CHÌA KHÓA ĐẠI GIÁC NGỘ
PHẦN MỘT: TIÊN KHỞI
Chuẩn bị việc Tu tập
Đạo Tầng Giác Ngộ và các Đạo Tầng
CHUẨN BỊ VIỆC TU TẬP
ĐỘNG CƠ TU TẬP PHÁP
Nhằm đạt đến hạnh phúc cho bản thân cũng như tha nhân, chúng ta cần tu tập Pháp. Và để có được sự tu tập vững chắc, ta cần hiểu biết điều gì mình phải huấn tập. Tu tập Pháp thích nghi cả hành xử cá nhân lẫn tương quan cùng các chúng sanh khác. Do đó, tu tập Pháp trở nên một sinh hoạt rất quan trọng trong đời sống chúng ta.
Bước đầu tiên để khởi sự hành Pháp là triển khai một động cơ thích đáng. Điều này tạo thành một thời tu tập thích đáng. Để minh chứng điều đó, có thể trích dẫn lời của đại Lạt ma Tông Kha Ba (Lama Tsong Khapa) bảo, nếu tâm ta thiện lành và cao thượng, tất đạo và pháp của ta cũng thế. Tư tưởng Đại thừa mà chúng ta cần phải phát khởi xác đáng là một nguyện vọng đắc Đại Giác ngộ hầu lợi lạc trọn chúng sanh. Chủ đề thảo luận đó, dĩ nhiên, là một giáo pháp Đại thừa, vì thế nỗ lực của ta đồng thời phải là trở nên một chúng Đại thừa.
Chủ đề đó là tinh túy của tám vạn bốn ngàn pháp môn của đức Phật.
Đó là hệ thống của siêu thượng thừa (yana), giúp người hành giả may mắn trên con đường đi đến Giác ngộ. Đó là một trong số các đạo tối thượng, được chư Đại Bồ tát như đức Di Lặc (Maitreya), đức Văn Thù Sư Lợi (Manjushri) và rất nhiều vị Bồ tát khác cực kỳ tán thán. Nó được chư đại sư soi đường như Thánh đức Vô Trước (Arya Asanga) và Long Thọ (Nagarjuna), và là cốt tủy các tu tập của đại A Tì Sa (Atisha) và Lạt ma Tông Kha Ba (Lama Tsong Khapa). Vì thế, tóm lại, nó là tinh túy của Đạo Tầng Giác Ngộ hoặc "Lam Rim".
KHỔ VÀ NHÂN KHỔ
Như chúng ta ghét khổ, tất cả mọi chúng sanh khác cũng thế. Bởi ta ghét khổ, nên có bổn phận phải diệt khổ trong đời hiện tại và ngăn khổ có thể xảy đến trong kiếp lai sinh. Điều này trở thành bổn phận cá nhân ta.
Nếu khổ có thể diệt chỉ nhờ vào tiện nghi giàu có, hẳn người giàu sẽ hoàn toàn thoát khổ. Nhưng không phải vậy. Thật ra, chúng ta biết họ có thể khổ như ta, hay còn hơn nữa. Để sáng tỏ điểm này, ngài Long Thọ ("Nagarjuna") viết trong "Thư Gửi Bạn" (Suhrillekha) rằng, có một số rồng có rất nhiều đầu. Càng có nhiều đầu, chúng càng chịu lắm khổ. Thí dụ này phản ảnh sự kiện là, sự giàu sang bên ngoài chỉ tạo thêm đau khổ. Chúng ta càng sở hữu nhiều, thì càng đối diện lắm phiền não, và càng lôi cuốn thêm rắc rối. Hầu giải trừ trọn khổ trong đời hoặc thân, ta phải giải trừ nhân duyên khổ.
Điều gì là nhân duyên khổ? Có hai nhân: nghiệp hành (karma) và ảo cấu. Khi nói đến nghiệp hành và ảo cấu, ta muốn nói đến chính nghiệp hành và ảo cấu của chính mình cần phải điều phục. Ta không thể điều phục nghiệp hoặc cấu của người nào khác. Đúng hơn, ta phải điều phục chính của mình — trong tầm phương tiện của ta.
Hầu giải trừ khổ, ta phải giải trừ ảo cấu trong tâm. Nhưng chỉ đọc chú hoặc tụng kinh sẽ không được việc. Điều cần thiết là phải an tọa và thiền định.
PHƯƠNG PHÁP GIẢI THOÁT KHỔ
Chúng ta không thể giải trừ khổ bằng phương tiện vật chất, vì vật chất không có sức mạnh giải trừ được nó. Ta phải đạt đến tự do bằng một nguồn lực khác. Phương tiện ta dùng để đạt đến tự do hoàn toàn khỏi mọi khổ não — cả khổ hiện tại lẫn khổ vị lai, cũng như khổ của tha nhân — là qua tu tập Pháp, qua thiền định.
Phải thiền định cách nào? Đó là một pháp môn cần học tập. Ngài Thế Thân (Vasubhandu) khuyên, "Nên giữ đức hạnh thật thanh tịnh và trọn tri kiến." Như thế, trong khi giữ gìn đức hạnh thanh tịnh, ta còn phải trọn vẹn tri kiến. Chúng ta làm điều đó bằng cách nhận giảng huấn từ chư lạt ma và học kinh văn soi sáng chủ đề. Ta cần các nguồn tin tốt và thuyết giảng tốt, bởi vì không có chúng, ta không thể nào hành thiền cho chánh đáng. Nếu ta không nghe biết gì về một chủ đề, tất không thể hiểu ý nghĩa. Để nhấn mạnh điểm này, ngài đại Thích Quảng Kiến (Sakya Pandita) dạy, "Người cố thiền mà không học chánh pháp chẳng khác nào kẻ cụt tay muốn leo lên tảng đá." Chúng ta cần hiểu biết chánh pháp, và con đường đạt đến chính là sự chuyên tâm tu học.
