CHÌA KHÓA ĐẠI GIÁC NGỘ
PHỤ BẢN
THIỀN PHÁP TONG-LEN
NĂM LOẠI PHÁP TONG-LEN
1. Bình đẳng giữa Ngã và Tha
Đề mục đầu tiên để quán chiếu là chúng ta tất cả đều bình đẳng.
Khi nói chúng ta bình đẳng, không có nghĩa chúng ta có cùng bề ngoài, tầm vóc, hay thể lực. Như được giải thích trong Cúng Dường Đạo Sư (Guru Puja - Lama Chopa), tất cả chúng sanh đều bình đẳng trong sự kiện chúng ta đều không ưa thích cho dù chút đau khổ nhỏ nhặt, và chúng ta có một ước vọng hạnh phúc không sao thỏa mãn. Càng nhiều được hạnh phúc, chúng ta lại càng tham muốn hơn. Nhận biết thế, chúng ta phải có đồng mối quan tâm và quý mến đối với tha nhân cũng như dành cho bản thân.
Khi bắt đầu tu tập này, chúng ta trước tiên có thể khởi sự với người phối ngẫu, bạn hữu, hoặc bất cứ ai ta chung sống. Nếu có thể quân bình mối quan tâm dành cho những người này ngang với dành cho chính ta, tất ta có thể mở rộng vòng đai dần đến bạn hàng xóm, rồi các người tiếp cận, và cứ thế.
2. Bất lợi của Ái ngã
Đề mục thứ nhì là sự bất lợi của lòng vị kỷ. Chúng ta cần đi đến nhận thức rằng, tất cả đau khổ và mọi điều ta không thích đều khởi từ sự ích kỷ hoặc ái ngã. Bởi lý do đó, trong Cúng Dường Đạo Sư (Guru Puja) sánh ái ngã với bệnh trầm kha. Thật vậy, nó còn tệ hại hơn bệnh truyền nhiễm, bởi vì nó được dùng như nguyên nhân gây ra tất cả các đau khổ và bệnh hoạn không mong muốn trong cuộc đời. Bất cứ khi nào ta kinh nghiệm sự đau khổ dưới hình thức bệnh hoạn hoặc hoàn cảnh tiêu cực, ta lại đối diện cùng sự ái ngã của chính mình và tự bảo, "Mi chịu trách nhiệm về sự đau khổ đó." Mỗi một ngày ta phải chỉ tay vào sự ái ngã đó và chấp nhận nó phải chịu trách nhiệm cho tất cả đau khổ của ta.
Sự chấp vào ngã hoặc ái ngã trở nên một trong các quái vật khổng lồ, hoặc ác ma. Ta cần ý thức chính nó là kẻ thù tệ hại nhất của ta, và nó lại sống bên trong ta. Bởi lẽ đó, ta cần làm việc và tìm phương tiện loại trừ hoặc điều phục kẻ thù này.
Trong Bồ Đề Hành Kinh (Bodhicharyatavara), ngài Tịch Thiên (Shantideva) nói, tất cả đau khổ và hiểm trở ở thế gian đều là quả của ái ngã — chỉ quan tâm đến hạnh phúc của riêng mình hoặc nhìn mình như quý báu hơn người khác. Ngược lại, ngài nói trong hai dòng cuối, rằng tất cả hạnh phúc hiện hữu ở thế gian đều là quả từ sự ái tha. Ngài nói về sự chấp ngã, "Con quái vật bên trong ta dùng vào việc gì nhỉ?"
3. Phúc lợi của Ái tha
"Tất cả hạnh phúc đều là quả của ái tha," Tịch Thiên nói. Tương tự, trong Lama Chopa, Panchen Losang Chokyi Gyeltsen bảo, "Tư tưởng ái tha và muốn đưa họ vào hạnh phúc chính là nguồn của vô lượng thành tựu và đại hạnh." Do đó, cho dù trọn cộng đồng chúng sanh chống tôi như kẻ thù, đáp lại tôi xin trân quý từng người trong trọn đời mình. Tương tự, đoạn thứ sáu nói, "Khi người tôi từng giúp đỡ với đầy hy vọng lại ngược đãi tôi nặng nề, xin tôi được xem người như vị thầy tối thượng."
