BUDDHA HOME

TRUYỆN PHẬT GIÁO

horizontal rule

 

SỐNG

Diệu Nga

 

 

Khi chiếc tàu haœi quân lặng lẽ nhổ neo vào một ngày cuối tháng 4 năm 1975—mà nhiều người gọi là tháng 4 đen—để tìm bến tự do thì chàng trung sĩ Cường có caœm tươœng được thoát ly cùng một lúc hai vòng kiềm toœa: gia đình và quân đội.

Mặc cho ai khóc lóc, than thơœ hay u sầu, Cường bắt đầu lân la đi tán gẫu trên tàu. Nhưng nụ cười thoaœi mái và những câu bông đùa cuœa anh không được ai hươœng ứng nên trơœ thành trơ trẽn, vô duyên. Anh muốn nói chuyện, muốn làm một hành động gì đó cho niềm vui rộn ràng trong anh được biểu lộ ra ngoài nhưng đành cụt hứng.

Trung úy Baœo thấy anh cứ lẩn quẩn trong đám dân di taœn với bộ đồng phục xốc xếch lôi thôi, đã nghiêm mặt nhìn anh, yêu cầu anh trơœ về với vị trí và phận sự. Cười nói thầm trong bụng: "Được rồi, ông còn chỉ huy tôi một tháng nữa là cùng. Tới Mỹ rồi, ai cũng như ai. Chừng đó tha hồ tôi hươœng tự do!"

Nhưng anh cũng không vội gì đi vào bếp phụ lo việc ẩm thực như vừa mới phân công hôm qua. Anh len loœi xuống khu cơ khí là vùng hoạt động quen thuộc cuœa anh. ƠŒ đây không có ai, anh nằm dài trên sàn, tính đánh một giấc nguœ ngon lành. Song giấc nguœ không đến được vì bao nhiêu ý nghĩ, hình aœnh dồn dập hiện ra trong đầu anh.

Mọi người đều di taœn chung caœ gia đình, riêng anh là dân haœi quân mà không mang ai theo; không phaœi chỉ vì lịnh cấm quân tại chỗ nhưng sâu xa hơn còn lý do tâm lý rất thầm kín đã khiến anh dứt khoát ra đi không muốn dây dưa liên hệ với những người trong nhà. Dù anh gia nhập quân ngũ đã năm năm rồi, đã 5 năm thường xuyên vắng nhà nhưng caœm giác bị hất huœi, bị khinh reœ trong gia đình từ thuơœ ấu thơ vẫn còn ám aœnh Cường một cách mạnh mẽ.

Ba anh, giáo sư Toán cuœa trường Chu Văn An, là con người ốm nhom, khô cằn, nghiêm nghị với gương mặt xương xẩu và giọng nói khàn khàn vì dạy thêm quá nhiều. Ông chưa bao giờ cơœi mơœ, vui veœ với anh. Con người khoa baœng ấy chỉ chú trọng bằng cấp mà anh thì không sao đậu nổi cái bằng Tú Tài I nói chi là tốt nghiệp đại học như bà chị dược sĩ và cậu em kỹ sư điện cuœa anh. Anh biết, đối với "ổng," anh là một cái gì đó đã kéo nấc thang danh vọng cuœa gia đình anh xuống thấp một bậc. Dù ông không đánh đập, mắng moœ gì — lý do vì ông không có thì giờ — nhưng đối với cha, anh luôn luôn mang mặc caœm có tội nên cứ lẩn tránh luôn.

Mẹ anh cũng là nhà mô phạm, bà dạy nữ công gia chánh cho một trường trung học công lập. Bà hiền lành, dễ thương với mọi người, ai cũng mến nhưng có lẽ không ai biết được cái tánh quá cẩn thận, quá tỉ mỉ và hay rầy rà cuœa bà, đặc biệt là đối với Cường. Có thể vì chị Nguyệt và em Dũng ngày tối cứ vùi đầu vào sách vơœ nên chẳng làm phiền bà.

Cường thì lúc nào cũng có veœ raœnh rỗi quá. Ngoài giờ đến trường, nếu không đá banh thì về nhà luyện chươœng. Anh sây mê truyện kiếm hiệp đến nỗi quên ăn cơm chiều thì dĩ nhiên những "công tác" trong ngày cuœa anh như quét sân, lau nhà, lau bà ghế... anh đâu thể nhớ được! Hoặc đôi khi, vì bị "dũa" quá anh cũng rán nhớ nhưng ngoài tánh lười anh lại còn có tật "ẩu" nên làm quấy quá cho xong, chẳng sạch sẽ gì, chẳng đâu ra đâu, nên cũng lại bị rầy. Làm cũng rầy mà không làm cũng rầy nên anh sinh ra lì lợm, cứ rán chịu đựng làm thinh mỗi khi "baœ" "dũa" thì có thể buông trôi hết mọi công tác. Bơœi thế nên hai mẹ con chẳng hạp nhau, anh không thích bà mà có lẽ bà cũng chẳng thương anh như chị Hai và em Dũng.

Đối với Cường, Nguyệt và Dũng chỉ là hai con mọt sách, không biết gì khác hơn là "gạo bài" lo thi cưœ. Chẳng những họ không biết chuyện năm châu bốn bể mà ngay đến thời sự nóng hổi trong nước, trong thành phố, thậm chí trong cư xá Phú Lâm cuœa họ, họ cũng không quan tâm. Kiến thức cuœa hai người chỉ là những công thức cũ xì, những bài baœn cũ rích. Hai người ấy lúc nào cũng an phận đi theo con đường đã được vạch sẵn.

Cũng tội cho em Dũng, nó kém anh có 2 tuổi mà người nhoœ thó với "bộ xương cách trí" vì chẳng bao giờ tập thể dục, chơi thể thao; còn anh từ lúc 16 tuổi, thân hình đã phát triển thành một thanh niên cao lớn, vạm vỡ.

Tuy nhiên, anh biết, dưới mắt chị Hai và thằng Dũng, anh chỉ là người vô tích sự, lười biếng và ba xạo. Tuy họ không nói ra nhưng trong cái nhìn, cách đối xưœ và lời lẽ bóng gió, anh nhận ra điều ấy không khó. Thành ra, tuy sống trong gia đình ruột thịt mà anh caœm thấy lạc lõng, cô đơn. Anh không thương người nào trong nhà và có lẽ trong nhà cũng chẳng ai thích anh. Sau hai năm rớt Tú Tài I, không còn đuœ điều kiện để được hoãn dịch vì lý do học vấn, anh không buồn chút nào mà lại caœm thấy phấn khơœi vì sắp được đi lính, được thoát ra khoœi gia đình teœ nhạt cuœa anh.

Cường xin vào haœi quân, hy vọng được thoœa thích tự do giữa caœnh trời cao bể rộng, như con cá được vẫy vùng giữa biển khơi. Nhưng thực tế không phaœi như anh tươœng. Quân đội là lò luyện thép. Anh phaœi khép mình trong kyœ luật cứng ngắt cuœa nhà binh, phaœi tuân thượng lệnh một cách tuyệt đối, phaœi giữ gìn mọi thứ ngăn nắp và sạch sẽ. Đó là những gì anh ghét nhất vì nó trái ngược với thói quen bừa bãi và tánh buông trôi cuœa anh. Thành ra bị phạt hoài, vì vậy trong suốt 5 năm anh không được lên cấp bậc. Thượng cấp xếp anh vào loại "bê bối." Anh caœm thấy không ai hiểu được mình; mọi người đánh giá anh quá thấp; tự ái cuœa anh bị tổn thương một cách thường xuyên.

Được đi Mỹ, anh sung sướng biết bao! Anh tin rằng nơi vùng đất mới này anh sẽ hạnh phúc hơn, trước tiên là được sống tự do theo ý mình, kế đó là không còn bị cha mẹ rầy rà, không có thượng cấp ban lệnh. Anh được làm chuœ đời mình.

Sau thời gian tạm trú vô vị ơœ đaœo Guam, Cường được một nhà thờ Tin Lành baœo lãnh về San Francisco. Với dáng dấp khoœe mạnh, cao ráo, cái miệng hay cười và số vốn Anh văn tạm đuœ để giao thiệp, Cường chiếm caœm tình cuœa những người trong hội baœo trợ không khó. Họ giúp anh có một nơi để cư ngụ, các vật dụng cần thiết và việc làm tạm thời tại cây xăng. Ngày Chuœ nhật, sau lễ nhà thờ, họ thay phiên nhau chơœ Cường đi ăn tiệm, đi chơi trong thành phố. Anh caœm thấy mình trơœ thành quan trọng vì được nhiều người săn sóc và chú ý. Anh hài lòng.