CÁCH THỌ DỤNG TINH TÚY GIÁO PHÁP
Khi học một khái niệm mới, ta không chỉ ngưng tại đó. Đúng hơn, một khi hiểu được ý nghĩa, ta phải tư duy liên tục về nó, cho đến khi trở thành một phần của tâm. Chỉ khi đó, thiền định mới thành tựu. Như thế, ta cần phải theo tiến trình sau đây. Thứ nhất, đạt sự hiểu biết bằng cách lắng nghe và học tập; thứ nhì, tư duy liên tục về điều đã nghe được; và thứ ba, thiền nhất điểm về khái niệm đó. Đó là ba thứ tuệ: tuệ học tập [văn tuệ]; tuệ tư duy về điều đã hiểu [tư tuệ]; và tuệ nhận được từ thiền định [tu tuệ]. Ba thứ này đến nối tiếp nhau, và bởi vì học với nghe Pháp là bước đầu tiên, nên nó là nền tảng của hai thứ kia, và do đó trở thành rất quan trọng cho đời sống cá nhân.
Cho dù ta đã được thọ giáo pháp một hoặc hai lần, cũng không nên tự mãn và không nghe thêm nữa. Thay vì vậy, ta nên cố thọ giảng về các chủ đề Pháp càng nhiều càng tốt, và thiền quán về chúng. Tôi biết một số chư tăng nghe thuyết giảng về một kinh văn nào đó đến hai mươi hoặc ba mươi lần, đến lúc đó, vẫn còn mong mỏi được nhận thêm giáo pháp. Như thế, càng được nghe giáo pháp nhiều lần, càng tốt cho sự hiểu biết của chúng ta. Nhiều lạt ma bảo, nếu dự giáo pháp thường xuyên, ngay dù chỉ một chủ đề, có thể ta không nghe thêm điều gì mới, nhưng sẽ hiểu thêm điều gì mới.
Cần nên nhớ, mỗi lần tham dự một thời thuyết pháp, ta lại đắc một tri kiến mới, cho dù đã quen thuộc với chủ đề. Đó là một thí phẩm của chư bổn sư. Khuyến ngữ của chư vị chứa đầy ân độ. Mỗi lần được nghe một thời pháp, ta có thể học một phương cách mới để hiểu biết, thọ nhận, và thể hiện thành một phần của đời mình, và nối liền khoảng cách giữa giáo pháp và tâm ta. Không nên nghe giáo pháp như một thực thể cô lập; thay vì vậy, phải cố hòa nhập giáo pháp và thông điệp trong đó vào tâm ta. Để cho tất cả hòa hợp cùng nhau; đi chung với nhau — đó chính là mục tiêu của ta.
Nếu tâm ta và giáo pháp đi về hai hướng khác biệt, thì cho dù giáo pháp tràn trề cảm hứng hoặc ân độ, ta cũng sẽ không nhận lợi ích lâu dài.
XEM GIÁO PHÁP NHƯ TẤM GƯƠNG
Chúng ta nên xem giáo pháp như tấm gương trong đó ta kiểm điểm hành động của mình. Bất cứ khi nào ta học hoặc nhìn sâu vào Pháp, ta sẽ có thể nhìn rõ phản ảnh của các thái độ và niệm tưởng không chánh đáng [tà kiến, tà niệm].
Khi nhìn thấy thái độ xấu của mình trong tấm gương Pháp, ta không nên bấn loạn. Nên nhớ, mục tiêu học Pháp là nhằm phơi bày và đào bật rễ các ảo cấu của mình. Tuy vậy đôi lúc tham dự một giáo pháp, ta có thể nhận thấy vài đoạn giống như là sự chỉ trích cứng rắn về đời mình hoặc như một nhãn quan mà ta không đồng ý. Ta có thể bối rối, nhưng đó không phải cách. Có một câu chuyện ngụ ngôn Tây tạng soi sáng điểm này, tôi muốn chia sẻ cùng quý vị. Trong một thời pháp, vị lạt ma khuyên nhóm đệ tử không nên giết chấy rận. Nhưng có một đệ tử rất thích giết chấy, vì thế không thích thời pháp đó. Thật ra, nó khiến cho anh bối rối lắm. Đêm đó, khi anh về nhà, vẫn còn bối rối. Vì thế, anh bắt được một con rận, và nói, "Giờ hãy đem lạt ma của mi đến mà che chở mi đi!" Điểm đáng nói là người đệ tử đó thiếu khả năng dùng tấm gương Pháp hầu kiểm điểm hành động của mình, Khi nghe giáo pháp, anh lẽ ra phải có thể nhìn nhận sự sai lầm của mình, và quyết định học cách ngăn chặn bản thân không còn giết hại trong tương lai. Anh ắt có thể đưa ra quyết định mạnh mẽ không sát sanh nữa.
Nên nhớ mỗi khi nghe hoặc học Pháp, ta nên ghi chú các điều mình phải học, cũng như những điều có thể áp dụng. Điểm quan trọng là dùng Pháp như một tấm gương. Giống như buổi sáng, khi nhìn vào gương để xem trên mặt có một điểm đen nào không, ta có thể dùng gương Pháp để tìm điểm đen trong tâm hoặc hành của mình. Một khi tìm thấy các điểm đen đó, ta có thể tẩy sạch chúng. Bởi lý do đó, ta so sánh Pháp với tấm gương.
Điểm chủ yếu ở đây là phải có động cơ đúng khi lắng nghe thuyết giảng hoặc học Pháp. Một khi mang động cơ đúng, lắng nghe và học tập sẽ dễ dàng hơn. Hãy giữ động cơ chánh đáng trong tâm bất cứ lúc nào.
PHẨM TÁNH CỦA PHÁP CHÚNG
Chúng ta cần thảo luận về thái độ phải có khi tham dự pháp giảng. "Lam Rim" thảo luận về các phẩm tánh của vị đạo sư cũng như các đệ tử.
Phẩm Tánh của Đạo Sư
Vị thầy chẳng những phải nắm vững phần trí thức của chủ đề, mà, quan trọng hơn nữa, cần phải tu tập giáo pháp trong trọn đời mình.
Vị thầy phải có mười đức tánh sau đây: (1) thái độ điều phục trấn tĩnh; (2) tâm an hòa nhờ thiền định nhất tâm bất loạn; (3) tâm an hòa nhờ minh sát tuệ; (4) tri thức tối hảo; (5) lòng nhiệt tâm; (6) hoàn tất tu tập về các kinh văn; (7) tri kiến không tánh; (8) thiện xảo trong việc trình bày Pháp; (9) từ bi đối với đệ tử; (10) nhẫn nại kiên trì.
