề tâm là chìa khóa của cả đạo lộ kinh văn [hiển pháp] và đạo lộ mật tu [mật pháp]. Do đó, quyển sách này được mang tựa đề là "Chìa khóa Đại Giác ngộ."
Những ai vọng cầu đi vào tòa lâu đài của Đại thừa Kinh và Mật sẽ cần nhận được chìa khóa của bồ đề tâm và Bồ tát hành. Nguyện cho quý vị chóng đắc cả hai hầu lợi lạc trọn chúng sanh.
GESHE TSULTIM GYELTSEN
Thubten Dhargye LingLos Angeles, 5/1989