Trong Luyện Tâm Thất Điểm, Geshe Chekawa nói, quán tưởng lòng tốt của tất cả chúng sanh và luôn biết ơn họ. Đi xa hơn, Tịch Thiên nói, "Không cần phải nói nhiều về ích lợi của ái tha, bởi có thể hiểu ngay khi so sánh sự vô cùng tận mà đức Phật đắc, và sự quá nhỏ nhoi do chúng ta đạt."
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khởi đầu chỉ ngang bằng các chúng sanh khác, nhưng vì Ngài có khả năng chăm lo cho người khác và triển khai bồ đề tâm, nên đắc Đại Giác ngộ. Bởi chúng ta chưa khai triển khả năng được như đức Phật, nên vẫn còn là chúng sanh không thể tiến bộ. Trong Lama Chopa có nói, "Chúng sanh tầm thường chỉ làm việc cho bản thân, trong khi chư Phật làm việc cho tha nhân." Hiểu được thí dụ đó, ta có thể đạt động cơ tu học hoán vị ngã với tha. Sự khác biệt giữa Cúng Dường Đạo Sư (Lama Chopa và Bồ Đề Hành Kinh (Bodhicharyatavara) chỉ là trong cách dùng chữ; thông điệp nền tảng chỉ là một. Nếu chúng ta cứ tiếp tục học thêm các kinh văn khác biệt là điều vô cùng hữu ích, vì được trao cho nhiều cái nhìn sự việc khác nhau và giúp ta mở rộng sự hiểu biết.
4. Hoán vị
Đề mục thứ tư là sự hoán vị thật sự giữa ngã với tha. Điều ta phải làm ở đây là thay đổi các niệm tưởng ái ngã trước đây bằng ý tưởng ái tha và bỏ quên các mối quan ngại ích kỷ. Đây là một điển hình: Nếu có hai ngọn núi và chúng ta đang ở trên một ngọn, núi đó tất nhiên về phía ta, còn núi thứ nhì thuộc về phía bên kia.
Nhưng nếu ta ở ngọn thứ nhì nhìn về ngọn thứ nhất, tất núi đó trở thành phía bên kia. Thế nên, ta phải thay đổi cứ điểm đối với những người ta trân quý nhất. Bằng cách đó, ta cần thay thế các ý tưởng ái ngã với ý tưởng ái tha.
5. Thiền Cho và Nhận
Đề mục thứ năm là pháp thiền Cho và Nhận (Tong-Len), đó là thật hành thiền quán về hành động cho và nhận. Bốn đề mục trên tạo thành nền tảng vững chắc cho việc tu tập thiền Tong-Len.
THỰC HÀNH THIỀN
Quán tưởng Công đức điền
Khi đạt được một thế ngồi thích hợp, bắt đầu quán tưởng đến công đức điền. Có rất nhiều lối quán tưởng công đức điền từ Lam Rim chúng ta có thể theo. Dưới đây là hai lối: Thứ nhất là quán tưởng mở rộng dành cho tu sinh trình độ cao. Trong khi lối quán tưởng thứ nhì được thu gọn cho tu sinh tân học hoặc hành giả trình độ cao với thời giờ hạn hẹp.
Quán tưởng Khuếch đại [Phổ quán]
Quán tưởng ngang tầm mắt, trong khoảng không trước mặt ta, là Công đức Điền (Tsog Shing). Ở trung tâm, quán tưởng một chiếc ngai khổng lồ, bên trên là chiếc ngai nhỏ hơn, và trên cao ngay giữa là đức Bổn Sư và chư Đạo sư vây quanh. Ta phải quán tưởng đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) như nhân vật chính của công đức điền. Bên phải của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ta quán tưởng đức Di Lặc (Maitreya), quanh ngài là chư lạt ma của dòng quảng hạnh, như chư lạt ma của các đạo và các tầng. Bên phải đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ta quán tưởng đức Văn Thù (Manjushri) và chư đạo sư thuộc dòng thẩm tuệ. Ở giữa, ngay phía sau Ngài là các đạo sư dòng ân độ. Trước mặt đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ta quán tưởng vị đạo sư nguyên thủy với tất cả chư đạo sư truyền thừa dần đến vị bổn sư hiện tại. Chung quanh chư vị là các Hóa thánh thiền (Yidams) của bốn lớp Mật tông.