Phẩm Tánh của Thính Chúng
Chúng ta đã thảo luận về động cơ phải có khi dự giáo pháp. Chúng ta cần một thái độ chánh đáng. Ba yếu tố về thái độ đúng là động cơ chánh đáng, sự chăm chú, và khả năng gìn giữ được những gì nhận được.
Thêm vào đó, chúng ta phải tiếp cận giáo pháp cũng như đời sống hàng ngày và tu tập hàng ngày, bằng sáu ý định thảo luận trong Đạo Tầng Giác Ngộ (Lam Rim Chenmo). Sáu ý định đó như sau:
1) Xem chính ta như đang bệnh nặng với chứng bệnh của nhiều ảo cấu;
2) Tìm một lương y có thể chữa ta khỏi bệnh — các ảo cấu;
3) Xem giáo pháp như thuốc viên hoặc dược liệu — nhận ra rằng cho dù ta có thể tìm ra một lương y tài giỏi, ta cũng chỉ được chữa khỏi nhờ thuốc men — chính tự giáo pháp là liều kháng dược cho bệnh của ta;
4) Xem Pháp rất cao trọng, như bệnh nhân quý thuốc mình dùng;
5) Xem chính ta như bệnh nhân trầm kha phải tiếp tục theo chương trình thuốc men hầu được chữa trị, phải tinh chuyên và liên tục trong việc tu tập hàng ngày, và luôn luôn tôn trọng giáo pháp cùng chư đạo sư;
6) Phải quả quyết trụ trong việc tu tập Pháp; lập quyết định mỗi buổi sáng phải giữ gìn việc tu tập theo đúng giáo pháp ta đã thọ nhận.
ĐẠO TẦNG GIÁC NGỘ & CÁC ĐẠO TẦNG
"Lam Rim" trước tiên dạy chúng ta về tái sanh làm thân người: nó thật quý báu với các thứ tự do và tài năng, cũng như rất khó đạt và dễ mất. Ta còn được dạy về vô thường và tử vong.
Tiếp theo đó là giáo pháp về luật nhân quả hoặc nghiệp (karma), về sự đau khổ của tam hạ giới, về quy y, và các thứ.
Làm sao có thể đạt đến ý nghĩa tối thượng trong cõi đời này? Chúng ta cần tìm một số sinh hoạt hay hành động đem đến nhiều ý nghĩa nhất cho đời. Chính hành động ý nghĩa là điều ta thảo luận ở đây. Tinh túy có thể thọ dụng từ cõi đời này được chia thành ba trình độ đắc quả: sơ đắc, trung đắc, và thượng đắc.
QUẢ SƠ ĐẮC
Kết quả của việc đạt mục tiêu quả sơ đắc là ta được đảm bảo tái sanh vào một trong ba cõi thượng sanh hạnh phúc: hoặc là thiên giới (deva), thần giới hay a tu la (asura), hoặc trong nhân giới. Những phương tiện giúp đạt được quả vị này là qua tu tập hoặc hành động Pháp. Loại tu tập Pháp cho phép chúng ta thành tựu kết quả này là ngưng thập ác hành và dấn thân vào thái độ đạo đức tốt của thập thiện hành. Trưởng dưỡng đạo đức không phải chỉ một hoặc hai ngày, hoặc một vài tháng, mà phải rất kiên trì và liên tục trong trọn cả tháng, trọn năm, và ngay cả cho trọn một đời người. Chúng ta phải có khả năng gìn giữ đạo đức trọn đời.
Thêm vào đó, đạo đức này cần được trợ lực bởi lục độ hay sáu ba la mật (paramitas). Nếu chúng ta có thể tạo trong bản thân các phẩm tánh hầu trở thành một người rất tốt, tất ta có thể nhận lợi lạc tối thiểu từ kiếp tái sanh làm người qua các phương tiện đó. Không chỉ được trợ lực bằng lục độ, mà còn phải nối kết chặt chẽ bằng cầu nguyện và hồi hướng. Khi nói đến hồi hướng, không với ngụ ý chỉ có một hồi hướng duy nhất cho trọn đời, mà là mỗi lần cầu nguyện hoặc hành thiền kéo dài trọn một giờ hay chỉ dăm vài phút đều phải kết thúc bằng bài kinh hồi hướng. Hầu đạt đến trình độ thành tựu đó, ta cần phải vun bồi các sở đắc của một người rất tốt, có đức hạnh đầy đủ.
Sự thành tựu này dược đạt qua sự thể hiện các chủ đề được đề cập trong Đạo Tầng Giác Ngộ (Lam Rim), bao gồm: (1) Tôn kính Đạo sư; (2) Nhân sanh hiếm quý; (3) Tử và Vô thường; (4) Tử tất định; (5) Tử kỳ bất định; (6) Điều hữu ích lúc Tử kỳ; (7) Các loại Tái sanh; (8) Quy y; (9) Nghiệp hay Luật Nhân Quả; (10) Mười loại Nghiệp hành; (11) Khổ trong Luân hồi; (12) Bất thỏa với Luân hồi.
1. Tôn kính Đạo sư
Trong "Lam Rim" trình bày Pháp giảng qua thảo luận về phương cách theo học một vị đạo sư chánh đáng. Phần Tôn kính Đạo sư gồm ba đề mục: Lợi ích trong việc theo học một đạo sư; Bất lợi hoặc thiệt thòi nếu không theo học một đạo sư; và Hậu quả xấu nếu đi ngược lại mối liên hệ đạo sư-đệ tử.
Ý niệm chính là ta phải xem vị đạo sư của mình như là một vị Phật thật sự và hết lòng tôn kính. Thái độ này rất hữu ích cho việc phát triển tâm linh, vì thế ta phải luôn luôn tự nhắc nhớ đến thiện ý của đạo sư. Hàng ngày, ta phải tự gia lực mình với lời nguyện cầu: "Không chỉ trong đời này, mà trong tất cả đời vị lai, tôi phải luôn liên hệ cùng các vị đại đạo sư Đại thừa như là vị mà tôi đang có hiện nay."
