NGƯỠNG CỬA YÊU THƯƠNG
Huỳnh Trung Chánh
Tiếng chén đũa nồi niêu khua rổn raœng hòa nhịp với những lời càu nhàu vô nghĩa cuœa vợ trong bếp, tựa như một thứ vũ khí bén nhọn liên tục châm chích đâm thọc Baœo, khiến cơn giận điên cuồng mà chàng đang cố gắng đè nén bỗng sôi sục trơœ lại. Baœo "ức sức" muốn vào bếp, túm tóc vợ đập cho một trận "tơi bời hoa lá" thì mới haœ cơn. Thoáng nghĩ vậy thôi, chớ Baœo đâu phaœi là keœ vũ phu lỗ mãng đánh đập vợ; đôi khi, giận "cái mụ" lắm mồm hỗn hào, chàng tức tối đập chén dĩa, đá bàn, đá ghế... là tột cùng rồi. Lần này, để đối phó lại, Baœo rầm rầm dẫn chiếc xe đạp ra cưœa. Trước khi phóng lên xe, chàng còn ngoái cổ lại dò xem phaœn ứng mụ vợ có thay đổi gì không? Nào ngờ, cái mặt "mâm" cuœa vợ vẫn chầm vầm lạnh nhạt chẳng thèm lưu tâm đến sự giận dỗi cuœa chồng, khiến Baœo vừa tức vừa thẹn, phóng xe đi một nước.
Baœo điên tiết lái xe bừa bãi loạn cuồng, suýt tông vào những chiếc xe xuôi ngược, bị thiên hạ chưœi bới bóp còi inh oœi, mà vẫn dưœng dưng chẳng hay biết. Những chuyện giận hờn xưa cũ, từng cưœ chỉ, từng lời nói chanh chua, nặng nhẹ... cuœa vợ cứ thi đua nhau múa may quay cuồng trong đầu, khiến cho cơn sân hận cuœa chàng lại càng tăng ngùn ngụt. Tình cờ, Baœo đạp xe qua cầu Hoàng Diệu, chàng ngẩn ngơ nhìn ngôi trường Thoại Ngọc Hầu, nơi đã ghi bao kyœ niệm ấm êm cuœa cặp tình nhân thuơœ còn son treœ. Chàng lắc đầu xua đuổi hình bóng năm xưa, thẫn thờ đạp xe về hướng bệnh viện, rồi lần về công viên Nguyễn Du. Công viên ngày xưa là nơi hò hẹn lý tươœng nhất cuœa cặp tình nhân, chỉ cần nhìn nhau, chỉ cần nắm tay nhau... là hạnh phúc đã ngất ngây đầy ắp. Những ngày thơ mộng đó, công viên tràn ngập những cánh bông móng ngựa rực rỡ, với giòng sông Cưœu Long bao la trời nước, thấp thoáng bên kia là cù lao Ông Hổ xanh tươi, được tô điểm đây đó bằng vài chiếc xuồng chèo xuôi ngược. Công viên giờ đây hắt hiu tàn tạ, lối đi loang lổ sình lầy, coœ cây xơ xác, bờ sông cẩn đá đã bị xoi mòn sụp đổ. Có lẽ, chỉ có đài vi ba cô đơn bên Ty Bưu Điện, tuy cũng bị thời gian xoi mòn rỉ sét, mà vẫn còn gắng gượng giữ nét hào hùng cao ngất như xưa. Baœo thơœ dài tự nhuœ: "Ôi! dẫu mình cố sức bám víu cái hào quang xưa cũ thế nào thì cũng không che giấu nổi chuỗi ngày xuống dốc sự nghiệp tan hoang được. Mình đã mất hết, mình đã te tua rách nát gầy còm, nên mụ vợ mới khinh lờn hỗn láo, từ những chuyện coœn con chẳng ra gì mà cũng càu nhàu, gây gổ hành hạ chồng!" Baœo ngắm nhìn giòng nước phù sa cuồn cuộn để tìm quên, nhưng hình aœnh vụ cãi vã nóng sốt cứ hiển hiện rõ ràng, từng chi tiết nhoœ, không cách gì trốn tránh được. Mới hôm qua đây, trong khi Ngọc đi chợ, Baœo buồn tình lang thang ngoài phố, tình cờ gặp lại người bạn thân xa xưa. Hai người kéo vào quán tỉ tê tâm sự, quên mất ngày giờ. Về nhà trễ bữa cơm trưa, thấy mặt Ngọc bùng thụng, lẽ ra Baœo giã lã đôi lời thì yên xuôi, thế nhưng khi sáng thấy vợ lúi húi soạn mớ thuốc tây cho bà nhạc, chàng hơi bực bội nên lơ là chẳng mơœ lời. Bữa cơm chiều ăn uống lơ là trong bầu không khí giận dỗi vu vơ, chợt Baœo lỡ lời chê món canh nêm hơi lạt. Thế là Ngọc đùng đùng nổi giận hét vang: "Muốn ăn uống cho vừa ý, sao không lăn vào bếp nấu nướng! Hứ! suốt ngày mài miệt rong chơi chẳng ra trò trống gì! Tất caœ mọi việc đều đổ lên đầu con mọi cái nầy, vậy mà còn bày đặt khen với chê!". Baœo nạt một tiếng đàn áp cho vợ câm mồm, ngờ đâu, Ngọc lại ong óng đốp chát chẳng kiêng nể tí nào. Thế rồi nàng bù lu bù loa khóc lóc, kể lể hàng trăm thứ chuyện, lên án Baœo hàng trăm thứ tội, đoạn chĩa mũi dùi sang gia đình chồng, chỉ trích oán trách không sót một người. Kể về chuyện nhớ dai, thù vặt, đặt điều thêm bớt... thì Ngọc thuộc vào hàng cao thuœ thượng thặng, như vậy làm sao một thằng đàn ông "tâm hơ tâm hất" như Baœo có thể ngang tài giao đấu. Baœo thua sát ván, không vạch được lỗi gì cuœa vợ để đối phó, cuối cùng tức quá, chàng đành móc ngoéo đến bà già vợ khó ưa, phóng cho mấy chiêu hiểm độc để khóa miệng Ngọc. Trận khẩu chiến nhờ vậy tạm ngưng, nhưng tình trạng căng thẳng ngấm ngầm lại có nguy cơ tác hại mãnh liệt. Vợ chồng Baœo nhìn nhau tóe lưœa như hai con thú dữ sẵn sàng phun nọc độc và cấu xé nhau bằng những lời lẽ hiểm hóc cay chua.