Bởi có vô số Hóa thánh thiền, ta phải tin như toàn thể chư Hóa thánh thiền đều ngự tại đó. Ta cũng cần quán tưởng sự hiện diện của 1000 vị Phật của thời Chánh pháp, tám vị Dược Phật Dược, ba mươi lăm vị Sám Phật, vân vân. Ta có cảm giác sự hiện diện của trọn cả vô lượng chư Phật trong khoảng không trước mặt. Ngay phía dưới chư Phật, quán tưởng sự hiện diện của chư Bồ tát. Ta phải cố hết sức hình dung sao cho cảm thấy được sự hiện diện của vô lượng Bồ tát. Bên dưới chư vị, quán tưởng sự hiện diện của chư A la hán (Arhats) và chư Thánh (Aryas), và Bích chi Phật (Pratyekabuddhas) cùng Thanh văn (Shravakas). Ngay dưới chư vị, quán tưởng sự hiện diện của toàn thể chư Du già thánh giả (Dakas) và Du già thánh nữ (Dakinis), kể cả các vị thuộc cõi thượng thiên. Hàng cuối cùng được vây quanh bởi các vị Hộ pháp thần (Dharmapalas), kể cả các vị ở cõi thượng thiên như ngài Lục thủ Mahakala (Đại Hắc Thiên), Kalarupa (Hắc Sắc Thiên), vân vân. Ta phải tin tưởng thật vững chắc rằng sự hiện diện của toàn thể chư vị giống như những vì sao giữa bầu trời.
Quán tưởng Cô đọng [Đoạn quán]
Quán tưởng ngang tầm mắt cách khoảng hai cánh tay, là đức Phật ngự trên một chiếc ngai vàng lớn. Chiếc ngai này nghiêm sức bằng bảo châu và ở bốn góc có đôi tuyết sư nâng đỡ. Tọa cụ của Ngài là một hoa sen nở lớn bên trên có hai dĩa sáng — một dĩa trăng trắng và một dĩa mặt trời vàng — nằm trên nhau. Đây là ba vật biểu tượng ba thành tựu chánh của đạo Đại Giác ngộ: hoa sen, xuất ly hoặc từ bi; mặt trời, không tánh; và mặt trăng, bồ đề tâm.
Đức Phật trụ thế hoa sen (kiết già), mỉm cười tuyệt vời cùng mọi chúng sanh. Ngài khoác y vàng và tỏa kim quang. Bàn tay phải của Ngài đặt trên gối phải. Tay trái cầm một bình bát cam lộ đặt trên lòng. Cam lộ tượng trưng cho giáo pháp chữa trị mọi trạng thái tâm cấu nhiễm.
Phật nhãn từ ái, bi mẫn nhìn mỗi người chúng ta với sự chấp nhận hoàn toàn thoát khỏi mọi phê phán hoặc biệt đãi. Toàn thân Ngài tỏa rạng hào quang từ ái và siêu tuệ khởi từ tâm đến chúng ta. Các tia sáng đó phủ ngập chúng ta với sự cam đảm và sức mạnh hầu thành tựu tu tập Cho và Nhận. Điều hệ trọng cho chúng ta là giữ trong tâm sự bất phân ly cùng đức Phật và chư đạo sư.
Quán tưởng Chúng sanh điền
Sau khi quán tưởng đối tượng quy y hoặc công đức điền, cần hình dung chính cha ta ở bên phải, và chính mẹ ta ở bên trái của ta.