2. Nhân sanh hiếm quý
Chủ đề kế tiếp trình bày trong "Lam Rim" là Nhân sanh hiếm quý với các tự do và phong phú. Lần nữa, tôi xin viện dẫn một câu của Lạt ma Tông Kha Ba (Tsong Khapa), bảo rằng kiếp tái sanh làm người hiện tại của chúng ta với tự do và tài năng còn quý báu vượt trội bảo châu như ý. Kiếp người này thật sự hiếm gặp, và có thể vô cùng ý nghĩa và ích lợi đối với chúng ta. Nó có khả năng rất lớn lao. Nhưng nếu ta để cho nó qua đi mà không sống đời mình một cách ý nghĩa, thì không thể nào đạt đến kết quả gì ý nghĩa và có thể sẽ hối tiếc. Tái sanh làm người được thiên phú tám thứ tự do và mười loại tài năng — nếu ta đánh mất nó mà không đạt đến bất cứ điều gì ý nghĩa cho đời này, thì chắc chắn sẽ là một thiệt hại lớn lao.
Làm sao có thể giữ đời này không trở nên rỗng tuếch và chẳng đạt đến một ý nghĩa nào? Ta cần tìm vài sinh hoạt hoặc hành động nào giúp mang lại ý nghĩa. Ở đây ta sẽ thảo luận về hành động ý nghĩa — Pháp sự hoặc Pháp hành. Tinh túy có thể hấp thụ từ cuộc đời được chia thành ba trình độ thành tựu quả: sơ đắc, trung đắc, và thượng đắc. Nếu muốn đạt ích lợi tối thiểu từ kiếp người này, ít nhất ta phải cố tránh tái sanh trong một cõi thấp kém hoặc cõi địa ngục, hoặc chẳng làm bất cứ nỗ lực nào hầu tự giải thoát khỏi cơ sa đọa vào các cảnh hạ giới. Đó là điều ít nhất ta có thể làm được trong kiếp người này. Nhưng chỉ có sự đảm bảo không rơi vào các cảnh hạ giới vẫn chưa đủ. Ta phải nhìn xa hơn vào việc vĩnh viễn đóng các cổng vào hạ giới, và bảo đảm cho mình một tái sanh vào một trạng thái cao hơn với hạnh phúc và thịnh đạt.
3. Tử và Vô thường
Chúng ta cũng cần giải thoát mình ra khỏi tử vong và vô thường. Điều này hệ trọng vì nếu ta không quán chiếu về tử, tất sẽ buông lung trong các ác hành chẳng hề suy xét.
Mặt khác, nếu ý thức sự không thể tránh của tử vong, ta thấy rất nhiều thứ không còn quan trọng như mình hằng tưởng, và học biết được cách xếp thứ tự ưu tiên. Điều này giúp ta đi theo các đạo lộ được giải thích trong pháp giảng.
4. Tử tất định
Sau khi hiểu được lợi ích của sự tư duy về tử, ta cần phải quán chiếu về tử vong và tự thuyết phục về sự chắc chắn phải chết của chính mình. Về mặt tri thức, ta biết chắc chắn mình sẽ chết, nhưng vẫn cố gắng không muốn nghĩ về nó. Ta cần phải nghĩ về nó và ý thức rằng mình sẽ chết.
5. Tử kỳ bất định
Chúng ta còn cần phải tự thuyết phục rằng, không bao giờ có thể biết lúc nào mình sẽ chết, rằng hạn kỳ của tử vong quả bất định.
Cho dù sáng nay tôi thức dậy như một con người, tôi không bao giờ có thể đoan chắn tối nay tôi lại không chết và tái sanh làm một con thú ở một nơi không có nước uống, thức ăn, hoặc các thứ cần thiết để sống sót. Điều này khiến cả người tôi phủ trùm trong lo sợ và khủng khiếp. Có một thứ gì đảm bảo việc đó sẽ chẳng xảy đến cho tôi chăng? Chúng ta cần tư duy về điều đó. Nhiều đệ tử lớn tuổi hơn đã nghe đến việc này nhiều lần trước, và các người mới hơn chưa được nghe đến. Chúng ta phải liên tục suy tư về sự bất định kỳ của cái chết như là một khởi đầu cho việc tu tập Pháp của mình.
6. Điều hữu ích lúc Tử kỳ
Những điều gì chứng tỏ quý báu nhất vào lúc tử kỳ? Chúng ta cần quán chiếu điều đó. Của cải ta sở đắc có đem lại chút trợ lực nào vào khi đó chăng? Ta cũng phải quán chiếu điều đó. Cha mẹ hay bạn bè ta — khi đó họ có giúp đỡ gì chăng? Sự thật là, vào giây phút chết, những người khác có thể chia sẻ sự quan ngại của ta và muốn làm tất cả mọi việc họ có thể giúp ta, nhưng mọi thứ đều vượt quá khả năng giúp đỡ của họ vào lúc đó. Ta khởi sự cuộc hành trình đó một mình và trong bóng tối.
Bạn duy nhất có thể giúp ta lúc đó chính là việc tu tập Pháp của chính mình, nếu có thực hành được đôi chút. Việc tu tập chánh Pháp chứng tỏ là bạn thân nhất và đắc lực nhất. Nó chẳng phải thứ độc nhất đi cùng với ta, bởi vì ác nghiệp cũng đi theo ta nữa. Ta phải ý thức rằng, vào lúc chết không có gì giúp đỡ lớn lao hơn là tu tập Pháp. Ta cần phải quyết định kiên trì tiếp tục việc tu tập Pháp thật vững vàng.
7. Các loại Tái sanh
Ta cần quán xét mình có thể về đâu một khi lìa bỏ cõi đời này. Có hai cứ điểm khả dĩ, hoặc là cõi thấp kém của đau khổ, hoặc là cõi cao thượng của hạnh phúc. Trong hai khả dĩ đó, ta thường dễ sa vào cõi thấp hơn. Lý do vì nhân duyên để tái sanh vào hạ giới là chính các ý và hành bất thiện. Ta không cần học ý và hành bất thiện từ ai khác. Ta học chúng tự động hoặc tự khởi, và kết quả là ta kề gần cõi thấp hơn. Mặt khác, nhân duyên tái sanh vào cõi thượng là sự tu tập tịnh hạnh, nhẫn nhục, và các thứ. Các tu tập đó đòi hỏi nhiều nỗ lực và chuyên cần của ta ngay từ bây giờ. Ta cần nghĩ, "Tôi sẽ ra làm sao, nếu sa vào một trong các cõi thấp?
Tôi có thể nào chịu đựng nổi các đau khổ không thể chịu nổi phải trải qua tại đó?" Ta lại cần tự hỏi, "Có một ai có thể giúp tôi thoát khỏi trường hợp đó hay chăng? Có một thứ gì cho tôi nương cậy chăng?"