Nghĩ cho cùng, mầm móng tình trạng gia đình khuœng hoaœng quaœ đã phát xuất từ bà nhạc mẫu đoaœn hậu cuœa chàng. Nhạc mẫu Baœo nguyên là một nhà thầu khai thác đá tại vùng núi Sập. Baœo là Phó Ty Công Chánh Pleiku, tuy không trực tiếp nâng đỡ mẹ vợ, nhưng bà cũng dựa được vào uy thế con rể, để tiến hành thuận lợi cho dịch vụ cung cấp đá traœi đường cho các Ty Công Chánh miền Tây. Do đó, tuy là phận rể con, mà Baœo lại được bà tôn quý, vồn vã đón rước, trọng vọng tiếp đãi một cách khác thường, đến nỗi chính chàng cũng caœm thấy áy náy ngại ngùng. Thế nhưng, sau khi thời cuộc đổi thay, Baœo tiêu tan sự nghiệp phaœi đưa gia đình về An Giang nương náu, thì thái độ cuœa bà đã xoay chiều nhanh chóng. Bà lơ là, tránh né con rể. Thời gian sau đó, bà ra mặt công khai ruồng rẫy keœ thất thời: xua đuổi Baœo, coi rể như thứ cùi huœi, gần gũi sẽ bị lây bệnh "ngụy" nan y. Thậm chí, bà còn gợi ý khuyên con gái boœ chồng ngụy, chọn chồng mới làm cán bộ cho sung sướng tấm thân. Baœo không kế sinh nhai, phaœi hành nghề thợ mộc, và bất cứ mọi thứ công việc nặng nhọc nào, miễn là được chút đỉnh tiền gắng gượng nuôi gia đình bữa đói bữa no. Đói rách thì chịu, Baœo thề độc rằng thà chết, chớ trọn đời tuyệt đối sẽ không nhờ vaœ mẹ vợ. Tuy đã thề độc, vậy mà vì thương con, cần tiền lo cho hai đứa con vượt biên sang Hoa Kỳ sống với bên nội, vợ chồng Baœo đã phaœi lóc cóc dẫn nhau đến nhà mẹ vợ khóc than, năn nỉ mượn bốn lượng vàng, hứa sẽ bán ngay căn nhà traœ nợ. Bà mẹ đã thẳng thừng từ chối mà vợ chồng Baœo cứ laœi nhaœi van xin, bực quá, bà dọa tố cáo nội vụ cho công an khiến vợ chồng Baœo hoaœng hốt gạt nước mắt luœi thuœi ra về tức khắc. Trong hoàn caœnh tuyệt vọng đó, Baœo bất ngờ nhận được tiền tiếp tế và thơ cuœa thân nhân tại Hoa Kỳ. "Có lúa mới vay được gạo", Baœo cầm cái thơ chứng minh nguồn tiếp tế cuœa mình, ghé thăm vài thân hữu là vay được ngay số tiền cần thiết. Mẹ vợ Baœo tuy gắt gao tiền bạc với rể nhưng lại dễ dãi với thằng con trai út. Chẳng biết cậu út òn ĩ cách nào, mà bà cứ mơœ hồ bao, "lòn" ra từ mươi lượng vàng nầy đến mươi lượng khác, để hắn kinh doanh. Thua keo nầy, cậu út bày keo khác, cứ thế mà rút rỉa tiền bạc bà già cho đến lúc cạn queo. Bấy giờ, thì cô con dâu mới trơœ mặt hất huœi bà, khiến chuỗi ngày còn lại cuœa bà cũng trăm cay ngàn đắng. Phần Baœo nhờ được thân nhân tại Hoa Kỳ thỉnh thoaœng tiếp tế nên bắt đầu đỡ vất vaœ, sau đó, hai đứa con hiếu thaœo lớn lên, lại gơœi tiền về chu cấp đều đặn, nhờ vậy, nếp sống ngày càng trơœ nên sung túc phong lưu. Thừa tiền, Baœo rộng rãi chia xeœ cho mọi người, kể caœ những keœ hoàn toàn xa lạ, nhưng riêng với mẹ vợ, mối hận năm xưa chưa phai, nên Baœo vẫn lăm lăm tìm đuœ mọi phương cách kềm kẹp, ngăn chận Ngọc phụng dưỡng bà. Mỗi lần nghi ngờ Ngọc lén lút mang thuốc men tiền bạc chu cấp mẹ, tuy chàng ngại mang tiếng là nhoœ mọn, không mơœ lời trách thẳng nhưng mối bực bội cứ canh cánh bên lòng, chờ cơ hội móc ngoéo sang chuyện khác, nên sớm muộn gì thì gia đình chàng cũng có chuyện "gấu ó" giận hờn.
Baœo lơ đãng nhìn giòng sông An Giang cuồn cuộn, chàng chợt nghĩ nếu thân xác mình được chìm sâu dưới giòng nước kia thì bao nhiêu chuyện rắc rối phiền hà: thương yêu, thù hận... đều tan biến mất, và mình sẽ khoœe khoắn biết bao nhiêu! Baœo lắc đầu xua đuổi ý nghĩ chết chóc lơœn vơœn trong đầu, rồi chẳng biết do động lực nào thúc đẩy, chàng lừng khừng dắt xe đạp xuống đò ngang đi qua cồn Mỹ hòa Hưng. Chàng đi để mà đi, chớ thật ra thâm tâm lờ mờ chẳng biết sẽ đến đâu và làm gì? Mãi đến khi thuyền cặp bến, Baœo mới sực nhớ đến người bạn cũ cư ngụ gần bến đò, liền phóng xe đến nhà bạn. Thuận là người bạn thân thiết thuơœ thiếu thời, khi caœ hai còn là huynh trươœng Gia Đình Phật Tưœ Chánh Nghĩa, chùa Quaœng Đức. Lớn lên hai người vẫn thường gặp nhau tâm sự chuyện đời, chuyện đạo, nhưng từ khi cô con gái duy nhất đột ngột xuất gia, vợ chồng Thuận dứt khoát boœ nghề dạy học, bán căn nhà ơœ chợ để lui về quê nhà tại xã Mỹ hòa Hưng sinh sống với nghề rẫy bái, thì việc qua lại thưa dần.
Baœo vừa dựng chiếc xe đạp dưới gốc cây vú sữa trước sân, khóa kỹ lại, thì đã nghe mẩu đối thoại vui tươi cuœa cặp vợ chồng Thuận và Thaœo vọng ra ngoài:
— Ôi chà! người đẹp cuœa anh lại cưng chồng, lại thết đãi tiệc nữa rồi!