Nhưng ông mục sư có cái nhìn xa hơn. Ông nói riêng với Cường: "Cậu còn treœ, nên tìm học một nghề chuyên môn thì tương lai sẽ khá hơn, chẳng lẽ làm việc ơœ cây xăng mãi à?"

Cường traœ lời cho qua chuyện: "Tôi không đuœ tiếng Anh!" Vì câu nói đó, hội baœo trợ sắp xếp người dạy Anh văn cho Cường. Anh ngán quá! Thà vô trường học còn dễ hơn, ơœ đây thầy kèm sát bên anh chịu không nổi. Thầy càng hăng hái tận tâm, Cường càng khổ sơœ vì anh sợ học hành, sợ sách vơœ từ nhoœ đến giờ. Để thoát nạn, anh naœy ra ý định xin đi học sưœa xe hơi.

Ông mục sư biết thời gian ơœ quân đội, anh chuyên về ngành cơ khí, rất tán thành ý kiến này. Chính ông đứng ra lo đơn từ và chỉ dẫn anh nộp đơn vay tiền học. Chính phuœ Mỹ rất khuyến khích việc học nên sẵn sàng giúp phương tiện. Người ta cho anh 3,000.00 và cho mượn 7,000.00 để hoàn tất chương trình học một năm, nghĩa là trong năm học ấy, anh khoœi phaœi bận tâm về học phí cũng như tiền ăn ơœ.

Trường học tận Oakland, cách nơi đây khá xa nên Cường phaœi dời chỗ. Đi xa nhà thờ, không còn gặp ông mục sư và những người trong hội, anh caœm thấy thoaœi mái hơn. Rồi đây anh có thể sống hoàn toàn theo ý mình. Sau một năm ơœ Mỹ, anh coi như đã quen mọi thứ, không còn rụt rè e sợ gì nữa. Tung hoành kể từ đây!

 

* * *

 

— Mầy kêu cậu Ba dậy uống thuốc đi chớ! Thuốc xắc lâu, nguội ngắt rồi. Tao phaœi về nhà lo cơm nước ba mầy. Cơm trễ, ổng nhằn dữ lắm.

Ngân có veœ không vui:

— Chiều nay con có hẹn đá banh, giờ kẹt vô vụ nầy! Bịnh tiểu đường mà nhà thương chạy rồi thì chỉ chờ ngày thôi. Caœ tuần nay, ổng mê man hoài, má thấy không?

Chị Hai Nguyệt xuống giọng gần như năn nỉ:

— Lúc mê lúc tỉnh thành ra phaœi có người canh chừng! Thôi con rán bữa nay nữa, tuần sau đổi phiên, bên cậu Tư mầy lo.

Thấy Ngân vẫn ngồi im, sụ mặt, Nguyệt thêm:

— Chừng nào cậu Ba tỉnh dậy, cho uống thuốc rồi, muốn đi đâu thì đi.

Ngân tiếp tục càu nhàu:

— Việt kiều như cậu Ba thiệt con hổng ham chút nào, sao ổng nghèo rớt mồng tơi vậy?

— Má cũng hổng biết nữa! Nhưng lúc mới về nước, thấy cậu Ba mầy cũng khá đó chớ. Cậu cho tiền anh em, cô bác cũng bộn bàng. Chắc tại ngồi không mà ăn thì bao nhiêu cũng hết. "Tọa thực sơn băng" mà. Tánh cậu Cường từ nhoœ đã vậy rồi, lười biếng và không biết lo xa.

Nói xong, Nguyệt bước nhanh ra khoœi nhà. Bà không muốn nói chuyện với con trai lâu hơn.

Cường trơœ mình, anh nghe có tiếng nói chuyện léo nhéo bên tai nhưng không nhận ra được gì caœ. Anh lại chìm trong giấc mộng triền miên.

 

* * *

 

"Thời gian ơœ Oakland là giai đoạn thoaœi mái tự do trăm phần trăm cuœa Cường. Muốn làm gì thì làm, không ai dòm ngó, kiểm soát hay khuyên nhuœ! Muốn nghỉ học ư? Cứ nằm nhà xem tivi. Căn phòng bừa bãi lung tung khoœi cần dọn dẹp. Đồ sạch, đồ dơ, giày vớ, khăn tắm... cứ vứt đại đâu đó, lộn xộn có sao đâu, chừng nào cần tới thì tính sau. Như vậy mới sướng, còn sống ngăn nắp, thứ tự sao mà chán phèo!

Trong lớp, Cường quen với mấy người bạn Mỹ cùng trang lứa và cũng thích sống bừa bãi, bụi đời; họ thường ruœ nhau đi chơi biển, leo núi, cắm trại, đi săn, câu cá là những thú giaœi trí rất thích hợp với Cường nên anh thường nghỉ học để "sống vui veœ hồn nhiên." Kết quaœ là anh không đuœ tiêu chuẩn để tiếp tục khóa hai. Chuyện đó cũng chẳng quan trọng gì đối với anh, Cường boœ học luôn. Boœ học, trường còn hoàn lại học phí cuœa khóa sau, Cường sung sướng ký nhận 3,500.00 đồng, đổi chiếc xe khá hơn và đi ăn tiệm thường xuyên hơn, khoœi phaœi nấu nướng lôi thôi chi hết. Oakland có khá nhiều quán ăn Tàu, chuœ tiệm đa số là người Hồng Kông, họ nấu ngon lắm, nhất là Haœi Ký mì gia, quán ăn trông có veœ bình dân mà hợp khẩu anh. Cường trơœ thành thực khách quen thuộc ơœ đấy.

Nhưng thời gian hươœng thụ nầy không kéo dài được bao lâu. Khi tiền cạn dần thì thư đòi nợ cuœa nhà băng bắt đầu gưœi đến yêu cầu traœ góp số tiền 7,000.00 đô đã mượn trước kia. Để lánh nợ, Cường bắt đầu dời chỗ ơœ thường xuyên; những người trong nhà thờ không ai biết địa chỉ cuœa Cường; họ âm thầm chia xeœ với nhau sự thất bại cuœa lòng nhân ái. "Ai đem con sáo sang sông, để cho con sáo xổ lồng bay xa!"

 

* * *

 

Chờ mẹ ra khoœi cưœa hồi lâu, Ngân đập mạnh vào vai cậu, ông không nhúc nhích, chàng ta nắm tóc mai cuœa ông mà giựt. Cường nghe đau điếng, mơœ mắt ra, ngơ ngác, chẳng biết mình đang ơœ đâu? Ông rên khừ khừ trong miệng, cổ họng khô ran.

Ngân vừa đỡ cậu ngồi dậy, vừa nói:

— Cậu Ba dậy uống thuốc!

Cường rán nhướng mắt lên, đờ đẫn nhìn chung quanh:

— Đây là đâu vậy?

— Nhà cậu, bộ cậu không biết sao?

— Tao tươœng nhà thương!

Cậu nằm nhà thương hai tháng trời, thuốc men tốn kém quá chừng mà không hết bệnh, bác sĩ biểu đưa trơœ về nhà.

Ngân thấy cậu có veœ tỉnh táo, toœ veœ ân cần, bưng chén thuốc kề tận miệng Cường. Cường hớp một hớp, chén thuốc vừa đắng vừa lạnh làm ông lợm giọng muốn ói.

Ngân lật đật nói:

— Cậu bóp mũi lại, ực một hơi là xong. Má con nói cậu có veœ chịu thuốc Nam.

Rồi chờ cậu uống xong chén thuốc, chàng thanh niên gợi chuyện:

— Cậu hết bệnh ăn Tết mới vui. Còn 5 tuần nữa là Tết rồi mà gia đình chưa chuẩn bị gì, mấy chuœ nợ thì bắt đầu kêu réo.

Cường thơœ dài. Hễ tỉnh được một chút thì nghe mọi người nhắc đến nợ, đến tiền. "Không ai thật sự thương mình caœ!" Cường buồn ngao ngán.

Chẳng biết vô tình hay cố ý, Ngân tiếp:

— Có người khuyên khi nào thấy cậu tỉnh táo, nên nhắc cậu làm tờ di chúc.