Ngay phía sau ta, quán tưởng tất cả thân nhân, anh chị em, và bằng hữu. Ngay trước mặt ta, hình dung các kẻ thù tệ hại nhất và những người ta không ưa thích. Trước mặt ta, cũng hình dung các con thú ta sợ, như rắn, chim, bò cạp, vân vân. Nói tóm lại, cần phải tưởng tượng thật mạnh đến toàn thể cộng đồng chúng sanh trong sáu cõi đang vây quanh mình. Nhưng ta phải quán tưởng họ tất cả dưới dạng các con người đang kinh nghiệm nội tâm những đau khổ trong cõi riêng mà họ tùy thuộc vào, chẳng hạn như địa ngục, vân vân. Đó là cách ta phải tưởng tượng về họ — tất cả đang trải qua sự đau khổ khó chịu đựng nhất của chỗ riêng, nhưng bề ngoài mang hình dạng con người. Chỉ cần nhìn thấy những người đó sẽ giúp khởi trong tâm ta một lòng từ bi mạnh mẽ. Và ngay trong tâm, ta phải phát một nguyện dũng mạnh cầu chấm dứt hết mọi khổ của họ. Hơn thế nữa, ta cần một nguyện vọng rất lớn tiêu trừ hết mọi nguyên nhân. Ta phải nghĩ, "Thật tuyệt làm sao, nếu ta có thể tiêu trừ hết ảo cấu và ác hành của họ." Khi nghĩ đến điều đó, ta triển khai lớn mạnh tâm bi mẫn (diệt khổ từ mọi người khác) và lòng từ ái (trao hạnh phúc đến cho mọi người).
QUÁN TƯỞNG LỤC ĐẠO
Lục đạo (sáu cõi) là biểu tượng của chính phiền não trong tâm ta, và quả khổ. Mỗi cõi có một mức độ khổ tương xứng với nhân duyên. Ba cõi đầu được đề cập như cõi hạ, và ba cõi sau là
thượng. Các cõi này chính là quả của nghiệp: ba cõi hạ [tam đồ] là quả của ác nghiệp. Ba cõi cao hơn là quả của thiện nghiệp. Một mô tả ngắn về sáu cõi này và vài nhân duyên chính được ghi sau đây:
1. Cõi Địa ngục
Bị áp bức nhất là sự hành hạ không thể chịu đựng của sức nóng [hỏa ngục]. Đau khổ trong hàn ngục là lạnh kinh khủng như đông đá. Một khu khác trong địa ngục người đánh người bằng vũ khí và thân bị tan nát ra ngàn mảnh. Nguyên nhân chính sa đọa địa ngục chính là thù oán và sân hận.
2. Cõi Ngạ quỷ
Ngạ quỷ phải trải qua đói và khát khủng khiếp. Nguyên nhân chính của thảm trạng đó là tham sẻn và ích kỷ.
3. Cõi Súc sanh
Các chúng sanh này khổ vì bệnh và chết, đói, khát, nóng, lạnh, thêm vào với sự sợ hãi thường xuyên bị xâu xé, và các sự ngu xuẩn quá độ. Nhân chính của sự khốn khó của chúng chính là vô minh.
4. Cõi Người
Khó khăn chính yếu được kinh nghiệm trong cõi người chính là sanh, bệnh, lão, và tử. Thêm vào đó, khổ tạo nên do chiến tranh giữa các quốc gia, láng giềng, và cá nhân. Ở vài nơi, người ta kinh nghiệm đói kém và thiếu chỗ ở. Nếu muốn nhìn sâu vào số lượng khổ khủng khiếp, ta chỉ cần xem báo, truyền hình, hoặc nghe đài phát thanh. Tất cả các nhân duyên khốn khó của con người là tham luyến, sân hận, và vô minh.
5. Cõi Bán thần (Asura)
Chư bán thần, cho dù có bề ngoài đẹp đẽ và đời sống tương đối ít khó khăn, lại chịu thống khổ nặng nề — tranh chấp lẫn nhau và với chư Thiên — khi cố gắng đạt đến Thiên giới phú túc hơn. Nhân duyên các khốn khó của họ chính là quả của tật đố.
6. Cõi Thiên (Deva)
Chư thiên có đời sống tốt đẹp với tất cả những gì họ mong muốn. Tuy nhiên, trước khi họ chết, lại nhận các điềm báo trước cái chết của họ và nơi chốn tái sanh tiếp đến. Cũng thế, sự suy tướng của họ kéo dài chậm chạp và đau đớn. Nhân duyên chính của sự sầu khổ đó chính là tham luyến.
Càng tư duy về các nỗi khổ riêng tư trong sáu cõi cùng các nhân duyên, lòng từ bi của ta càng mạnh mẽ hơn.