— Anh kỳ quá hà! em già khù xấu hoắc rồi, mà cứ giỡn chơi gọi người đẹp hoài, ruœi ai nghe được, người ta cười thúi đầu đó!
— Hì hì! Nè! lúc treœ thì em đẹp theo treœ, về già đẹp theo tuổi già! anh thấy sao nói vậy, ai cười anh cứ cười, việc gì anh mắc cỡ!
— Anh cứ nói trăng nói cuội hoài! Em đã già caœ hom hem, da nhăn tóc bạc rồi thì còn đẹp nỗi gì!
— Ậy! em có nhớ câu kệ "mỗi khi dùng đến lại thành mới tinh" (1) cuœa sơ tổ Trúc Lâm không? Đây là anh học theo cách nhìn cuœa tổ: "Mỗi lần nhìn vợ, mỗi lần thấy đẹp ra!" hì! hì!
Là chỗ bạn thâm giao, Baœo chẳng cần báo trước, ngang nhiên xô cưœa bước vào, cắt đứt câu chuyện thân mật cuœa vợ chồng gia chuœ, rồi cười vang lên tiếng:
— Hai ông bà nầy, già mà còn "mùi tận mạng" đa!
— A chào Baœo! lâu quá không gặp nhau! anh đến chơi thật bất ngờ! làm vợ chồng tôi mừng quá! uœa! chị Ngọc đâu? sao không đi với anh?
Baœo ngập ngừng một lúc, rồi bịa chuyện cho qua:
— Bà nhạc đau nên baœ về đằng đó chăm sóc! chớ lúc đầu đã định cùng đi với tôi rồi!
Điều bất ngờ là vợ chồng gia chuœ lại toœ veœ quan tâm đặc biệt đến sức khoœe bà cụ, họ thay phiên nhau hoœi han rối rít:
— Tội cho bà cụ quá! bà đau bệnh gì? lâu chưa? nặng không anh? bác sĩ cho biết bệnh tình như thế nào vậy anh?...
Baœo vốn "kÿ" mẹ vợ, mỗi khi nghe tin bà gặp việc chẳng lành, tuy bề ngoài toœ veœ thương hại, nhưng thật ra rất khoái trá trong lòng, không mơœ miệng mắng thầm "cho đáng đời" là tốt lắm rồi. Lời thăm hoœi bệnh tình chân thành cuœa gia chuœ khiến Baœo nhột nhạt, lúng túng mấy giây mới ngập ngừng đáp:
— Bệnh già mà anh chị! bà chỉ yếu tổng quát chớ đâu có gì quan trọng!
Rồi để tránh khoœi phaœi traœ lời dông dài về một đề tài khó ưa, Baœo giaœ vờ ngắm thích thú bức tranh treo trên vách, lên tiếng:
— Anh chị có bức tranh đẹp quá! Ô! mà lại có điểm thêm hai câu thơ Kiều nữa!
"Bây giờ rõ mặt đôi ta!
Biết đâu rồi nữa, chẳng là chiêm bao!" (2)
Ối chà! chàng và nàng tình quá, boœ thị thành để đi xây dựng "một mái tranh hai quaœ tim vàng" ngâm thơ vịnh nguyệt đây nầy!
Thuận cười hịch hạc:
— Ơ! tụi nầy thỉnh thoaœng cũng đọc thơ Kiều, nhưng không đọc với tâm trạng chìm đắm theo đoạn đời khổ đau sầu muộn cuœa Kiều, mà chỉ nhằm khám phá đạo vị trong thơ Nguyễn Du, để nương theo đó tu sưœa thân tâm anh ạ!
— Nói như vậy, thì hai câu thơ nầy có đạo vị, nhưng đạo vị ơœ chỗ nào, anh có thể giaœi thích tôi nghe được không?
— Tranh nầy bắt nguồn từ suy tư cuœa bà xã tôi, tôi chỉ ghi lại bằng nét vẽ. Suy tư cuœa bà, chắc tôi phaœi nhờ baœ trình bày thì mới đầy đuœ.
— Ơ! em...
— Thôi mà! ngại ngùng gì em! anh Baœo là bạn đạo lâu đời cuœa mình! em cứ trình bày suy tư cuœa em, nghĩ sao nói vậy, có trật aœnh cũng không cười mà!
Thaœo trầm ngâm nhớ lại chuyện xưa, rồi chậm rãi mơœ lời:
— Tôi là đàn bà, nếu tôi có "cà kê dê ngỗng" dài dòng văn tự xin anh thông caœm nghen. Chuyện xaœy ra đã lâu lắm rồi. Ngày đó, anh Thuận vừa được traœ tự do, sau khi bị giam giữ hai tháng, vì đã tham dự buổi hội họp "bị coi là khaœ nghi" cuœa Gia Đình Phật Tưœ tại Sàigòn. Vui mừng đoàn tụ mà tôi vẫn ngay ngáy lo lắng an nguy cho aœnh sau nầy, nên tôi cô lập hóa không để aœnh liên lạc với bạn bè, và thường xuyên gây gổ lằng nhằng aœnh về cái tính tào lao lo chuyện bao đồng tự chuốc khổ vào thân, mà còn làm khổ lây đến vợ con nữa. Một hôm nguœ trưa, trong chiêm bao tôi thấy aœnh chết trong tù. Tôi đau đớn rụng rời khóc ngất thì tỉnh dậy. Mắt đẫm lệ, chân quính quíu, tôi nhớn nhác tìm aœnh. AŒnh đứng lặng yên bên khung cưœa sổ, gầy gò tiều tụy. Tôi thấy aœnh "rõ ràng trước mặt còn ngờ chiêm bao" (3). Tôi dụi mắt véo tai mấy lần để được yên tâm, rồi tôi chợt nghĩ nếu chiêm bao là thật thì mình mất tất caœ rồi, mình đâu có cơ hội nào nhìn chồng nữa. Khi đó, lòng tôi không còn tha thiết điều nào khác, tôi buông boœ hết mọi sự mọi việc, để tập trung tất caœ vào chồng, ngắm nhìn từng chi tiết nhoœ: một sợi tóc bạc, một vết nhăn..., thấy được nỗi ưu tư hoài bão, thấu suốt caœ tấm lòng vị tha suốt đời tận tụy hi sinh cho vợ con, cho đạo pháp cuœa chồng. Caœm nhận được điều đó, tôi xúc động thân tâm, hạnh phúc ngập tràn. Tôi khám phá rằng sống với chồng bao năm mà chưa lần nào tôi nhìn chồng suông mà hạnh phúc như lần nầy. Có thể trước đây, ngoài việc sống bên nhau tôi luôn đòi hoœi phaœi chờ hội đuœ thêm hàng trăm điều kiện khác về công danh sự nghiệp, gia đình, xã hội... thì mới có hạnh phúc, nên hạnh phúc lúc nào cũng ơœ ngoài tầm tay, không với tới được. Tôi lại luôn luôn bận bịu đầy ắp chuyện vui buồn, hờn giận, hơn thua... nên lúc nào cũng qua loa hời hợt, chỉ biết vòi vĩnh, nhăn nhó, càm ràm... thì làm sao thấy được hạnh phúc tràn đầy bên cạnh người mình thương. Tôi nghĩ dẫu chồng tôi không chết trong tù, thì ngày nào đó hai vợ chồng già cũng có người gãy cánh. Ai biết chắc ngày đó là ngày nào? ngày nay kề cận bên nhau, tại sao mình lại không thể nhìn nhau, thương nhau, chăm sóc nhau, tận hươœng cho hết hạnh phúc bên nhau liền bây giờ, keœo chờ đến ngày mai sẽ không còn kịp nữa. Trong chiều hướng suy tư đó, tôi đã chọn hai câu thơ Kiều:
Bây giờ rõ mặt đôi ta
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao!