Cường nổi giận một cách đột ngột:

— Tao có cái "đách" gì mà làm di chúc di ngôn mậy!

Ngân đáp tỉnh khô:

— Cái nhà nầy, có người định giá 100 cây.

Cơn giận ập tới thật ác liệt, nó làm Cường uất nghẹn, ông ngoeœo đầu một bên, bất tỉnh. Ngân nhún vai, boœ ra ngoài hút thuốc.

 

* * *

 

... Thời gian ơœ không sống thoaœi mái hươœng thụ tại Oakland chưa đầy một tháng thì Cường đã caœm thấy chán. Ăn không ngồi rồi, chẳng nghề nghiệp, chẳng tương lai, đôi khi nghĩ lại cũng giật mình. Ruœi đau yếu bịnh hoạn thì sao? Hết tiền, làm sao sống? ƠŒ Mỹ, việc làm là quan trọng hơn caœ, nó như lá bùa hộ mạng. Có việc làm, chuyện gì cũng hanh thông.

Một người bạn "bụi đời" ruœ Cường vào nhóm bán cần sa, ma túy, nghề nầy kiếm tiền nhanh, sống ngoài vòng pháp luật, tự do lắm. Nhưng Cường vốn không có "máu lạnh," anh nhát gan lắm nên Cường quyết thối thoát. Dù sao cũng cần một việc làm. Anh muốn làm nơi nào traœ tiền mặt, như vậy có thể trốn nợ một thời gian.

Anh đến tiệm ăn Haœi Ký quen thuộc để xin một chân bồi bàn. Người chạy bàn không thiếu nhưng cũng may, ông chuœ tốt bụng vui tính cho anh vào phụ bếp. Việc này cực nhọc, chẳng hạp với anh nhưng đành vậy, vì không có cơ may nào khác. Làm ơœ đấy đâu được ba tháng thì anh chiếm caœm tình cuœa ông chuœ, chẳng phaœi vì anh gioœi dắn siêng năng hơn người nhưng nhờ tánh mềm moœng, chịu đựng và vui veœ.

Ông Haœi Ký hay đùa, cứ hoœi anh muốn vợ không, ông gaœ con gái cho. Cường tự lo thân mình còn chưa xong, dám đâu nghĩ đến chuyện gánh thêm nợ, chỉ biết cười trừ. Nhưng con gái ông chuœ — A Muối — vốn ế ẩm lâu rồi vì tánh dơœ hơi, vui buồn thất thường như "mát dây mát điện," chẳng ai dám rớ, nay cứ đeo sát chàng thanh niên Việt Nam khá đẹp trai nầy.

Ông Haœi Ký không muốn để "trái bom nổ chậm" trong nhà lâu hơn nữa, vaœ lại con gái ông đã 30 tuổi rồi, nếu không nhân dịp nầy gaœ phứt đi thì biết bao giờ mới tống "cuœa nợ" ra khoœi nhà được?

Ông bèn thương lượng với Cường: "nếu anh đồng ý cưới A Muối làm vợ, ông sẽ cho cuœa hồi môn bộn bàng đuœ để mơœ một tiệm ăn nho nhoœ ơœ vùng xa. Chỉ cần một điều kiện duy nhất: đừng bao giờ boœ con gái ông!"

Trong lúc Cường đang do dự chưa traœ lời thì dịp may đến. Ông Haœi Ký cho biết người bà con cuœa ông ơœ Sacramento muốn sang tiệm ăn 50 chỗ ngồi, đang đông khách. Nếu Cường bằng lòng, ông cho phân nưœa vốn còn phân nưœa sẽ traœ góp dần cho chuœ cũ, lại truyền nghề nấu ăn cho.

Cường ngẫm nghĩ: "Keœ khố rách như mình nếu không nắm cơ hội nầy thì chẳng biết đời nào mới được làm chuœ nhân ông? Vaœ lại, A Muối dù không đẹp cũng đâu xấu như Chung Vô Diệm! Còn ruœi nó nổi cơn, nó xổ tiếng Tàu, mình hiểu chi đâu mà ngại. Tiếng Anh cuœa nó cũng cỡ mình thôi, chưa đuœ để gây lộn.

Thế là đám cưới được cưœ hành. Hai vợ chồng dọn về Sacramento ngay. Cuộc hôn nhân bằng lý trí tươœng đâu sẽ làm Cường khổ sơœ vì cô vợ "tốc kê" nào ngờ tình yêu chân thật cuœa A Muối có tác dụng không ngờ. Nàng chăm sóc, chìu chuộng, thương yêu và phục tòng Cường hết mực khiến Cường sung sướng quá; anh hài lòng lắm và bắt đầu yêu vợ. Và mầu nhiệm thay, tình caœm cuœa Cường khiến cho chứng bịnh tâm thần cuœa A Muối cũng thuyên giaœm. Hai người sống hạnh phúc bên nhau, chí thú lo làm ăn. Hai năm sau, họ traœ dứt số tiền còn thiếu rồi năm kế đó, họ tậu nhà. Khi họ định cư ơœ đấy được 10 năm thì họ đã là chuœ cuœa một nhà hàng lớn, có thể lãnh tiệc đám cưới 300 người.

Thời đó, việc làm ăn sao dễ dàng quá! Sự thành công làm hai vợ chồng phấn chấn trên đường sự nghiệp, không buồn để ý đến vấn đề hiếm muộn. Hai người cũng có đi bác sĩ trị liệu nhưng không có thì giờ để theo các ông chuyên khoa mãi, vì ông này điều trị một thời gian lại gưœi đến ông khác, chẳng ai dám caœ quyết, hứa hẹn gì. Vì vậy 20 năm sống bên nhau, họ chẳng có mụn con nào.

Cường không hề quan tâm đến vấn đề nối dõi tông đường, chuyện đó chẳng có nghĩa lý đối với anh vì chính anh đã khước từ gia đình, tuyệt giao với họ bao nhiêu năm rồi. Có con mà nó không đồng quan niệm sống với mình thì chỉ gây khổ cho caœ hai bên.

A Muối cũng biết điều, cứ khuyên Cường nên liên lạc với cha mẹ anh em bên Việt Nam, nàng caœ quyết: "Tại anh cắt đứt tình nghĩa mẹ cha nên trời traœ báo, khiến anh chẳng có con!"

Nghe vợ cằn nhằn mãi, Cường cũng rán viết một bức thư gưœi về Việt Nam nhưng thư bị traœ lại vì không còn ai ơœ địa chỉ cũ, thế là anh có lý do để trấn an lương tâm và khoœi bị A Muối "tụng" hoài.

Từ trong tiềm thức thăm thẳm cuœa tuổi thơ, những lời giáo huấn nghiêm khắc, những sự rầy rà mắng nhiếc cuœa cha, cuœa mẹ, sự khi dễ cuœa chị, cuœa em kết thành một khối mặc caœm, ẩn ức trong tâm hồn Cường khiến anh oán ghét họ đến nỗi muốn lìa xa, và tệ hơn nữa, muốn cắt đứt caœ ân tình.

"Cái tôi" hèn mọn cuœa mỗi người luôn luôn có khuynh hướng muốn được tâng tiu, khen ngợi, được trọng vọng. Cường không bao giờ thoœa mãn được những ước vọng thầm kín ấy nên tự ái cuœa anh bị tổn thương nặng nề, anh đau khổ không nguôi. Mãi đến khi gặp A Muối, nàng yêu anh, nể vì anh, vô tình đáp ứng được những khao khát mòn moœi tự thuở nào, anh caœm thấy sung sướng. Hơn thế nữa, Cường còn được làm chuœ nhân ông cuœa mấy chục người giúp việc. Cường traœ lương hậu hĩ nên ai cũng vui lòng, họ tuân lời chuœ nhân răm rắp; anh tự thấy mình có uy quyền, trơœ thành một nhân vật quan trọng, ai làm việc chi cũng phaœi hoœi ý kiến anh; đó cũng là một sự thích thú chưa từng có trong quãng thời gian đầu đời cuœa anh. Bao nhiêu điều thoœa thuê ấy đuœ để bù đắp cho sự thiếu vắng tiếng cười cuœa treœ thơ. Anh không hề bận tâm đến vấn đề con cái nhưng vợ anh lúc sau nầy thì cứ uœ ê sầu muộn.