8. Quy y
Đương nhiên, có nơi chốn nương tựa quy y. Chúng ta có thể được ân độ từ nơi Phật, Pháp, và Tăng. Quy y một trong Tam Bảo là điều vô cùng hệ trọng. Nhiều người trong chúng ta cảm thấy quy y chỉ một lần là đủ, nhưng không phải vậy. Chúng ta phải cố gắng quy y càng thường xuyên càng tốt. Hàng ngày chúng ta cố quy y càng thật nhiều lần càng tốt. Điều phân biệt rõ chúng ta là Phật tử thành tín hay chăng nằm trong sự hiện diện của sự quy y chân chánh trong tâm ta. Nếu ta muốn là một Phật tử chân thật, thì phải quy y bằng một cách thuần thành hoặc chánh đáng mỗi ngày. Hơn nữa, quy y trở nên một nền tảng cho tất cả mọi bản nguyện cao hơn, kể cả nguyện Biệt giải thoát (Pratimoksha) [Ba la đề mộc xoa], tức nguyện của Tỳ kheo tăng hoặc ni (Bhikshus, Bhikshunis), nguyện Bồ tát giới (Bodhisattva) hoặc nguyện Mật tông (Tantra). Nếu ta muốn thọ bất cứ thứ nào trong ba bản nguyện cao hơn đó, trước phải phải quy y để làm căn cơ. Khi thọ nhận một lễ điểm đạo như của đức Quán Thế Âm (Avalokiteshvara), cũng được khởi đầu bằng lễ quy y. Lại nữa, quy y là nền tảng, và chúng ta xây dựng lễ điểm đạo trên đó.
Do đó, quy y vô cùng hệ trọng đối với tất cả chúng ta.
Đối tượng của quy y là gì? Đó là Tam Bảo: Phật, Pháp, và Tăng.
Quy y tiên khởi là trọn cả chư Phật. Quy y Phật còn bao gồm cả các vị thầy đã dạy chúng ta đạo lộ không lầm lạc và các đạo trình.
Quy y Pháp có hai khía cạnh: quy y chân Pháp, tức là thánh đạo và tri kiến, và tự do thật sự thoát khỏi mọi tà ác. Các đức tánh đó trụ trong tâm của chư Phật. Khía cạnh thứ hai là quy y tương đối Pháp, đó chính là các kinh điển soạn viết và các giáo pháp của chư Phật được ghi lại. Nếu ta đối đãi việc quy y tương đối Pháp, các kinh văn, như là quy y chân Pháp, là điều rất hữu ích. Ta phải triệt để tôn trọng các kinh văn Phật Pháp. Ta không nên dùng sai cách khi đặt sách trên mặt đất, hoặc dùng như đệm để ngồi lên trên. Nếu làm những việc như thế, cho thấy sự thiếu tôn trọng đối với các giáo pháp và là một hành vi bất thiện nặng nề.
Quy y Tăng — cộng đồng tối cao — bao gồm chư Bồ tát (Bodhisattvas), Thanh văn (Shravakas), Du già thánh giả hoặc Du già thánh nữ (dakas, dakinis), và tất cả các vị Hộ Pháp (Dharmapalas) đã đắc thánh đạo hoặc siêu thượng đạo.
Cần hiểu rằng nếu chúng ta quy y Phật, Pháp, và Tăng, chư vị sẽ không bỏ quên chúng ta. Cần phải hiểu sự không thể sai sót của việc quy y này. Không những chư vị có thể cho chúng ta nương tựa, mà còn rất xứng đáng làm chốn nương tựa cho chúng ta. Chẳng hạn như, đức Phật hoàn toàn tự tại vô úy, và có thể cứu giải người khác khỏi sợ hãi. Hơn nữa, Ngài rộng ban phát đại từ bi đến muôn loài chúng sanh. Nếu có người ca ngợi đức Phật, và người khác chê trách Ngài, đức Phật vẫn cho thấy sự từ bi tương đồng đối với cả hai, và cứu độ cho cả hai, cho dù họ có hữu ích hay chăng — điều đó không thành vấn đề. Không giống như chúng ta, đức Phật cứu độ tất cả mọi chúng sanh bình đẳng. Ta cần ý thức rằng, ta nhận được ân độ hay không thật ra tùy vào chính mình. Không thể có mảy may nghi ngờ nào về Phật lực cứu độ chúng sanh, nhưng Ngài chỉ làm được điều đó nếu chúng ta quy y Ngài.
9. Nghiệp hay Luật Nhân quả
Quy y chưa phải là đủ. Chúng ta còn cần phải theo các chỉ dẫn về hành động nào phải làm và hành động nào phải tránh. Bằng không, cho dù quy y, chúng ta cũng không thể đạt đến Niết bàn hoặc được giải thoát. Chúng ta cần ý thức tầm quan trọng của luật nghiệp quả (karma) hoặc nhân quả, và đây chính là căn cội của tất cả hạnh phúc và thịnh vượng. Một khi ta có đức tin mạnh mẽ và sự tôn trọng luật nhân quả — một khi ta ý thức được thiện hành sẽ mang lại hạnh phúc và ác hành sẽ mang đau khổ — chúng ta có thể học ngưng ác hành và chỉ thực hiện thiện hành.
Luật nhân quả được thảo luận nhiều trong "Lam Rim Chenmo", nhưng điểm hệ trọng cần phải nhớ là kết quả của mỗi hành động là điều chắc chắn. Loại nghiệp nào ta tạo nên sẽ mang lại quả tương ứng. Điều này không có nghĩa tất cả nghiệp đều mang đến một quả, bởi có những điều kiện cải đổi; chúng ta có thể làm hỏng hạt giống. Lấy thí dụ, mặc dù ta phạm một tà hành, nhưng có thể sám hối để thanh tẩy hành đó, và làm cho hạt giống thành vô hiệu. Do đó, có thể nói rằng, không một tà hành nào không thể tịnh hóa bởi bốn liều kháng dược hoặc bốn đối lực tịnh hóa.