để làm phương tiện nhắc nhơœ tôi biết tận dụng những giờ phút bên nhau, bơœi vì biết đâu ngày mai sẽ như mộng mị chiêm bao và không bao giờ có thực!
Nghe chuyện người, ngẫm phận mình, Baœo xót xa thầm nghĩ: "Mình lỡ dại chết đi, mụ vợ mình chắc sẽ khoái chí vật heo ăn mừng, chớ làm gì có chuyện khóc với thương!" Chàng ta buồn hiu, nhưng gắng gượng nhếch môi nưœa cười nưœa mếu lên tiếng:
— Hì! hì!... Chị là một người đàn bà yêu thương chồng tột bực! Yếu đến độ phaœi làm tranh, đề thơ để nhắc nhơœ phaœi yêu nhiều, yêu lập tức, yêu dài dài... quaœ là việc thế gian hy hữu, khó tin mà có thật...
Tránh cho vợ đỡ ngượng nghịu trước lời nói bỡn cợt cuœa Baœo, Thuận giaœi thích:
— Ơ! thật ra, chữ "đôi ta" phaœi hiểu rộng ra là ta và đối tượng đang hiện hữu, "đôi ta" có thể là ta và em bé, ta và tách trà, hay ta và giòng sông...; và trong giây phút hiện tại nầy, "đôi ta" chính là anh và vợ chồng tôi, chúng mình phaœi biết tỉnh thức để tận hươœng buổi hội ngộ nầy, "nếu không rồi nữa chẳng là chiêm bao!"
Thaœo bổ túc:
— Đúng vậy anh ạ! theo tinh thần đó vợ chồng tôi rất hoan hỉ tiếp đón anh và mong sao buổi gặp mặt đặc biệt nầy tràn đầy vui tươi và lợi lạc!
— Cám ơn anh chị! tôi đã caœm nhận được điều đó! sự ân cần thành thực cuœa anh chị giúp tôi vô cùng thoaœi mái, điều mà tôi không bao giờ có được khi nói chuyện với người khác!
— Anh Baœo ăn cơm trưa với vợ chồng tôi nhe! cơm nước xong mình sẽ tiếp tục câu chuyện, keœo thức ăn nguội lạnh hết!
Vốn quen nếp sống rượu thịt phong lưu, Baœo nhìn mâm cơm đạm bạc chỉ gồm có chén nước tương, một dĩa đọt rau lang, bông điên điển, một dĩa rau càng cua trộn dấm, cùng với hai miếng đậu huœ muối xaœ... mà chán ngán trong lòng, nhưng nếu từ chối lại ngại người bạn nghèo tuœi thân, nên đành sốt sắng cầm đũa.
Tuy nhiên, có lẽ nhờ đang cơn đói bụng, lại gặp món ăn đồng nội quê mùa lạ miệng, Baœo "tự nhiên quá trớn" tấn công tới tấp, khiến Thaœo phaœi tíu tít chạy ra sau vườn hái thêm rau tiếp tế.
— Chị nấu ăn ngon tuyệt vời! thaœo nào khi tôi vừa tới cưœa đã nghe aœnh tán tụng là được cho ăn đại tiệc!
— Hì! hì! đối với tôi, thức ăn nào vợ nấu nướng chẳng là đại tiệc!
Thaœo nghe chồng tán tỉnh thẹn thùng trách chồng:
— Anh đùa như vậy không sợ anh Baœo cười trẹo quai hàm sao?
Rồi quay sang Baœo, Thaœo ấp úng phân bua:
— Caœm tạ anh quá khen! thức ăn toàn là rau luộc thì ai làm chẳng được! Sơœ dĩ anh Thuận dùng chữ "đại tiệc" chỉ vì hôm nay có đậu huœ mà thôi! Số là hoa lợi cuœa mấy giồng khoai nưœa công ớt cuœa anh Thuận trồng chỉ đuœ đổi gạo và vài vật dụng cần thiết, nên thông thường mâm cơm toàn là "cây nhà lá vườn" miễn phí, lâu lâu tôi mới dám xài sang, mua đậu huœ để có thêm chất đạm.