Cường hoœi thẳng vợ: "Tại sao em quá lo về việc con cái? Sống sung túc, làm ăn phát đạt như vầy chưa đuœ cho em hài lòng sao? Hãy nói thiệt cho anh biết vì sao em khao khát có một đứa con? Ngoài nhu cầu tình caœm muốn được làm mẹ, em còn mong con vì lý do nào khác nữa, phaœi không?"

A Muối đã khóc sướt mướt, traœ lời trong tiếng nấc nghẹn ngào: "Đối với người Tàu, đàn bà không con là một trọng tội, chồng có thể boœ. Hồi đó, dù anh hứa với ba em là sẽ không bao giờ ly dị, nhưng nếu dựa vào cớ nầy, ba không thể nào phaœn đối."

Cường xót xa, ôm vợ vào lòng: "Sao em lại có ý nghĩ ấy? Quan niệm đó cũ rích, lỗi thời và không hợp lý. Vaœ lại anh là người Việt Nam, chúng mình lại sống trên đất Mỹ, không ai bắt mình phaœi theo huœ tục ấy được. Vaœ lại, như em thấy đó, trên đời nầy, anh chỉ có mình em, em đã làm cho anh được hạnh phúc, không bao giờ anh có ý nghĩ boœ bê em. Anh thương em nhứt trên đời!"

Người chồng nhìn sâu vào đôi mắt đẵm lệ cuœa vợ mình, âu yếm hôn lên trán nàng, hoœi tiếp: "Rồi, còn lý do nào nữa, em nói luôn đi!"

Nàng xúc động vì sự thương yêu cuœa chồng nhưng lòng nàng cũng còn nặng mối lo: "Anh nghĩ coi, gia tài sự nghiệp cuœa mình gây dựng mấy chục năm nay sẽ không có người tiếp tục. Sự saœn mình bây giờ trị giá bạc triệu chớ ít đâu, nếu không con cái, khi mình chết biết giao lại cho ai?

Cường bật cười lớn: "Em lo xa quá! Hãy tính chuyện bây giờ nè, coi mình cần bổ thêm hàng gì? Hệ thống lạnh còn tốt không, thằng Chành sắp nghỉ việc phaœi lo tìm người thay thế... Caœ trăm thứ trước mắt không lo, raœnh đâu mà tính chuyện xa vời..."

"Xa hay gần gì thì chuyện đó cũng tới mà anh!"

"Được rồi, nếu em muốn tính thì anh tính cho, gọn lắm! Khi hai đứa mình qua đời, tất caœ tài saœn sẽ cúng cho hội từ thiện, hoặc nhà thương, hoặc trường học!"

"Làm việc phước đức thì cũng tốt nhưng mà nghĩ lại cũng tiếc, công mình làm việc cực nhọc biết bao lâu mới có được như ngày nay..."

Cường thương cái tánh thiệt tình cuœa vợ, anh cười an uœi: "lúc đó chết rồi, còn sống đâu mà tiếc cuœa haœ em!"

A Muối "háy" chồng một cái dài thượt: "Ờ, em thì ưa lo đuœ thứ, còn anh thì khoœe ru, không biết lo là gì!"

 

* * *

 

Cường thức giấc lúc tờ mờ sáng. Anh caœm thấy tỉnh mỉnh hơn mọi ngày. Có tiếng chim ríu rít trên cây trứng cá trước nhà, nghe vui quá, anh lần bước ra cưœa. Trời còn mát lạnh trong sương sớm. Cường im lặng đứng nhìn hạnh phúc bình dị cuœa mấy chú chim seœ đang réo gọi nhau tìm mấy trái chín đoœ ẩn mình trong lá.

Bỗng nhiên Cường thấy cuộc đời vẫn còn tươi đẹp nếu mình biết sống. Anh không còn muốn chết, không muốn tiếp tục tự tưœ bằng viên kẹo ngọt mà Dũng lén chị tiếp tế cho anh theo lời yêu cầu.

Anh đi rưœa mặt, chaœi tóc và có dịp nhìn mình trong gương: chỉ sau 2 tháng mang bịnh trầm kha, anh không ngờ mình biến đổi đến như vầy. Mặt mày xanh dờn, thịt thà trên mặt chạy đi đâu hết làm cho bộ da như dán sát vào xương gò má, đôi mắt thụt sâu. Nếu không có râu tóc xồm xàm trắng xám ơœ chung quanh thì có lẽ anh giống hệt cái đầu lâu. Anh cười thầm: thần chết chắc cũng xấu xí như thế nầy là cùng.

Bây giờ, anh biết mình đã thoát khoœi lưỡi hái cuœa tưœ thần. Sau một tuần uống thuốc Nam, bịnh tình anh thuyên giaœm một cách không ngờ. Anh caœm thấy sung sướng được sống lại, dù chưa biết sống để làm gì và sống như thế nào cho có hạnh phúc chân thật chứ hai năm nay, sống giữa lòng quê hương, bên cạnh những người thân thuộc với tiền bạc thừa mứa mà anh tự thấy chán chường, vô nghĩa làm sao!

Có tiếng đứa bé rao bán bánh mì. Ngày mới dọn về xóm chợ Cây Gòn nầy, anh đã nghe tiếng đứa bé rao hàng. Bây giờ chân nó vẫn raœo bước, miệng nó vẫn còn rao lanh laœnh: "Bánh mì đây, bánh mì nóng dòn đây...!" Cuộc đời nó sẽ mãi mãi như thế nầy ư?

Anh thèm một ổ bánh mì nóng, màu vàng sậm thơm phức ruột trắng xốp bên trong. Bánh mì ơœ Việt Nam ngon hơn bánh mì ơœ Mỹ nhiều vì lớp da ngoài dầy hơn, giòn hơn, lại có vị ngọt, ăn không cũng đuœ ngon rồi.

Cường bước ra sân chờ đứa bé đi qua, chuẩn bị sẵn tiền trong túi áo. Thằng bé ốm, lùn, thuộc loại nhoœ con, đang quaœy bao vaœi sau lưng, cái bao to gần bằng nó. Nó lanh quá, thấy anh đứng chờ, tấp vô liền, không đợi kêu. Anh không đoán được tuổi cuœa đứa bé vì nó chai quắt. Nó lẹ làng mơœ túi vaœi, trao anh một ổ bánh còn nóng hổi, xốp xộp, vàng lườm rồi cột túi lại cũng nhanh như khi mơœ. Cường đưa nó tờ giấy bạc, định baœo giữ luôn phần thối, nhưng lại thôi. Lòng tốt nhiều khi phaœi sưœ dụng một cách khôn ngoan. Anh cho nó lần nầy, có thể nó sẽ quấy rầy mời mọc anh mỗi ngày và vô tình sẽ làm hoœng vơœ kịch "nghèo" cuœa anh từ bao lâu nay.

Anh trơœ vào nhà, đóng cưœa cẩn thận rồi ngồi vào ghế salon bắt đầu ăn. Anh trân trọng xé từng miếng bánh nóng và thơm boœ vào miệng nhai thật kỹ, thật chậm. Ngon quá! Không cần chấm đường, cũng không cần trét bơ; miếng bánh tự nó đã có vị ngọt khi trộn lẫn với dịch vị, nếu mình ăn vội vàng, sẽ không được hươœng sự ngon ngọt nầy.

Ổ bánh không lớn lắm nên Cường đã ăn hết trơn. Ăn xong, anh nằm duỗi chân trên ghế, tận hươœng sự thú vị còn ứ đầy trong miệng làm caœ thân tâm đều dễ chịu.

Một lúc sau anh mới để ý quan sát thấy vật dụng trong nhà đều biến đi đâu gần hết: từ cái truyền hình, máy hát CD — stereo, máy chiếu phim ơœ phòng khách cho đến quạt điện ơœ đầu giường, microwave trong nhà bếp đều không còn.

Cường lật đật chun dưới gầm giường, giơœ miếng gạch lên, yên tâm khi thấy cái tuœ sắt nhoœ, khóa số, vẫn nằm y nguyên chỗ cũ. Tuœ nầy anh không để nhiều tiền đô trong đó nhưng nó chứa đựng mọi thứ giấy tờ cần thiết liên quan đến tài saœn cuœa anh. Cường không muốn ai biết mình giàu có vì người giàu thường bị keœ xung quanh tâng bốc, nịnh nọt chớ ít khi gặp được chân tình.