Chúng ta cũng cần phải ý thức rằng, bất cứ hành động nào làm ra, cho dù thiện hoặc bất thiện, sẽ tiếp tục tăng trưởng và tác hợp thêm ngày qua ngày. Một khi ý thức được, ta cần phải tịnh hóa mọi tà ác đã sai phạm ngay trong ngày đó. Chúng ta không thể để nó tiếp tục, bởi vì làm thế, cho dù một tà hành nhỏ nhặt cũng có thể trở nên to tát một thời gian sau đó. Chúng ta sẽ rơi vào hố thẳm của tà lực nếu để mặc sơ sót một lỗi nhỏ. Hơn nữa, cần phải nhìn nhận rằng, nếu ta không phạm phải một hành đặc biệt nào đó — cho dù thiện hoặc bất thiện — ta sẽ chẳng nhận lấy quả báo hoặc đối đãi cùng các hậu quả. Để kinh nghiệm kết quả, ta phải tự mình làm lấy hành động đó. Thí dụ, nghiệp tạo do Tashi không thể nào tạo quả nơi Ngodrup, hoặc nghiệp của Ngodrup tạo không thể thành quả nơi Tashi. Tashi và Ngodrup là hai người khác nhau.
10. Mười loại Nghiệp hành
Có bao nhiêu loại nghiệp cả thảy? Có thể tóm lược qua mười loại chính. Chúng ta có thể viện dẫn đến thập bạch đạo nghiệp [thập thiện nghiệp] và thập hắc đạo nghiệp [thập ác nghiệp]. Mười ác đạo hoặc hắc nghiệp bao gồm ba ác hành của thân: sát sanh, thâu đạo, tà dâm; bốn ác hành của của ngữ: vọng ngữ, lưỡng thiệt, thô ác ngữ, và tạp uế ngữ; và ba ác hành của ý: tham dục, sân nhuế và tà kiến. Nếu phạm phải một trong thập ác trên, ta cần cảm thấy rất hối hận hoặc tiếc nuối bởi hành vi của mình. Cũng thế, ta phải cố ngưng không tái phạm các hành trên trong tương lai. Mười bạch đạo của thiện hành đối đãi lại với mười ác hành nói trên.
11. Khổ trong Luân hồi
Sau khi đắc vài tri kiến về nghiệp, cần tư duy về các nỗi khổ thường thấy trong luân hồi (samsara). Sự bất lợi chung của hữu tình trong vòng luân hồi nghiệt ngã là sự bất ổn cố của tình trạng sống. Chúng ta có thể xu hướng nghĩ rằng kẻ thù của ta luôn luôn là kẻ thù và bạn hữu luôn luôn là bạn hữu. Nhưng không phải thế, kẻ thù dễ dàng biến thành bạn, và bạn hữu thành kẻ thù. Bằng cách nào sự hiểu biết về sự bất ổn cố như một đặc điểm của luân hồi lại giúp chúng ta? Thông thường, ta cứ tạo một số nghiệp không cần thiết vì cứ mang định kiến về kẻ thù như kẻ thù và bạn hữu như bạn hữu. Bởi thế, ta cứ tiếp tục phạm ác nghiệp, nhưng một khi ý thức được sự bất ổn cố của tình trạng, ta sẽ bớt tạo tác.
12. Bất thỏa với Luân hồi
Đề mục kế tiếp là bản chất bất thỏa mãn của luân hồi. Bất cứ lạc thú luân hồi nào, cho dù ta được dung dưỡng hoặc vui hưởng đến đâu, cũng không thể nào khiến ta thật sự thỏa mãn. Không có một lạc thú luân hồi nào khiến ta có thể nói, "Tôi chưa từng kinh nghiệm điều này." Ta trôi lăn trong luân hồi từ vô thỉ đến nay.
Ta ở khắp mọi nơi và hưởng bất cứ thứ lạc thú luân hồi nào.
Nhưng giờ đây ta có một thứ gì cho thấy điều đó? Không.
Lạc thú đã qua đi.
Cũng cần nghĩ rằng, trong luân hồi đòi hỏi ta phải mất thân mạng mình liên tục. Mỗi lần mất đi thân mình, và mạng mình, ta lại kinh nghiệm một sự chấn thương kinh hoàng, không phải chỉ riêng cho chính ta, mà còn cả cho bạn bè, thân quyến, và tất cả mọi người quanh ta trong đời này. Đây là kinh nghiệm chấn thương lớn nhất phải trải qua trong đời riêng, và phải trải qua không những chỉ một lần, mà lập lại liên tiếp. Tại sao ta cứ phải từ bỏ sắc tướng đa mang trong một kiếp đời riêng nào? Tại sao ta cứ phải tái sanh trở lại, và kẹt vào trong vòng luân hồi nghiệt ngã? Ảo cấu và nghiệp lực là hai nhân duyên của luân hồi, và chúng thật sự hiện hữu ngay trong hiện tại. Do đó, để ngưng vòng luân hồi tái lập, ta phải thoát khỏi ảo cấu và nghiệp lực.
Một điểm tiêu cực khi ở trong vòng xích luân hồi là sự biến thiên trong các trạng huống của ta. Có khi ta ở trên đỉnh cao của cuộc sống, khi khác lại chìm dưới tận đáy sâu. Lấy thí dụ, một người hưởng thụ đời sống cao nhất của đời người, như một vị vua chẳng hạn, khi chết tái sanh vào thiết vi địa ngục và chịu cảnh lửa nóng thiêu đốt thân thể — trở thành kẻ tệ hại nhất có thể tưởng tượng ra ở địa ngục. Sự thăng trầm đó diễn ra trong luân hồi. Bất kỳ ai — giáo sư, diễn viên, ca sĩ, và các người khác vui hưởng cảnh được nhiều kẻ ái mộ chiêm ngưỡng — đều có thể rơi xuống cõi thấp nhất và chịu đau khổ khủng khiếp một mình. Bởi lẽ đó, vị Đạt lai Lạt ma thứ Bảy, Kelsang Gyatso, viết một trong các bài thơ ca tụng đức Quán Thế Âm (Avalokiteshvara) rằng, những kẻ thượng tầng trở thành kẻ nô lệ bị dày xéo bởi tất cả mọi người.
Ngài còn viết rằng, thân thể đẹp đẽ của người nông dân giống như hoa mùa thu: sẽ tan biến nhanh. Tất cả sự giàu sang của chúng ta giống như các món trang sức vay mượn, khiến ta vui hưởng trong phút chốc rồi phải hoàn trả lại. Điều ta cần học từ các thông điệp đó chính là, tất cả các vật trong luân hồi đều thiếu ý nghĩa hoặc tinh túy. Tốt nhất là nên xem lời khuyên này thật thân thiết, giống như là của tác giả trao tặng riêng cho ta. Nếu ta có thể thọ nhận từng giáo pháp bằng cách đó, ở trình độ đó, quả thật hữu hiệu.