Nghe rõ nếp sống bẩn chật cuœa gia chuœ, Baœo động lòng trầm ngâm nghĩ ngợi mông lung: "Họ nghèo rớt mồng tơi, thiếu trước hụt sau, ngụ trong gian nhà lá trống traœi, phục sức đơn sơ, ăn uống đạm bạc, một miếng đậu huœ reœ rề mà cũng phaœi dè xeœn ăn tiêu... tội nghiệp quá! Mình tội nghiệp họ, nhưng dường như chính họ chẳng caœm thấy khổ sơœ tí nào! Họ bình thaœn với cái nghèo, sống hồn nhiên, vui tươi an lạc kia mà? Hạnh phúc đến với họ xem ra dễ dàng quá: họ nhìn nhau, họ âu yếm đối thoại, họ nâng niu săn sóc nhau... là đuœ, họ không ước mơ, không đòi hoœi điều gì khác, dù là loại cuœa caœi quý giá hay thứ "phép lạ nhiệm mầu nào". Còn mình thì sao? Mình tuy chưa hoàn toàn phục hồi được thời vàng son, nhưng đời sống vật chất mình quá ư đầy đuœ: nhà cao cưœa rộng, tiền bạc thừa thãi, áo quần tươm tất, mâm cơm thịt cá ê hề... mà mình có hạnh phúc tí nào đâu? Vợ chồng tranh cãi nhau dài dài, ai cũng lăm le rình cơ hội đối thuœ sơ hơœ để nặng nhẹ chươœi bới, thì nhìn mặt nhau đã là việc khó huống chi nghĩ đến việc thương yêu chăm sóc nhau." Thế rồi Baœo thơœ dài lên tiếng:
— Tôi đang có chuyện nhức đầu, vậy mà tiếp xúc với anh chị trong bầu không khí vui tươi an lành nầy tôi cũng caœm thấy nhẹ nhàng! Anh chị có nếp sống thanh cao đầy đạo vị tôi rất khâm phục! Thành thực mà nói, người làm tôi ngạc nhiên và phục nhất chính là chị. Tôi đâu có lạ lùng gì về tính nết cuœa anh Thuận nữa! nhưng làm sao tôi ngờ được một cô gái con nhà giàu sang xuất thân trường đầm, lại có thể từ boœ những thú vui cùng tiện nghi cuœa thành thị, kể caœ nhà cưœa, danh vọng, bạc tiền để chui về chốn quê mùa heo hút nầy, thanh thaœn sống giaœn dị, đạm bạc, lấy việc cưng chồng, chiều chồng làm vui!
— Cám ơn anh quá khen! Thật ra, là đàn bà thì tôi cũng thích chưng diện, ăn sung mặc sướng, ơœ nhà rộng rãi thênh thang, thèm danh vọng, địa vị, bạc tiền, nên trước đây, cứ mè nheo, lằng nhằng anh Thuận, để đòi hoœi thúc đẩy aœnh phaœi bương chaœi xoay xơœ gầy dựng sự nghiệp công danh sao cho bằng người khác. Sau biến cố năm 1975, tiền bạc eo hẹp, sanh hoạt khó khăn khiến tôi khổ đau cùng cực, tôi oán trách đời, tôi giận chồng đã chậm chạp không chịu di taœn ra nước ngoài... tóm lại, tôi sống trong tâm trạng bất mãn thường trực, và trăm điều tội lỗi tôi đều đổ lên đầu chồng, làm khổ chồng dài dài... Cho đến một hôm, anh Thuận mang thông điệp hiểu biết và thương yêu về cho caœ nhà tu tập, từ đó tính nết tôi thay đổi dần. Tôi hiểu biết chồng, thương chồng nhiều hơn, lần lần hòa hợp với tâm tư chồng, và cuối cùng đã thực sự tìm thấy được suối nguồn an lạc qua nếp sống đạm bạc, giaœn dị tại chốn nầy.
— Thông điệp hiểu biết thương yêu như thế nào mà hiệu nghiệm như thế? ai truyền cho anh vậy anh Thuận?
— Thông điệp hiểu biết thương yêu tạo thành một luồng sinh khí mới cho gia đình chúng tôi thực tập, đã phát xuất từ một chuyện thật tình cờ vào khoaœng chín năm về trước. Năm đó, nước sông Cưœu Long dâng cao gây nạn lụt trầm trọng. Một tổ chức Phật giáo người Việt nước ngoài gơœi về một số quà cứu trợ. Mỗi phần quà gồm hai hộp phó mát, một hộp bơ, ba lon sữa đặc, một ký đường, hai cục xà bông thơm, một khăn lông... và một ít tiền mặt đuœ để sinh sống trong vòng một tháng. Tôi được anh em giao trách vụ cứu trợ đồng bào vùng Tri Tôn và Hồng Ngự, một vùng đông đaœo đồng bào Việt gốc Miên. Nhìn gói quà, tôi bỗng nhớ thầy tôi từng dạy "nếu gặp người không biết ăn trái sầu riêng, mà mình ép buộc người ta phaœi ăn, thì hành động thương yêu đó chỉ gây khổ cho người ta mà thôi. Thương như vậy, là không biết đem hiểu biết soi sáng cho tình thương, do đó, tình thương trơœ nên què quặt, gây tổn hại cho người." Tôi nghĩ trường hợp phó mát và bơ, cũng tương tợ như vậy. Nó có thể là món ăn xa xỉ quý giá đối với vài giới sang trọng ơœ thành thị, nhưng hoàn toàn vô dụng đối với dân quê. Mang tặng họ có khi chỉ làm họ khó chịu mà thôi. Do đó, trong buổi họp trước khi xuất phát, tôi đề nghị nên thay thế hai thứ đó bằng loại thực phẩm hữu dụng khác. Ban tổ chức không tán đồng ý kiến cuœa tôi, vì họ chuœ trương rằng quà tuy không thích hợp lắm, nhưng nếu đổi thành thứ khác chắc chắn sẽ naœy sanh lắm chuyện hiểu lầm, rồi bị xuyên tạc mang tai tiếng vô ích. Không thuyết phục được keœ khác, tôi cương quyết thực hiện ý định một mình, bất chấp mọi hậu quaœ có thể xaœy ra. Tôi tự động đem bốn thứ: phó mát, bơ, khăn lông và xà bông thơm, ra chợ trời bán để đổi thành hai mươi ký gạo, một cái mền, hai khăn rằn, ba ký lô xà bông đá và ba tĩn nước mắm. Đối với đồng bào Miên, thì nước mắm được thay bằng mắm bò hóc cho hợp với nhu cầu và sơœ thích cuœa họ. Nhờ vậy, gói quà đã tăng giá trị thực dụng lên hàng bốn, năm lần, và rất hợp với nhu cầu cuœa nạn nhân bão lụt, nên đã được hân hoan đón nhận. Công tác hoàn mãn, trên đường trơœ về nhà, lòng tôi