Anh lục tuœ tìm cái đồng hồ đeo tay, nó cũng chịu chung số phận với những món đồ kia, chắc đã ra chợ trời rồi. May mà đồng hồ treo tường có lịch ngày tự động vẫn còn, chắc vì nó thuộc loại reœ tiền.

Gần 8 giờ rồi. Bữa nay Chuœ nhật, thế nào chị Hai Nguyệt và chú Dũng cũng đến đây. Cường muốn giaœ mê như mấy hôm trước để có thể hiểu họ nhiều hơn: họ săn sóc vì thương mình hay chỉ vì tiền bạc?

Khi nghe tiếng máy xe Honda nổ bình bịch trước sân, Cường vội lên giường nằm, vò đầu cho tóc bùi xù lại rồi nhắm mắt, xây mặt vào vách.

Có người mơœ cưœa, rồi giọng cằn nhằn cuœa Dũng:

— Chị Hai, bộ chị tính cho anh Ba uống mấy thứ lá cây đó hoài hay sao? Chị cũng là dược sĩ mà đầu óc chẳng khoa học chút nào hết!

— Thì lá cây cũng là dược liệu. Thuốc tây cũng có thứ lấy chất liệu từ thaœo mộc vậy.

— Nhưng mà người ta có nghiên cứu, có thưœ nghiệm đàng hoàng. Đằng nầy chị đi tin ông thầy bá vơ nào đó; mỗi ngày mắc công canh chừng xắc thuốc. Bác sĩ bó tay thì mấy ông lang vườn làm sao trị được?

Cường nghe có bàn tay đặt lên trán mình và tiếng chị Hai traœ lời:

— Thì còn nước, còn tát. Chẳng lẽ nằm yên chờ chết sao?

Rồi chị mỉa mai:

— Ai cũng mong cậu Ba chết đâu chết phức cho rồi để chia gia tài, tôi biết mà! Nhưng tôi vẫn hy vọng cậu ấy qua khoœi, nếu không sống lâu thêm được thì ít ra cũng sáng suốt, tỉnh táo trơœ lại để biết lòng dạ cuœa mọi người.

Dũng hơi chột dạ vì bà chị nói đúng tim đen cuœa anh. Hồi bác sĩ tuyên bố "Không còn hy vọng gì nữa!" thì Dũng đem anh mình trơœ về nhà với lòng vui thầm vì sắp được hươœng mớ tiền to. Nhưng chẳng biết sao "aœnh" sống dai quá, caœ tháng rồi chớ ít sao!

Nguyệt được nước, chị nói thêm:

— Có người còn mua kẹo, mua đường theœ cho cậu ấy ăn đặng chết sớm!

Dũng chống chế:

— Tại "aœnh" thèm, "aœnh" nói: "Sắp chết rồi, còn cữ kiêng gì nữa!" Tôi thấy tội nghiệp mới cho "aœnh" ăn chút đỉnh.

Nguyệt bước trơœ lại giường:

— Nè, cậu Tư thấy bữa nay sắc mặt anh cậu có khá hơn trước không? Chịu thuốc rồi đó!

Dũng không phaœi không biết tẩy cuœa bà chị, anh nói móc:

— Ờ, anh Ba hết bịnh thì chị có công lớn! Thuốc thí chẳng tốn hao gì mà được lợi to!

Dù đó là sự thật mà nghe em nói trúng phóc như vậy, Nguyệt cũng thấy khó chịu. Chị bắt sang chuyện khác:

— Lợi đâu không biết, chỉ thấy nợ nần buœa vây. Hồi cậu Ba bịnh tới giờ, tôi đứng ra vay 500 đô rồi. Chỉ mong cậu ấy tỉnh táo trơœ lại để thanh toán nợ nần cho tôi raœnh rang ăn Tết.

Nguyệt bước ra cưœa để chấm dứt câu chuyện. Vừa đi chị vừa nói:

— Thôi, em ơœ nhà lo phần vệ sinh cho Cường. Tôi đi đến "Thầy Hai lá cây" xin thuốc thêm. Nếu thầy raœnh, tôi rước thầy về đây bắt mạch cho cậu ấy luôn.

Nguyệt xăng xái ra khoœi nhà, rồ máy xe Honda, phóng đi. Dũng đứng im quan sát anh kỹ hơn, thấy quaœ thật, thần sắc anh mình đã có sinh khí trơœ lại. Không biết nên buồn hay nên vui, Dũng xây Cường nằm ngưœa lại vừa lúc Cường mơœ mắt ra. Đôi mắt tỉnh táo rõ ràng, không còn mê man đờ đẫn như trước.

— Anh Ba, bữa nay anh thấy trong người ra sao?

— Ờ, thấy cũng đỡ!

— Để em nấu cháo cho anh ăn nghe!

— Thôi khoœi, tôi chưa thấy đói. Chú đỡ giùm tôi ngồi dậy.

Cường ngồi lên, dựa lưng vào đầu giường, giaœ bộ ngồi thơœ dốc một hồi lâu rồi nói:

— Tôi muốn đi vòng vòng trong nhà!

— Chi vậy anh? Anh còn yếu, đi coi chừng té! Anh muốn gì để em lấy cho!

— Chú tính thưœ coi đồ đạc trong nhà nầy, nếu bán hết có đuœ traœ nợ không?

Dũng đáp ngay, kèm theo cái lắc đầu:

— Trong nhà nầy còn món gì quí giá đâu anh! Nếu cùng quá chắc phaœi bán nhà.

Cường cố ý buông một hơi dài não nuột:

— Nhà nầy tôi mướn dài hạn 2 năm, không phaœi nhà mua chú à! Giờ nói thiệt với chú, tôi đâu còn tiền bạc gì, chỉ biết trông cậy vào tình nghĩa anh chị em.

Dũng chưng hưœng. Anh đứng như trời trồng. Dáng dấp gầy gò ốm yếu cuœa anh trông càng thaœm sầu hơn vì sự thất vọng làm cặp mắt anh tối sầm lại và cái miệng trệ xuống như chiếc xuồng úp ngược.

Cường quay mặt chỗ khác để nín cười.

Đầu óc Dũng lúc đó làm việc nhanh: "may mà nợ nần chị Hai đứng ra mượn; thôi vụ nầy buông xuôi hết cho chỉ lo, mình tìm cách rút êm là vừa. Anh Cường nầy, từ nhoœ tới già, chỉ là người vô dụng, sống không ích lợi cho ai!" Dũng làm thinh đi tới đi lui, không biết nói gì, vì nếu haœ miệng thì mắc lời hứa. Nhưng thấy làm thinh hoài cũng kỳ, Dũng đỡ anh đứng dậy và dìu vô nhà tắm.

Trong lúc Dũng đang lau mình cho Cường thì chị Hai Nguyệt vừa về. Có tiếng nói chuyện, giọng đàn ông.

Dũng nói:

— Chắc có ông thầy tới xem mạch.

— Sao mau quá vậy?

— Tại cũng gần đây, ơœ đường Hương lộ chớ đâu. Với lại ông thầy mau mắn lắm. Ông chuyên môn chữa bịnh cho người nghèo, không lấy tiền bạc gì hết. Ai cúng tiền cho ổng, ổng cũng từ chối.

— Vậy làm sao sống?

— Em cũng không biết?

Cường nghe lạ tai, tự hoœi: "tại sao ơœ đời nầy lại có người không cần tiền?" Anh định hoœi thêm nhưng tiếng nói chuyện đã rõ mồn một, Cường làm thinh lắng nghe.

— Thầy coi đó, nay em tôi đã ra khoœi giường được rồi! Tuần trước còn nằm mê man chờ chết! Nếu thầy không phiền, tôi xin phép hoœi một câu có tính cách nghề nghiệp vì tôi cũng là dược sĩ.

— Bà cứ hoœi.

— Tôi biết thuốc Nam mình cũng hay lắm. Riêng bịnh tiểu đường cuœa em tôi, thầy dùng dược liệu nào làm căn baœn?

— Lá vú sữa phơi khô, sao thuœy thổ.

— Chỉ vậy thôi sao?

— Đó là phần chánh. Phaœi xem mạch, tùy theo mạnh yếu, khí hàn, nhiệt mà thêm vài vị khác nữa.

Hai người ngưng nói chuyện; nhìn Dũng đỡ Cường bước ra phòng khách, bấy giờ đầu tóc, mặt mày đã sạch sẽ đàng hoàng.