KỸ THUẬT
Kỹ thuật hành thiền Tong-Len (Cho và Nhận) được trình bày tổng quát dưới đây. Trong các tu tập có thể hành, đây là một trong số các pháp quan trọng nhất. Nếu có thể thật hành hàng ngày, pháp này sẽ được chứng nghiệm như một pháp cụ tối cần.
Trong thiền Tong-Len, chúng ta nên tập trung vào những người đang bị hành hạ bởi đau khổ, bệnh thân, bệnh tâm, nghèo đói, áp bức, khinh thị, hoặc chịu mọi khó khăn. Trước hết hãy tập trung vào các người này, nhưng cũng nên bao gồm mọi chúng sanh.
Nhận
Đây là hành động giúp phát triển lòng đại bi, yêu thương và dũng mãnh nhận chịu tất cả khổ não của chúng sanh như mọi người đều là người thân nhất của chúng ta. Chúng ta cần quán tất cả chúng sanh đang vây quanh mình. Bên cạnh ta là các chúng sanh là cha mẹ thân nhân bằng hữu của ta từ nhiều kiếp; trước mặt ta là các kẻ thù hay loài vật đầy đe dọa khiếp đãm. Ta nhận từ họ, nỗi đau khổ và mọi ác trược nghiệp chướng dưới hình thức những tia sậm màu đang toát ra từ họ và hướng về phía ta.
Các tia này tiêu biểu cho ba thứ: (1) khổ, (2) nhân duyên khổ, (3) vọng niệm hay ám chướng ngăn chặn tri thức hay trực kiến của mọi hiện tượng. Ba thứ trên là tất cả mọi vấn đề của chúng sanh, kể cả đau khổ, tranh chấp, thất vọng, vân vân.
Ta nên quán các tia sậm màu đó toát từ mỗi chúng sanh chẳng khác nào như hơi nước bốc từ mặt đất ẩm lúc trời nóng. Ta cần quán các tia sậm màu như khổ đến từ chúng sanh nơi sáu cõi — địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, trời, a-tu-la. Các tia này tụ họp lại, tạo sức mạnh, và tạo thành một năng lực giống như đám mây nhỏ.
Ta quán đám mây đen dày đặc và mãnh liệt đó ngay phía trước mặt. Giữ lại đó vài khoảnh khắc. Từ ngay giữa tim ta, quán một bọt bóng đen tiêu biểu cho bệnh, khổ, ác nghiệp, phiền não, và quan trọng nhất, ái ngã vị kỷ. Hít đám mây khói đen dày đặc đó vào mũi, khối đen đó sẽ rơi trên bọt bóng đen nằm giữa tim ta. Chúng hòa lẫn vào nhau và hoàn toàn bị hủy diệt và tan biến. Làm xong điều đó, ta phải cảm thấy một cảm giác thanh tẩy và nhẹ nhàng dâng lên. Ta phải nghĩ mình vừa thanh tẩy bằng tinh thần tất cả mọi chúng sanh và đặt họ vào trạng thái an bình. Giờ ta hãy quán một xã hội toàn thiện, nơi đó không còn ai trong bệnh viện, người mù có thể thấy, người điếc có thể nghe, và an bình phủ ngập.
Cho
Đây là hành động phát triển tột độ lòng đại từ. Hành giả sẽ phát tâm đại từ trao cho tất cả những gì quý giá nhất của mình cho chúng sanh.
Tiếp theo khi nhận, ta hãy phóng các tia sáng trắng tiêu biểu cho tinh túy của thân thể, giàu sang và công đức của mình. Tia sáng đó phát ra từ tim ra, chạm tất cả chúng sanh và biến dạng theo nhu cầu hiện tại của họ. Như thế, người cần thuốc men sẽ nhận thuốc men; kẻ cần y áo sẽ nhận y áo — bất cứ thứ gì họ cần đến sẽ nhận được vào lúc đó. Tia sáng trắng phát từ tim, được thở ra qua mũi, và thấm nhuần trọn không gian, lập tức thỏa mãn nhu cầu của mọi chúng sanh.
Đây là một cách quán tưởng Tong-Len, thật hành pháp Nhận và Cho. Khi hành thiền xong, cần quán chiếu về sự thật là thiền giả, pháp thiền, và đối tượng thiền, tất cả đều không thật sự hiện hữu.