rộn ràng tràn ngập niềm vui. Tôi sung sướng vì nhận thấy nhờ nắm vững được thông điệp hiểu biết thương yêu, mà tôi đã mang được lợi ích thiết thực cho nạn nhân bão lụt. Tôi chợt nghĩ tại sao mình không mang thông điệp nầy thực hành trong gia đình để nắm vững được hạnh phúc kìa! Thế rồi, với tinh thần hiểu biết, tôi tự đặt mình trong tư thế bà xã, để có thể caœm thông với bà. Tôi bèn nhớ lại, trước đây, sau chuyến công tác xã hội mệt nhoài, về nhà thấy vợ kém vui, tôi sanh ra bực mình nên cũng lầm lì, thành thưœ không khí hờn hờn giận giận kéo dài đến mấy ngày mới trơœ nên bình thường. Giờ đây, đem sự hiểu biết vào soi sáng, tôi mới nghĩ đến hoàn caœnh khó khăn mà vợ tôi phaœi cô đơn gánh vác: baœ điên đầu với đường lối dạy học thay đổi, phaœi hội họp liên miên ơœ trường, ơœ xóm, phaœi đaœm trách thêm lớp tối bổ túc văn hóa, phaœi tham gia công tác thuœy lợi, phaœi xếp hàng, phaœi chạy gạo từng bữa, phaœi chăm sóc dạy dỗ con, đã vậy, lại còn phaœi lo lắng an nguy cho người chồng đi biền biệt chẳng có tin tức gơœi về. Thì ra, từ trước đến nay tôi chỉ nghĩ đến cá nhân mình, cho công tác cuœa mình là cao quí nên đã đui mù không thấy được lòng hi sinh cao caœ và nỗi khổ vô biên cuœa vợ ơœ nhà. Suy tư đó giúp tôi thông caœm với veœ mặt bùng thụng cuœa vợ khi tôi bước vào nhà. Tôi âu yếm: "Em lo lắng lắm phaœi không? tội nghiệp em quá! anh boœ bê để em phaœi chịu khổ sơœ trăm bề một mình! thương quá là thương!". Chỉ nói chừng đó mà vợ tôi đã rưng rưng nước mắt. Tôi lại vỗ về: "Sao em lại khóc? mình phaœi cười vui, mừng hội ngộ chớ!". Sau đó, tôi từ từ tường thuật vụ cứu trợ, mô taœ từng thaœm caœnh bi đát cuœa nạn nhân, nhờ vậy, vợ hiểu chồng hơn, đồng thời cũng sung sướng thấy sự hi sinh để chồng đi cứu trợ là xứng đáng. Chưa bao giờ, vợ chồng tôi hiểu nhau và hạnh phúc như lần nầy. Do đó, chúng tôi quyết định nuôi dưỡng thông điệp hiểu biết và thương yêu thường trực hiện diện trong nhà bằng phương pháp đặt tên cưœa trước là cưœa hiểu biết, cưœa sau là cưœa thương yêu. Từ bên ngoài vào nhà liền được nhắc nhơœ rằng mình phaœi bước qua ngưỡng cưœa hiểu biết thì mới đạt đến ngưỡng cưœa yêu thương tròn đầy chân thực. Từ sau ra trước, được nhắc nhơœ phaœi khơi mơœ tình thương tràn đầy để mơœ rộng cánh cưœa hiểu biết hầu caœm thông với mọi loài. Gia đình chúng tôi, cứ thế mà thực tập và ngày càng caœm thấy an vui hạnh phúc.
— Phương pháp nầy hay quá! nhưng liệu gia đình khác có thể áp dụng được không anh?
— Theo tôi, việc áp dụng được hay không cũng tùy gia đình, tùy hoàn caœnh. Kinh nghiệm nghề nông dạy tôi rằng nếu hội đuœ ba yếu tố đất, nước, ánh sáng mặt trời thì hạt giống nào cũng nẩy mầm, nhưng muốn cây bụ bẫm sinh hoa quaœ lại cần phaœi gia công nỗ lực săn sóc dài lâu thì mới thành công được!
— Kinh nghiệm trồng cây cuœa anh hay thật! chắc tôi phaœi ra thăm vườn để học nghề tay trái nầy mới được!
Thế rồi, theo sự hướng dẫn cuœa Thuận, Baœo viếng thăm sơœ vườn nhoœ bé, ngăn nắp và xanh um cây trái cuœa bạn. Baœo ái ngại lên tiếng:
— Chắc anh phaœi cực khổ với sơœ vườn nhiều lắm?
— Cuốc đất, tưới cây, bón phân... tương đối cũng nhọc mệt, nhưng khổ thì không. Trái lại, tôi còn tìm được những giờ phút thoaœi mái, thaœnh thơi với sơœ vườn, rút tỉa học hoœi với coœ cây nhiều điều bổ ích!
— A! như vậy! thì chắc anh đã đạt được cái nhìn: "Trúc biếc hoa vàng đâu caœnh khác! Trăng trong mây bạc lộ toàn chân!" (4)
— Tôi đâu tu cao đến mực độ nhìn hoa lá thấy đạo như các bậc tổ sư! tôi chỉ rút tỉa những bài học rất tầm thường từ cây coœ mà thôi! Thí dụ như có lần tôi nhận thấy sau trận mưa to rau caœi và coœ hoang đều phát triển mạnh, nếu tôi lơ là không nhổ coœ dại, thì coœ dại sẽ lan tràn mau chóng lấn áp cây khác. Rồi tôi nghĩ, những biến cố lớn trong cuộc đời, vui hay buồn, có lẽ cũng giống như trận mưa to, giúp cho những hạt giống tốt lẫn xấu sinh sôi nẩy nơœ. Nếu mình lơ là, thì coœ dại tham sân si sẽ thao túng maœnh vườn tâm, ngược lại, nếu biết chăm sóc, thì những hạt giống lành từ bi hyœ xaœ sẽ phát triển xinh tươi. Lần khác, khi săn sóc khóm cúc, khóm vạn thọ... tôi nhận thấy cây nào mình cắt tỉa, vô phân, tưới nước chu đáo thì nó sẽ bụ bẫm, hoa sẽ tươi thắm hơn. Tôi nghĩ con người cũng vậy, vợ con, thân nhân, xóm giềng mình, nếu được mình nâng niu chăm sóc bằng tình thương ngọt ngào, thì chắc chắn họ sẽ xinh xắn, dễ thương hơn...
— Hì! hì! tóm lại, bằng phương nầy thế kia, mục đích anh chẳng qua để tán thán thuyết "thờ vợ, kính vợ" phaœi không?
Thuận mỉm cười laœng tránh qua chuyện khác:
— Anh Baœo, anh xem giây bí tơ nầy, nó mới lên được ba lá mà đã thaœ cái vòi nhoœ xíu bám lên dàn rồi đây nầy. Vùng Long Xuyên mình có câu hát ru em ví von về giây bí rất dễ thương, có lẽ anh đã nghe qua:
"Bí lên ba lá, trách ba với má, không chịu làm dàn
Để bí bò lang, vô dang (5) bạc phận...