Cường kín đáo, lặng lẽ quan sát ông thầy: Ông trạc 50, dáng người tầm thước, khoœe mạnh với làn da sạm nắng. Bộ đồ vaœi lam tạo veœ sáng suœa cho gương mặt rắn roœi nhưng hiền từ. Tóc ông cạo không nhẵn lắm nên thoạt trông, có thể lầm tươœng ông đội cái mũ màu xám vì những sợi tóc muối tiêu mọc thẳng đứng, cao chừng một phân tây phuœ đều trên đầu ông. Nếu ông mặc bộ đồ nâu đà, người ta có thể tươœng ông là một nhà sư.

Cường khẽ cúi đầu chào ân nhân, thầy hai đáp lại bằng nụ cười thân thiện:

— Bữa nay coi bộ khá rồi đó nghen! Anh ngồi xuống ghế cho tôi xem mạch lại.

Cường rán nói một lời caœm tạ:

— Đội ơn thầy cứu mạng!

— Ơn nghĩa gì, phước chuœ may thầy mà!

Cường sinh caœm tình với thầy Hai ngay, không phaœi vì ơn cứu tưœ nhưng nơi thầy, anh bắt gặp có cái gì gần gũi, thân thương.

Caœ đời, Cường không có một người thân nào, ngoài người vợ quá cố. Cha mẹ thì đã qua đời; chị em và các cháu chỉ biết có tiền. Anh caœm thấy cô đơn dễ sợ giữa lòng quê hương, giữa những người quyến thuộc.

Nếu A Muối không qua đời một cách đột ngột vì bịnh viêm màng óc thì chắc anh không trơœ lại Việt Nam làm gì; nơi nầy đã một lần anh dứt áo ra đi không luyến tiếc. ƠŒ đây, anh không có ai làm bầu bạn. Raœi tiền ra mua vui với rượu và gái chẳng những không giaœi toœa được sự cô đơn mà còn chuốc thêm sự chán chường. Nhiều hôm, anh nhớ A Muối quá, cứ đi lang thang hết phố nọ đến đường kia. Vợ qua đời rồi, anh mới thấy rõ, nếu không có sự tháo vát, kim chỉ cuœa nàng, một mình anh chẳng thể nào làm nên sự nghiệp. Vậy mà lúc nào nàng cũng toœ veœ tôn trọng, cầu hoœi ý kiến anh trong mọi việc.

Sau khi chôn cất A Muối, Cường tiếp tục việc làm ăn, hy vọng công việc làm quên nỗi nhớ nhung. Nhưng chỉ cầm cự được ba tháng thì sự thua lỗ đã trơœ nên nặng nề.

Những người làm công biết Cường vốn rộng rãi, không để ý đến tiểu tiết, lại thêm tánh bừa bãi, không ngăn nắp, không ghi chép sổ sách đàng hoàng, không kiểm soát hàng nhập hàng xuất một cách cẩn thận nên họ sinh lòng tham, mạnh ai nấy ăn cắp, từ tiền bạc đến thịt cá, tôm cua, thậm chí các vật dụng nữa, thành ra tháng nào cũng thua lỗ năm, ba ngàn đồng.

Cường chán ngán quá, không thiết tha gì nữa, anh kêu bán cưœa tiệm, rồi sau đó, anh bán buôn nhà cưœa, xe cộ, đồ đạc các thứ, gom hết tiền boœ vào nhà băng. Anh muốn đi du lịch vòng quanh thế giới nhưng sau đổi ý, về Việt Nam một chuyến thưœ xem sao; hy vọng ơœ đây có thể tìm được những thân tình ruột thịt. Không sự thật đã làm anh thất vọng!

Thầy Hai chăm chú nghe mạch, vạch xem mí mắt bịnh nhân, xem lưỡi, cổ họng; ông gõ nhẹ vào đầu gối Cường rồi baœo anh đứng dậy đi tới đi lui.

— Được! được rồi! Nhưng mà cần uống thuốc thêm ba tháng nữa. Thời gian nầy ăn uống phaœi cữ kiêng. Cữ cuœ caœi trắng, cữ caœi đoœ, bắp caœi, trái cây có chất ngọt, kiêng rượu và ngũ vị tân. Tốt nhất nên ăn gạo lức muối mè.

Chị Hai Nguyệt mừng rơn thiếu điều nhaœy tưng lên. Dũng thì "trong héo ngoài tươi." Anh đứng xớ rớ một hồi rồi kiếm cớ rút lui, hẹn sẽ trơœ lại.

Nguyệt xuống bếp nấu nước pha trà đãi khách. Cường có dịp nói chuyện với thầy Hai.

— Thầy có phaœi là nhà sư không?

— Tôi là cư sĩ, tức người tu tại gia.

— ƠŒ nhà tu cũng được haœ thầy?

— Ờ! ơœ đâu tu cũng được hết, chỉ do tâm mình muốn tu hay không mà thôi.

— Mà tu là gì, thưa thầy?

Thầy Hai khoát tay, cười xuề xòa:

— Cứ kêu tôi là anh Hai, đừng "thầy, bà" gì hết. Tuổi mình cũng xuýt xoát nhau thôi.

Rồi thầy đổi giọng nghiêm trang:

— Tu là sưœa, là chuyển đổi ác nghiệp thành thiện nghiệp. Trước, chưa biết tu mình có những ý nghĩ sai lầm, giờ sưœa thành chân chánh; hành động ích kyœ độc hại thành xaœ kyœ lợi tha; lời nói khó nghe thành từ ái, hiền hòa.

— Tu có ích lợi gì không?

— Có chớ, nếu không, tu làm chi cho mắc công! Khi tu thì baœn thân mình được an vui, tương lai mình tốt đẹp vì biết sống xứng đáng, sống ích lợi cho người chung quanh.

— Tại sao mình phaœi vì mọi người, phaœi sống trong khi chung quanh mình ai cũng lo thuœ lợi và sống vị kyœ?

Thầy Hai gục gặc cái đầu:

— Ờ, hồi chưa biết đạo, tôi cũng nghĩ như vậy, tôi cũng đã sống như vậy đó, y như đa số người đời nhưng mà anh nghĩ kỹ lại coi, chẳng lẽ mình tới một nơi có bịnh truyền nhiễm rồi cũng để bị lây như mọi người hay sao? Mình phaœi biết vươn lên, như bông sen mọc giữa bùn lầy, và tìm cách caœm hóa, sưœa đổi người, chuyển đổi hoàn caœnh xấu xa ác liệt thành tốt đẹp, thiện haœo.

— Đó là nhiệm vụ cuœa các nhà đạo đức, chính trị, đâu phaœi bổn phận cuœa mình, chỉ là người dân thường.

— Theo tôi, đó là bổn phận cuœa mỗi chúng ta. Toàn thể xã hội là sự kết hợp cuœa nhiều cá nhân, nếu cá nhân không chịu chuyển đổi thì xã hội không thể tiến bộ. Hơn nữa, anh thưœ quán xét lòng mình đi, anh sẽ thấy rằng trong chúng ta có nhu cầu muốn làm chuyện tốt, muốn sống ích lợi, muốn giúp đỡ mọi người. Đáp ứng được nhu cầu ấy thì hạnh phúc lắm, hơn hẳn cái sung sướng tạm thời khi dục vọng ích kyœ được thoœa mãn.

Chị Nguyệt trơœ ra với hai tách trà bốc khói, nét mặt còn rạng veœ hân hoan.

— Mời thầy dùng trà.

Hai người đàn ông ngưng câu chuyện. Cường chăm chú nhìn ông thầy uống trà: hai tay ông nâng tách trà thật nhẹ nhàng và trân trọng, hình như ông thơœ vào thật sâu để hươœng mùi thơm cuœa hoa lài, rồi ông thổi cho bớt nóng và hớp từng ngụn nhoœ. Ông có veœ hạnh phúc lắm khi được uống trà. "Chẳng lẽ hạnh phúc đến với ông đơn giaœn và dễ dàng như vậy sao?"

Tự nhiên Nguyệt và Cường đều giữ im lặng; họ không dám quấy động bầu không khí đạo vị đang bao phuœ quanh đây. Sau khi uống cạn tách trà, thầy Hai đứng dậy cáo từ. Cường tiếc reœ phút giây gặp gỡ sao quá ngắn nguœi. Anh nói như một cái hẹn:

— Hy vọng uống hết đợt thuốc nầy, tôi có thể đi đến nhà thầy và nói chuyện lâu hơn.