Lại nữa, một trong các khổ luân hồi là bị ở một mình không bạn bè. Ta có thể không nghĩ điều đó là thật. Ta có xu hướng nghĩ, "Tôi có rất nhiều bạn — cha mẹ, thân bằng quyến thuộc, vân vân — tôi có rất nhiều bằng hữu." Tuy nhiên, nếu nghĩ tận tường, không phải như vậy. Khi nói đến cô đơn và không bạn trong luân hồi, ta không muốn nói đến qua suốt cuộc đời. Đúng hơn, ta đặc biệt nói đến hai thời điểm hệ trọng nhất: lúc sanh và lúc tử. Đây là hai thời điểm nặng nề nhất trong cuộc đời, mà ta phải trải qua chỉ một mình không trông cậy gì nơi bạn bè. Đó chính là ý nghĩa của việc không bạn hữu trong luân hồi. Do đó, ta phải tìm một người bạn chân thật có thể giúp đỡ và theo cùng ta và phút giây trọng đại. Người bạn đó chính là việc tu tập Pháp của chính ta, và ta phải trưởng dưỡng tình bạn đó ngay từ bây giờ.
Duyệt lại các Chủ đề Lam Rim (quả sơ đắc )
Chúng ta khởi đầu bằng thảo luận về sự tôn kính Đạo sư, rồi đi đến việc thọ học một đạo sư, và sự bất lợi khi kẹt trong vòng luân hồi nghiệt ngã. Nếu ta thức giác được sự tự do và quý báu của kiếp nhân sanh, nếu hiểu được sự khó khăn khi tái sanh thân người, và quan trọng hơn nữa, nếu ý thức về vô thường và tử — ta có thể giảm sự bận bịu cùng các lạc thú đời sống này.
Bằng không, ta chẳng tìm ra được thời gian hầu tu tập Pháp bởi vì ta luôn có một thứ gì khác để làm. Thế nên, điều hệ trọng là chúng ta phải làm sao cho bớt bận rộn cùng việc chỉ đi tìm khoái lạc trong đời này mà thôi.
Chúng ta cũng đã thảo luận về luật nhân quả, luật nghiệp, cũng như các cộng khổ và biệt khổ của luân hồi hoặc "samsara". Tư duy thỏa đáng trên các chủ đề này có thể giúp ta giảm bớt sự bận bịu cùng đời này và giúp đạt đến một tái sanh tốt đẹp hơn. Sự thức giác về tử giúp ta có một ý hướng rất mãnh liệt về muốn lìa khỏi luân hồi. Nó giúp ta không còn muốn tái sanh trong luân hồi dưới ảnh hưởng của nghiệp và ảo cấu, và một khi ta thoát khỏi luân hồi, tất có thể ban phát trọn từ bi và thiện ái đến chúng sanh. Điều đó có thể thực hiện như hành một vị Bồ tát (Bodhisattva).
QUẢ TRUNG ĐẮC
Nếu ta muốn thành tựu quả trung đắc trong kiếp người tái sanh này, đó chính là sự giải thoát khỏi luân hồi (samsara), ta cần phải trưởng dưỡng và thức giác ý nghĩa của các pháp thiền "Lam Rim" dưới đây, có nghĩa là xuất ly mạnh mẽ khỏi luân hồi (samsara) và thành tựu không tánh (shunyata).
Trước tiên, ta cần triển khai một sự xuất ly mạnh mẽ nhằm phá vỡ luân hồi. Ta có thể phát triển một sự thôi thúc phải phá vỡ luân hồi bằng cách thay đổi thái độ đối với chính vòng luân sanh, hầu có thể nhìn ra nó chỉ là một mặt sắt nóng rực hoặc một thỏi than cháy đỏ. Vòng luân sanh thảo luận ở đây không đòi hỏi ta phải nhìn thấy hoặc đi đến một nơi xa, ngay cả khu lân cận, mà nằm ngay trong từng hành động của ta qua đó tạo thành nhiều nhân duyên ràng buộc vào vòng luân hồi đỏ lửa. Ta cứ tạo mỗi ngày càng nhiều nhân thêm, có phải không? Vòng luân sanh tương tự như mặt sắt nóng bỏng, nhưng ta lại không nhận ra được như thế. Giống như trong "Lama Chopa" có viết, ta cứ nhìn luân sanh như một khu vườn tuyệt đẹp. Trong "Lama Chopa", có lời nguyện chúng ta có thể bứt phá thái độ đối với luân hồi đó. Lý do khiến ta có quan niệm sai lạc đó vì ta hầu như trở thành bệnh hoạn. Đối với người tinh thần bệnh hoạn hoặc bất lực, thật vô cùng khó khăn cho họ khi nhận ra được nhà tù tồi tệ nhất như là nhà tù. Dưới ảnh hưởng quá nặng nề của ba thứ ảo cấu độc hại — sân hận, tham luyến và vô minh — chúng ta không thể nhận ra luân sanh là một nơi tệ hại nhất; thay vì vậy lại còn thấy là một thứ gì rất đáng yêu thích. Điều ta cần hiểu là vòng luân sanh quả rất khó sống.
Một quan niệm đúng hoặc tri kiến đúng về vòng luân sanh giúp ta khai triển được sự thôi thúc phải giải thoát khỏi nó. Lấy thí dụ, chúng ta không muốn sống trong một nơi nguy hiểm vây quanh bởi sự sợ hãi, cho dù chỉ trong phút chốc. Chúng ta chẳng hề muốn thử và phải tránh thoát khỏi nó ngay càng sớm càng tốt.
Chúng ta cần quán chiếu về các khái niệm đó, bởi vì chúng không dễ đến tâm ta. Với quán chiếu liên lũy, ta sẽ đạt đến điểm không còn muốn sống trong luân hồi chút nào. Khi một sự thúc bách chân thật và mạnh mẽ muốn thoát luân sanh hiện đến tâm ta, đó là khởi điểm của sự triển khai sự xuất ly thật mãnh liệt. Dù có một ước vọng vượt thoát luân sanh, nhưng chỉ ước vọng không chưa đủ giải thoát ta. Sự giải thoát cuối cùng khỏi vòng luân sanh chỉ có thể đạt đến với tri kiến không tánh.