Duyên nợ ơœ gần, chẳng đặng xứng đôi..."
Thuơœ nhoœ, khi nghe câu ru em nầy tôi rất hờ hững, còn bây giờ làm vườn ngắm nghía giây bí mỗi ngày, tôi nhận thấy câu hát mộc mạc nầy tình ý thâm trầm vô cùng. Giây bí lên ba lá đã thaœ vòi tìm dàn mà leo tương tợ như cô gái đến tuổi cặp kê tìm chồng để nương tựa. Gái có chồng không xứng đôi, giống như giây bí phaœi bò lang dưới đất, thật là tội nghiệp. Ngày xưa mình từng tự hào là thứ dàn khá vững cho giây bí nương thân, nhưng giông tố đổi đời đã xô ngã cái dàn sụp sát mặt đất, mà giây bí vẫn cam chịu cái phận hẩm hiu với cái dàn thất thời, không boœ vòi tìm dàn khác, thật là tình nghĩa, thật là "đáng nể đáng kính" phaœi không Baœo?
Baœo nghĩ "vụ gì vợ mình tệ, chớ trung trinh với chồng, thì baœ có thua ai đâu", nên anh ta gục gật đầu toœ ý tán thành. Thuận lại bàn tiếp:
— Thật ra, trường hợp dàn cũ sụp đổ, rồi dây bí có boœ vòi sang ngang tìm dàn khác, việc đó cũng thường tình, huống chi mỗi người có hoàn caœnh riêng, khó khăn riêng, nên suy cho cùng, "giây bí" nào cũng đáng thương, đáng trọng phaœi không anh Baœo?
Thaœo đang ngồi rưœa chén sau nhà, bỗng góp ý:
— Anh nói mới nghe qua thật là chí lý, chừng bàn thêm chút nữa, suy nghĩ kỹ lại thì thấy nó "ba phaœi" quá chừng hà!
— Trước kia nếu tôi nghe aœnh lý luận kiểu nầy chắc tôi phaœi cãi đến cùng! Giờ thì tôi hiểu aœnh rồi chị ạ! Nếu mình biết đem trí hiểu biết để soi sáng cho mọi người, mọi việc... thì chỉ có tình thương tràn ngập, đâu còn chỗ đứng cuœa lòng thù hận sân si nữa! aœnh "ba phaœi" do tình thương, chớ không ba phaœi vì cù lần đâu chị!
*
Chỉ sau vài giờ hàn huyên tâm sự với bạn, Baœo caœm thấy nỗi hờn giận sầu đau vơi dần... Ngồi trên đò, trơœ về tỉnh lÿ, Baœo nghĩ "Bi và trí tức hiểu biết và thương yêu đâu phaœi là vấn đề xa lạ. Mình đã thuộc nằm lòng là trong bi có trí, trong trí có bi, mà không bao giờ biết đem áp dụng điều đó vào đời sống thực tiễn, thaœo nào gia đình mình chẳng xào xáo. Mạnh vợ vợ nói, mạnh chồng chồng làm, không ai chịu hiểu ai, nên thương mà cứ chống đối nhau, ép buộc nhau, và do đó, càng thương nhau lắm, lại càng cắn nhau đau". Thế rồi Baœo dừng tâm lại, gạt boœ mọi thành kiến, cố chấp, thành khẩn tự suy xét mình và cũng để tìm hiểu vợ sâu sắc hơn. Trong suy tư bỗng Baœo khám phá ra rằng khi chàng còn phaœi hành nghề mộc cực khổ, vợ chồng thương yêu nhau "hạt muối cắn làm đôi", mãi đến khi được con cái cung cấp tiền bạc phuœ phê thì tình nghĩa phu thê mới bắt đầu rạn nứt. Không bận tâm sinh kế, lại thừa tiền Baœo giao du vui chơi với bè bạn suốt ngày, lơ là giờ giấc, không quan tâm đến người vợ ơœ nhà cực khổ nấu nướng, dọn sẵn mâm cơm tươm tất đợi chờ chồng. Đã bao ngày Ngọc phaœi sống thui thuœi buồn tênh: con ơœ xa, chồng suốt ngày vắng mặt... thaœo nào nàng chẳng "sanh tật" mặt mày bùng thụng, bực bội vu vơ... Chuyện nầy trùng hợp với việc Ngọc tới lui về nhà mẹ, thì mình lại nghi ngờ đề quyết là trăm chuyện lộn xộn lớn nhoœ đều do mẹ vợ xúi biểu mà ra. Chàng lại nghĩ, bà mẹ vợ mình tuy từng xưœ tệ với mình, nhưng vợ mình là con, nếu baœ hiếu dưỡng mẹ cha đó là chuyện đáng khuyến khích, sao mình lại nhẫn tâm caœn ngăn kềm kẹp! Ai caœn ngăn, xúi giục con mình bất hiếu mình có khổ sơœ không? Thật ra, xét kỹ thì mẹ vợ mình cũng không có hành động gì tệ hại lắm! Bà xót xa trước caœnh con nghèo khổ nên xúi con lấy chồng khác cho sung sướng tấm thân. Bà có thức ngon bổ dưỡng nào liền nhắn con gái về nhà cho được, buộc con gái ăn tại chỗ, chỉ sợ con gái chia bớt cho chồng con. Ngày xưa, những lần Ngọc được mẹ tẩm bổ, về nhà thấy chồng con thiếu thốn, đứng ngoài cưœa khóc rưng rức, Baœo biết chuyện căm giận bà vô taœ. Giờ đây, Baœo thông caœm bà, nghĩ rằng chỉ vì bà mù quáng thương con mà thiếu hiểu biết, vô tình gây thương tổn cho người khác mà thôi!
Chìm đắm trong suy tư, Baœo đạp xe thong thaœ nên khi về đến nhà thì trời đã bắt đầu tối. Chàng hé cưœa bước vào thấy vợ đang ngồi uœ rũ trước bàn cơm chờ đợi. Mắt nàng vụt sáng lên mừng rỡ, rồi xụ xuống ngay như chẳng thèm để ý đến sự hiện diện cuœa chàng. Nhìn mâm cơm dọn sẵn, thấy có món mực dồn thịt, một thức ăn chàng vốn ưa thích, Baœo caœm thấy tội nghiệp nàng vô cùng. Té ra dù giận chồng như thế nào, Ngọc vẫn thương chồng, săn sóc chồng chu đáo.
— Anh về trễ khiến em phaœi chờ cơm! thương quá!