— Ờ, rán ăn uống cữ kiêng thì có lẽ đi được, bằng không, tôi trơœ lại xem mạch cho.

Cường nhóm lên định tiễn thầy ra cưœa nhưng thấy đã thấm mệt, anh ngồi trơœ lại, thơœ hổn hển. Thầy Hai ra hiệu baœo anh nằm xuống nghỉ.

Khi chị Hai trơœ vào, Cường có dịp nhìn kỹ bà chị cuœa mình. Chị đâu còn veœ đài các sang trọng như xưa. Có lẽ tuổi già và sự cực khổ đã tàn phá gương mặt bầu bĩnh trắng hồng cuœa thời con gái huy hoàng ngày cũ. Dáng dấp thanh maœnh thuơœ nào giờ rút lại nhoœ thó, khô cằn, xơ xác như cây mùa thu. Cường nhớ lại lời thầy Hai vừa nói: "Ai cũng có lòng tốt." Bà chị chắc cũng không đến nỗi tệ. Có lẽ hoàn caœnh túng thiếu chật vật làm chị phaœi tính toán thiệt hơn. Còn chú Dũng thì nổi tiếng sợ vợ nên đâu dám tự ý làm gì cho anh mình. Thôi, hơi đâu để ý bắt beœ chấp nhứt làm chi, khổ tâm vô ích.

— Cậu khoœe lại tôi mừng quá, còn hơn trúng số nữa!

Cường nhếch miệng cười, hoœi, nưœa đùa nưœa thật:

— Chị mong trúng số chừng bao nhiêu?

— Một ngàn đô là sướng rồi, có vốn làm ăn.

— Chờ em khoœe, em viết thơ mượn tiền ông già vợ cuœa em ơœ bên Mỹ cho chị.

Nguyệt sáng mắt, chị nói như reo vui:

— Thiệt haœ em, mà em nhớ mượn đuœ để traœ nợ luôn nghe. Hồi em bịnh tới giờ, chị vay caœ thaœy 500 đô rồi.

Cường gật đầu, anh không còn cay cú khi nghe nhắc tới nợ nần:

— Em hiểu.

— Thôi để chị đi chợ mua thịt về bầm nấu cháo cho em ăn.

— Chị làm gạo lức muối mè cho em. Ráng kiêng cữ theo lời thầy Hai cho mau hết bệnh.

— Ờ, vậy cũng tốt!

Khi Nguyệt vừa quay lưng đi, Cường hoœi, như một sự tình cờ:

— Còn chiếc xe Honda cuœa em đâu?

Chị Hai đáp, hơi ngượng ngập:

— Thằng Ngân mượn. Để tôi biểu nó traœ lại.

Cường biết chị Hai bị thằng Ngân phá cuœa. Nó là út, chị cưng lắm; được nuông chiều từ nhoœ nên nó hư. Nó mà biết Cường còn lắm tiền gưœi ơœ nhà băng bên Mỹ chắc nó không để yên.

 

 

 

bullet * *
bullet 

Cường tìm được nhà cuœa thầy Hai không khó vì caœ, khu vực nầy ai cũng biết. Đây chỉ là căn nhà lá nhoœ ơœ giáp ranh thành phố. Anh xuống xe, lững thững bước vào. Nắng chiều còn sáng lắm ơœ chung quanh. Vào giữa tháng chạp, ơœ xứ mình, trời đã mát meœ dễ chịu.

Tự nhiên Cường caœm thấy thích sự đơn sơ ơœ vùng nầy. Những ngôi nhà lá raœi rác trên cánh ruộng đã gặt hái xong tạo nên veœ đẹp thaœnh thơi, yên bình.

Anh bước vào trong mà chẳng ai hay. Nền nhà bằng đất được nện cứng, láng o, vách đất sét trộm rơm. Gian nhà trước không có gì ngoài cái bàn nhoœ, vài ba cái ghế. Thuốc khô chất đầy trên những kệ đóng sơ sài bằng ván tạp kê ơœ hai bên vách. Mùi thơm cuœa lá thuốc khô lan toœa trong không khí nghe thật dễ chịu.

Cường chưa kịp lên tiếng thì từ bên trong, một đứa bé chạy ra. "Ồ! thằng bé bán bánh mì!" Anh nhận ra nó ngay. Nó lễ phép nói:

— Thưa chú, giờ nầy thầy Hai nghỉ xem mạch rồi, nếu cần bổ thêm thuốc thì được.

— Tôi muốn gặp thầy có chút chuyện.

Trong lúc nó còn ngần ngừ chưa dám quyết định thì thầy Hai bước ra.

— Anh Cường! Tươœng ai chớ! Vô đây, vô đây!

Gian nhà sau tương đối rộng rãi hơn. Trên cao là kệ thờ Phật, phía dưới là tấm baœng đen với cái bàn dài, ghế xếp ơœ chung quanh.

Thằng bé bán bánh mì ra hiệu. Bốn đứa treœ khác chẳng biết núp trốn ơœ đâu, giờ mới xuất đầu lộ diện.

Thầy Hai nói:

— Thôi mấy đứa lo học bài làm bài, thầy tiếp khách một chút.

Cường hoœi ngay:

— Thầy Hai, ý quên, anh Hai dạy học nữa sao?

— Ờ, tôi dạy đuœ thứ: chữ nghĩa, Phật pháp và thuốc. Nhưng nghề thuốc chỉ truyền cho đệ tưœ ruột thôi.

Cường thắc mắc:

— Anh chọn đệ tưœ ruột bằng cách nào?

— Thưœ thách coi nó ham tiền không? Người ham tiền mà hành nghề thuốc thì trước sau gì cũng thành keœ bất nhân.

— Tôi nghe nói thầy chữa bịnh không nhận tiền bạc gì cuœa ai, vậy làm sao có tiền bổ thuốc, hoặc là sinh sống, ăn mặc.

Thầy Hai cười vui veœ:

— Bổ thuốc thì có bọn treœ đó. Hễ tụi nó đứa nào raœnh thì đi hái thuốc về, tôi phơi khô. Cũng có nhiều bịnh nhân sau khi được lành mạnh trơœ lại, tình nguyện phụ giúp tôi trong việc nầy. Còn chuyện ăn mặc đối với tôi không thành vấn đề. Ăn ngày một bữa, hoặc là bánh mì lạt, hoặt gạo lức muối mè, đôi khi cơm trắng với rau luộc chấm nước tương. Quần áo thì hai ba bộ thay đổi qua lại là đuœ.

— Dù ít dù nhiều cũng phaœi cần tiền chớ thầy, nhất là thầy còn nuôi các em nhoœ nầy nữa.

— Các em nầy không ơœ đây. Tụi nó có cha mẹ hoặc ông bà, phaœi buôn bán phụ giúp gia đình. Còn phần tôi thì có chiếc xe xích lô đó — thầy vừa nói vừa chỉ chiếc xe đậu khuất trong góc nhà — khi nào cần tiền thì chạy vài cuốc là xong.

Cường khâm phục thầy Hai quá nhưng cũng lấy làm khó hiểu, không biết động cơ nào khiến thầy có thể sống lạ lùng như vầy được. Anh ngồi làm thinh ngẫm nghĩ.

Thầy Hai bây giờ mới có dịp ngắm nghía bịnh nhân:

— Bữa nay anh khá lắm rồi đó, sắc mặt có máu trơœ lại. Với lại anh cắt tóc cạo râu nhẵn nhụi, mới nhìn, tôi nhận không ra.

Cường bắt đầu tâm tình:

— Từ nhoœ, tôi đã thích sống tự do theo ý mình, không cần dư luận, không quan tâm đến sự khen chê cuœa mọi người, nghĩa là không muốn bị gò bó trong khuôn mẫu thông thường cuœa xã hội. Bơœi vậy, đối với gia đình, tôi là keœ không ra gì, đối với quân đội tôi là lính "ba gai." Tôi muốn thoát ra khoœi vơœ kịch đời để sống chân thật với lòng mình nhưng thú thật, tôi không tìm ra hướng đi, không có lẽ sống.