Trí tuệ không tánh có thể phá vỡ căn cội của vòng luân sanh.
Cần hiểu rằng không có sự trợ giúp của tuệ tri kiến không tánh, cho dù ta bỏ trọn đời ra thiền định, cũng không thể bứt phá khỏi luân hồi. Không thể nào thoát nếu không có trợ lực của không tánh tuệ. Đó chính là khí cụ then chốt hoặc vũ khí then chốt, dùng nó ta có thể cắt đứt cội rễ của sân hận và tham luyến vốn nảy sanh từ vô minh. Trước tiên, ta cần phải triển khai xuất ly, và sau đó tu tập hầu phát triển tri kiến đi vào không tánh tuệ.
Ta có thể phá vỡ luân hồi với trợ lực của không tánh tuệ. Một khi khai triển được sự hiểu biết trực khởi vô niệm, hoặc tri kiến về không tánh, từ đó trở đi, ta không còn tạo thêm bất kỳ nhân duyên mới nào để tái sanh trong vòng luân hồi nữa. Và thêm vào đó, tất cả nghiệp lực do ta đã tích tụ từ vô lượng kiếp trước giờ phút đó, có thể tẩy trừ hữu hiệu nhờ sự trợ lực của tri kiến vừa khám phá. Để minh chứng điều này, tôi xin trích dẫn một câu của ngài Thánh Thiên (Aryadeva) trong Tứ Bách Kệ Trung Đạo (Catuhshatatika), "Cho dù chỉ một chút nghi hoặc về hiện hữu cố nhiên, với khuynh hướng kết luận chân chánh, bấy nhiêu cũng đủ xé tan luân hồi thành mảnh vụn." Khi nào ta thành tựu trong việc chấm dứt mọi hôn ám ảo cấu, và thành tựu đạt đến giải thoát tự thân, chính là lúc ta đã đạt tinh túy trung đắc của kiếp người này. Một khi vượt thoát luân hồi, tất không còn tái phạm. Ta sẽ không tái sanh trong luân hồi. Ta sẽ đạt đến tự tại thường trực khỏi luân hồi, và từ đó trở đi, ta không còn chịu khổ.
QUẢ THƯỢNG ĐẮC
Nếu muốn đạt đến trình độ tối cao của thành quả trong kiếp người này, tức trạng thái Đại Giác Ngộ, ta cần thức giác về ý nghĩa của các thiền pháp "Lam Rim" dưới đây: Đại Từ bi, với một trong hai phương pháp đặc biệt; Dấn thân vào Bồ tát hành; và Hoàn tất Ngũ đạo trình cùng Thập Bồ tát địa (Bhumis).
Chúng ta vẫn còn một số các chướng ngại phải vượt qua, và còn nhiều điều phải đạt đến. Điều ta cần phải làm cho phép ta vượt mọi chướng ngại và đạt thành tựu hay đắc quả cuối cùng chính là vào Đại thừa đạo. Khi vào Đại thừa đạo, bước đầu tiên là triển khai Đại Từ Bi (Mahakaruna). Có những phương pháp hoặc trình tự phải theo hầu giúp ta triển khai tâm đại từ bi. Nếu theo phương pháp tối thượng do ngài đại Tịch Thiên (Shantideva) đề ra, ta cố vun trồng Đại Bi bằng phương pháp sâu xa của việc hoán đổi chỗ của ta và người khác [hoán vị ngã tha].
Nếu theo các trình tự hoặc truyền thống do đức Di Lặc Bồ tát (Maitreya) hoặc Thánh đức Vô Trước (Arya Asanga), thì cần phát triển bảy bước sau đây: (1) nhận ra tất cả chúng sanh đều là mẹ của ta; (2) hồi tưởng đến lòng từ ái của họ; (3) một thái độ đáp đền hảo tâm của họ; (4) trưởng dưỡng Đại Từ đến tất cả. Quán chiếu về Đại Từ sẽ tạo thành; (5) Đại Bi như một kết quả. Điều đó đến rất nhanh và phát khởi trong tâm. Khi triển khai được Đại Bi, ta trở nên phần tử của gia đình Đại thừa. Nó gần giống như một thứ thông hành. Phát triển thêm nữa và quen thuộc cùng Đại bi sẽ tạo thành (6) Diệu Ý. Đây là Diệu Ý, trong ý nghĩa nó vô cùng dũng mãnh, nhờ sức mạnh của từ bi. Tâm ta trở nên Đại hùng và Đại lực. Một kết quả của Diệu Ý chính là (7) Bồ đề tâm quý báu.
Sự khác biệt giữa Diệu Ý và Đại Bi chính là, với Đại Bi ta có một bản nguyện hoặc vọng cầu mạnh mẽ ràng mọi chúng sanh sẽ được thoát khổ, nhưng ta lại không có một cảm ý siêu diệu về trách nhiệm cá nhân rằng, "Tôi sẽ tìm các phương tiện hầu giúp họ thoát khổ." Ở trình tự Diệu Ý, ta chấp nhận trách nhiệm cá nhân đó. Như kết quả, nếu ta cố công trưởng dưỡng Bồ đề tâm, tất sẽ thật sự trở thành một vị Bồ tát.
Trình độ đắc quả ta cảm hướng đến sẽ ấn định kết quả thành tựu ta đạt đến. Thành tựu tối cao phải là mục tiêu của ta, bởi vì nó cho phép ta thật sự có được phương tiện trở nên hữu ích cho tha nhân cũng như làm tròn các mục tiêu cao cả nhất của mình.
Đạt đến quả Thượng Đắc trong kiếp đời này không phải là một điều vượt ngoài phương tiện của chúng ta. Tuy nhiên, nhiệm vụ này đòi hỏi chúng ta phải trưởng dưỡng chánh kiến và dấn thân vào các thiện hành hầu đắc quả vị. Hai kinh văn tiếp theo đây sẽ giúp chúng ta làm được việc này. "Luyện Tâm Bát Đoạn" soi sáng phương cách triển khai tâm cần thiết để đạt quả Thượng Đắc, thí dụ như, hai thứ bồ đề tâm; và "Tam Thập Thất Bồ Tát Hành" giải thích các sinh hoạt ta phải làm hầu trở nên một vị Bồ tát.