Lần đầu tiên nghe chồng ngọt ngào, Ngọc trố mắt ngạc nhiên, nhưng vẫn lầm lì không lên tiếng.
Baœo lẳng lặng xới cơm cho vợ, — một việc mà trước kia chàng cho đó là nhiệm vụ cuœa đàn bà nên chẳng muốn đụng tay—, rồi mời mọc:
— Ăn đi em, keœo thức ăn nguội hết!
Đúng ra thì thức ăn đã lạnh tanh, tuy nhiên, lần đầu tiên trong đời Baœo nghiệm thấy được tình yêu cuœa vợ đã gói ghém tràn đầy trong việc tỉ mỉ chăm sóc bữa cơm cho chồng, nên thức ăn nguội lạnh mà tình lại nóng sốt nồng nàn. Baœo chợt hiểu thâm ý cuœa Thuận qua lời tán tỉnh vợ "thức ăn nào vợ nấu cũng ngon như đại tiệc caœ". Thì ra, nếu biết cách thươœng thức mình có thể nếm được hương vị thương yêu trong thức ăn, biến thức ăn tầm thường thành đại tiệc.
— Em làm thức ăn vừa ý anh quá! Chưa bao giờ anh ăn ngon như vậy!
Ngọc được chồng khen, sung sướng thấy rõ, nhưng chưa từng gặp trường hợp chồng thay đổi thái độ đột ngột "đầy âm mưu" như thế nầy, nên vẫn giữ thái độ yên lặng đề phòng.
— Em à! Hồi nãy, anh đến nhà anh Thuận bên Mỹ hòa Hưng chơi, thấy caœnh vợ chồng aœnh sống hạnh phúc, nên mới nghĩ lại chuyện vợ chồng mình. Vợ chồng mình bây giờ đã già rồi, liệu mình còn chung sống với nhau bao năm nữa? Tại sao mình cứ tạo chuyện gây khổ cho nhau mãi, để rồi đến ngày nào đó, khi một đứa đi vào lòng đất, đứa còn lại mới hối tiếc khóc than rằng đã không còn cơ hội nào để yêu thương săn sóc nhau nữa!
— Dạ!
Nghe vợ lên tiếng, Baœo biết lời hòa giaœi mình đã có kết quaœ phần nào, nên vội vã "tấn công""
— Nè em! Lâu nay anh lơ là không thăm viếng má quaœ là có lỗi! Vì vậy, anh định ngày mai, hai vợ chồng mình đi ra chợ mua mớ trái cây làm quà cho má!
Baœo làm lơ như không để ý đến nét mặt ngạc nhiên sưœng sốt cuœa vợ, tiếp tục nói:
— Sẵn dịp anh cũng muốn mua một mâm hoa quaœ về làm lễ tạ ơn.
— UŒa! Sắp nhoœ viết thơ về kể chuyện lễ Thanksgiving nhằm cuối tháng mười một, đã qua lâu rồi mà!
— Mình đâu phaœi là người Hoa Kỳ mà vật gà lôi làm lễ Thanksgiving! Họ nội anh theo truyền thống chi phái Phật giáo "Tứ Ân Hiếu Nghĩa", theo đó người con Phật phaœi làm lễ tạ ơn mỗi ngày để tươœng nhớ bốn ơn lớn:
— Ơn Phật và thầy tổ
— Ơn cha mẹ tổ tiên
— Ơn quốc gia xã hội, và
— Ơn nhân loại (6).
Tạ ơn là một phương thức nhắc nhơœ mình bằng lòng với cái hiện có, để khám phá được nguồn hạnh phúc ngay "bây giờ và ơœ đây" trong tầm tay cuœa mình. Anh bằng lòng với cái nhà, với tiện nghi hiện có và anh hạnh phúc, anh không đòi hoœi, không mong ước phaœi có nhà khang trang hơn, tiện nghi nhiều hơn để có hạnh phúc! Anh bằng lòng với hai đứa con hiếu thaœo và anh hạnh phúc tức thời chớ không cần chờ đợi hay đòi hoœi một số điều kiện khác về chúng như cấp bằng, địa vị... thì mới hạnh phúc. Cũng như thế đó, anh tạ bốn ơn lớn, đã ban cho anh hạnh phúc có được người vợ dễ thương như em...
Ngọc mềm nhũn người ra, nức nơœ:
— Em... em cũng caœm tạ Trời Phật đã ban cho em người chồng... người chồng đáng yêu, đáng kính như anh...
12/1995
____________
Ghi chú:
(1) Vua Trần Nhân Tông, xuất gia tại núi Yên Tưœ, với tự hiệu là Hương Vân đại đầu đà. Ngài là vị tổ đã sáng lập phái thiền Trúc Lâm Yên Tưœ. Ngài lưu lại rất nhiều tác phẩm:
— Thiền Lâm Thiết Chuœy ngữ lục
— Đại Hương haœi ấn thi tập
— Tăng già Toái sự
— Thạch thất mị ngữ
Pháp ngữ trong truyện ngắn đã được trích dẫn từ lời vấn đáp sau đây:
Một vị tăng hoœi đạo tổ Trúc Lâm:
"Thế nào là một việc hướng thượng?"
Sư đáp:
"Khiêng nhật nguyệt đầu gậy."
Hoœi tiếp:
"Dùng công án cũ mà làm gì?"
Sư đáp:
"Mỗi khi dùng đến, lại thành mới tinh..."
(2) Truyện Kiều câu 443, 444.
(3) Tươœng bây giờ là bao giờ
Rõ ràng mơœ mắt còn ngờ chiêm bao.
(Truyện Kiều câu 3013, 3014)
(4) Vô dang: vô duyên.
(5) Nguyên văn:
Túy trúc huỳnh hoa phi ngoại caœnh
Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân
(kệ cuœa Thuyền Lão thiền sư)
Dịch nghĩa:
Trúc biếc hoa vàng đâu caœnh khác
Trăng trong mây bạc, hiện toàn chân
(baœn dịch cuœa TT. Mật Thể)
(6) Theo truyền thống Phật giáo, tứ trọng ân gồm có: Ân quốc vương, Ân Tam Baœo, Ân cha mẹ, và Ân chúng sanh.
Chi phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa hình thành bơœi những phần tưœ yêu nước chống Pháp và chống chế độ quân chuœ hèn yếu chuœ bại, nên đã chuœ trương caœi tiến ơn quốc vương thành ơn quốc gia xã hội. Ngoài ra, để giới bình dẫn dễ hiểu, ân chúng sinh được thành ân nhân loại.