Thầy Hai chăm chú lắng nghe, toœ veœ hiểu biết:

— Anh muốn thoát ra khoœi sự ràng buộc phaœi không? Đừng tìm cách vượt ra khoœi cuộc đời. Hãy thoát ra khoœi "cái tôi" cuœa mình. "Cái tôi" cuœa mỗi người là một cai ngục khắt khe, nó làm mình mất hạnh phúc, nó tạo sự đau khổ không cùng tận.

Đôi mắt Cường mơœ to, chứa đầy ngạc nhiên trong đó:

— Tôi không hiểu gì caœ!

— Mỗi người ôm "cái tôi" cuœa mình như một báu vật thiêng liêng bất khaœ xâm phạm và từ trên căn baœn đó mà phán xét người chung quanh. Ai đối xưœ tốt với mình thì cho họ là tốt, ai khinh reœ hất huœi mình thì baœo họ xấu. Điều đó rất sai lầm.

Trên thế gian nầy không có ai hoàn toàn tốt cũng không có ai hoàn toàn xấu; chỉ tùy theo hoàn caœnh mà họ trơœ thành thế nầy hay thế kia mà thôi.

Cường mơ màng trơœ về quá khứ:

— Đã có thời kỳ tôi được hạnh phúc lắm với người vợ hoàn toàn, với công việc làm ăn phát đạt.

— Hạnh phúc mà anh nói đó, tôi gọi là hạnh phúc có điều kiện. Cái gì cần phaœi có điều kiện, nhân duyên mới thành thì cái đó không chắc thật, không vững bền.

Bằng chứng là bây giờ anh không còn nắm giữ được hạnh phúc thuơœ xưa bơœi vì hoàn caœnh đã đổi khác.

— Tôi đồng ý! Nhưng mà nếu mình có được một chân tình, hay một người thân hết mực thương yêu lo lắng thì mình có thể sống vui được.

Thầy Hai mỉm cười:

— Đừng bao giờ nương vào một nhân vật hay một hoàn caœnh bên ngoài để mưu cầu niềm vui. Hãy điều chỉnh tâm tư mình, đừng sống trong aœo vọng, hãy bằng lòng với những gì mình đang có. Một chén cơm gạo lức muối mè có thể ngon hơn bữa cơm thịnh soạn nếu bữa cơm ấy mình dùng trong sự lơ đãng hay lo âu.

Cường thầm công nhận thầy Hai hữu lý nhưng tâm tư anh vẫn còn nặng chĩu ưu sầu:

— Thú thật với anh, tôi caœm thấy cô đơn quá!

Thầy Hai đứng dậy rót hai ly nước lạnh, trao cho Cường một ly. Hai người im lặng uống thật chẫm rãi. Hồi lâu, thầy Hai cất tiếng nói:

— Anh có thấy lạ lùng không khi mình caœm thấy cô đơn giữa lòng quê hương, bên cạnh bà con chòm xóm? Tại sao ta lại cô đơn, bơ vơ, trơ trọi trên trái đất có mấy chục tỉ người? Tại vì ta nghĩ rằng không ai thương mình hết phaœi không?

Thầy chắc lưỡi, nói tiếp:

— Cái ý nghĩ đó tầm bậy lắm đó nghe! Đừng để ý đến "cái tôi" cuœa mình nhiều quá! Anh dẹp nó qua một bên rồi lắng nghe những tiếng kêu cứu vì đau khổ, vì nghèo đói, vì hoạn nạn tai ương. Hãy tìm đến với họ rồi traœi lòng ra mà giúp đỡ tận tình, chừng đó "phép lạ" sẽ đến với anh.

Cường nhìn thầy Hai đăm đăm, chờ thầy nói tiếp. Thầy biết lời cuœa mình bắt đầu có tác dụng.

— Nếu anh boœ được lòng vị kyœ hay đập vỡ được ngã chấp thì lòng anh lúc nào cũng an ổn nhẹ nhàng, đó là thứ hạnh phúc chân thật vì không cần phaœi có điều kiện thế nầy, thế kia.

— Tôi chưa hiểu!

— Cũng khó nói cho anh nhận ra vì điều nầy phaœi thực hành, thực nghiệm mới biết được. Anh cứ quên mình để sống vì mọi người đi, anh sẽ không còn đau khổ!

Cường lộ veœ phấn chấn:

— Cám ơn anh Hai đã vạch cho tôi một hướng đi đúng lúc. Tôi sẽ làm theo lời anh, trước là đền ơn cứu tưœ sau là sống ích lợi cho đời.

Thầy Hai caœm động:

— Tôi làm nghề thuốc chỉ vì thấy người bịnh cũng như tôi bịnh vậy thôi, không để ý chuyện nghĩa ơn gì hết. Xứ mình ngoài sự bệnh tật ra còn cái khổ vì nghèo đói, vì ngu dốt tối tăm.

Một quyết định chợt đến vời Cường, anh nói ngay:

— Tôi tuy không giàu có gì hơn ai nhưng tôi có thể đến với người nghèo đói, những người gặp thiên tai hoạn nạn hay những keœ tật quyền...

Thấy thầy Hai nơœ một nụ cười hoan hỉ, Cường biết mình đã đáp ứng hoài bão cuœa ân nhân. Anh caœm thấy sung sướng vì đã có một hướng đi, một lối thoát cho đời mình.

Cường caœm thấy đã gần gũi lắm với thầy Hai, anh đề nghị:

— Hay là thầy dọn về ơœ chung với tôi đi, nhà tôi rộng rãi mà không có ai.

Thầy Hai không dấu được sự caœm động:

— Cám ơn anh. Nhưng tôi không còn ơœ đây bao lâu.

Chưa chi Cường đã caœm thấy mất mát vì anh cần một người thân, một người dẫn đường.

— Sao vậy?

— Tôi trụ mỗi nơi vài ba năm là cùng, để khoœi sinh chuyện lôi thôi.

— Thầy xaœ thân để cứu nhân độ thế mà, có gì lôi thôi đâu?

— Đó là anh đứng trên lập trường cá nhân mà nói như vậy. Nếu không vượt ra khoœi "trung tâm vũ trụ" tức là ngã chấp cuœa mình, anh sẽ tức giận lắm khi mình làm việc nghĩa mà có người dằn mặt, có keœ hăm dọa vì aœnh hươœng cuœa mình ngày càng lan rộng, hay vì mình làm vơi bớt túi tiền cuœa những ông thầy thuốc khác.

Cường nghe nóng mặt:

— Sao họ kỳ cục vậy?

Thầy Hai traœ lời với nụ cười hiền hậu:

— Ờ, tại vì họ còn mê, hơi nào chấp nhứt. Chi bằng mình hiểu người và tránh cho họ những sự chướng ngại, khó khăn thì mọi sự đều ổn thoœa.

Hai người nói chuyện maœi mê, trời tối lúc nào không hay. Chú bé "bán bánh mì" bưng cái đèn dầu ra đặt lên bàn, ánh sáng chung quanh bóng đèn toœa rạng như một vòng hào quang. Cường biết đã đến lúc phaœi từ giaœ. Trước khi đứng lên, anh còn rán hoœi thêm:

— Hễ đừng nghĩ cho riêng mình thì không khổ nữa haœ thầy?

— Ờ, chắc chắn như vậy. Không chấp ngã thì không phiền não, còn tiến thêm một bực nữa, không chấp pháp thì ơœ trong caœnh nào cũng không bị vướng mắc, tức là được tự tại, giaœi thoát.

Cường có caœm tươœng như những tia chớp sáng lòe đã từ lời nói cuœa thầy Hai nổ tung trong đêm tối làm anh giật mình, như có ai vừa đánh thức anh dậy sau một cơn mê dài.

Anh đứng lên, đôi chân hơi run rẩy nhưng cái đầu tỉnh táo và sáng suốt hơn bao giờ. Anh muốn caœm tạ thầy Hai lần nữa, không phaœi chỉ vì ơn cứu mạng mà vì thầy đã chỉ cho anh con đường tràn ngập ánh sáng mà chắc chắn rằng khi dấn thân vào anh sẽ gặt hái được vô vàn hạnh phúc.

Nhưng Cường biết rằng giây phút nầy, giữa hai người, ngôn từ đã trơœ nên thừa thãi. Thầy Hai chấp hai tay giữa ngực như một búp sen, cúi đầu chào Cường trước, Cường tự động bắt chước làm theo. Khi hai người ngẩng lên, người nầy thấy người kia đã nơœ cho mình một nụ cười mãn nguyện.

7/1997

 

 

horizontal rule